Phía Đông tỉnh Quảng Trị, dải Trường Sơn đổ dài về phía đồng bằng, tạo nên một dải đất bằng phẳng chen lẫn những hòn đá khá lớn, gọi là miền bán sơn địa. Một dự án của Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hữu Bài là đưa dân Quảng Trị tiến lên khai phá miền bán sơn địa ấy bằng cách những nhóm người của mỗi làng ở đồng bằng lại lập nên một làng nhỏ tương đương với làng ở đồng bằng, gọi là phường. Ông chú tôi, một vị quan tri huyện về hưu, có lập nên phường Phúc Khê, người Quảng Trị quen gọi là xóm Bà Huyện, gần xóm Cây Khế của cụ Thượng Bài. Cụ quan tâm đến sản xuất về kinh tế nên sơn trại Cây Khế phần nhiều trồng chè còn ông chú tôi góp nhặt một số nông dân không có đất sản xuất ở làng lên phường Phúc Khê làm ruộng nước ở những thung lũng; ở đó, đất mềm và có nước từ những con suối lớn đổ vào. Cha tôi làm một ngôi nhà ở gần vườn ông chú tôi, ngay giữa lòng thung lũng Súc Vạn. Chính ở đây, tôi đã học những bài học thơ mộng của thiên nhiên và tôi nghĩ rằng thiên nhiên có thể giải thích nhiều điều về cuộc đời mà ta không hiểu được. Thí dụ, bên hè phòng tôi ở có một cây ngâu lâu năm mà tôi thường trèo lên ngồi vắt vẻo để ngắm những chùm hoa đang hé nở của nó lúc cuối buổi chiều. Sau này, tôi được dịp nhìn ngắm nụ cười trong bức tranh La Joconde của Leonard de Vinci tại Viện bảo tàng Lourve ở Paris. Tôi lấy làm lạ vì nụ cười ấy có cái gì bí ẩn, nghĩa là nó như có như không, và bất cứ ta có tâm trạng nào thì nó (nụ cười ấy) lại như thoáng qua chia sẻ với tâm trạng của chính ta. Và tôi chợt nhớ đến cây ngâu ở xóm Bà Huyện lúc nhỏ. Rằng, cây ngâu cũng có nụ cười thoáng qua như La Joconde; rằng, suốt ngày hoa ngâu cứ câm nín trong từng chấm nhỏ như vậy đến lúc chiều tối, nó chợt hé nở. Lúc này, nếu nhìn lướt qua, ta không thể nào thấy được nụ cười của cây ngâu; nhưng nhìn kỹ ta mới thấy những đóa hoa ngâu bé xíu đang nở ra và nhìn thoáng qua thật nhanh, ta thấy toàn bộ cây ngâu đang mỉm cười với ta. Thảo nào người ta nói: “Miệng cười như thể hoa ngâu…”
Phía sau lưng căn nhà mới của ba tôi ở hác Súc Vạn, cách khoảng 15 phút đường rừng là khu mộ của những vị cố người thân của ông huyện (sau này được đưa về làng). Khu mộ ấy là khu vực ông tôi cho trồng dương liễu; và vì thế đã trở thành một khu vực yên tĩnh và im mát mà tôi thường dùng để nằm đọc sách. Tôi nhớ, thường giữa buổi sáng, các bạn trẻ mục đồng thường xua bò để ăn ở bên bờ suối Súc Vạn, và kéo nhau vào chỗ tôi, thỉnh thoảng lại cho tôi cưỡi những con bò thuần dưỡng nhất của chúng và dạy cho tôi phương pháp cưỡi bò. Tôi đã từng ngồi chễm chệ trên lưng một con bò to khỏe tên là bò Mởn đi dọc suối Súc Vạn, y như người ta cưỡi ngựa. Thường thì thú đọc sách này được kèm với những chuyến về thăm làng của ba tôi: ở làng, anh Chỉ con bác tôi có một rương gỗ đựng đầy những quyển sách hay từ các nơi đem về bán trên tỉnh, anh Chỉ tôi mua đều đều và đựng đầy một rương gỗ. Tôi theo ba tôi về làng, và được phép lục ở tủ sách anh Chỉ để chọn lấy những quyển sách mà tôi đọc. Lần ấy, tôi chọn mang về một chồng đầy tay những cuốn sách hồng viết cho thiếu nhi gồm những tác giả được yêu thích tên là Tô Hoài, Thâm Tâm, Xuân Diệu… Tôi thích nhất là những cuốn sách Tô Hoài viết cho thiếu nhi về loài vật như quyển “Con chim Gi Sừng”, “Dế Mèn phiêu lưu ký”. Ngoài ra còn có tác giả Lý Văn Sâm viết về những nhân vật yêu nước đi theo kháng chiến từ hồi Cách mạng Tháng Tám và làm nên những sự nghiệp kỳ lạ mà tôi không hiểu vì sao lại được phép xuất bản một cách công khai ở những thành phố lớn bị chiếm đóng. Riêng quyển “Dế Mèn phiêu lưu ký” đã để lại trong tôi hai ấn tượng sâu sắc, một là tình yêu đối với loài vật và thứ là tình bạn giữa Dế Mèn và con Dế Dũi. Còn Lý Văn Sâm là người ở đâu phía Sài Gòn, là tác giả của một chuỗi truyện thiếu nhi, mở đầu bằng cuốn “Thù nhà nợ nước” và đánh thức cho tôi tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu nước. Sống giữa một khu lăng mộ, lim dim mắt trong tiếng thông reo, hoặc thỉnh thoảng nhìn qua kẽ lá ngắm những cánh rừng bạt ngàn hoa sim tím, tôi đã ngấu nghiến hết những cuốn sách của Tô Hoài và của Lý Văn Sâm để tiếp theo, quay về lại rương sách của anh Chỉ. Anh Chỉ chơi đùa với tôi rất ăn ý. Giữa những đêm khuya trăng sáng, anh thường đến bên cửa sổ và gọi lay tôi chạy đi theo anh ra hà dâu để bắt dế, những con dế mèn mà tôi sẽ đem về nuôi trong hộp sắt để hội nhập vào trò chơi đá dế của bọn trẻ con giống như người ta đá gà. Tôi còn nhớ, thường lũ bạn bè giữ bò ở khu mộ cổ hái đem về cho tôi những cành sim nặng trĩu những trái chín mà tôi sẽ ăn bằng cách cắn như những trái còn ở trên cành; hoặc những con rầy muồng tham ăn hút say sưa trên những buồng muồng chín. Thứ này, bọn trẻ chăn bò của tôi đem nướng và ăn ngon lành, thơm ngát như mùi mực nướng. Trong lũ bạn mục đồng, tôi thích nhất là một cậu bé tên Chấu có hai bàn tay làm gì cũng được. Khoảng giữa trưa, do đi chăn bò, Chấu báo với tôi có một con chim sả kiếm ăn ở hác Súc Vạn và Chấu thấy cần bắt một con dế để làm mồi cho cái cần làm bẫy. Chiều hôm ấy, cây bẫy đã làm xong và Chấu quay ra ngoài hác Súc Vạn. Khoảng cuối buổi chiều, Chấu quay lại khu mộ mang về con chim sả vừa bẫy được. Ôi con chim có bộ lông xanh mượt đang sống tự do trong thiên nhiên, chẳng may lọt vào con mắt tinh đời của Chấu, và khoảng chưa đầy một ngày đã lọt vào bàn tay của Chấu. Cũng chỉ độ mười ngày sau, chơi chán, nghe theo lời năn nỉ của tôi, Chấu đã thả con chim quay trở lại với thiên nhiên, thăm thú dòng suối Súc Vạn và bay về phương trời nào tôi không biết. Trong không khí nô nức của Cách mạng Tháng Tám, Chấu làm một bộ gươm bằng tre đem tặng tôi để phân phát cho các bạn bè thuộc giới khác theo làn sóng đang lên của phong trào.
Cổng làng Bích Khê - quê hương của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tôi thấy cần phải giới thiệu đầy đủ hơn về thôn Khê Bội ở Quảng Trị, nơi mà tôi đã sống qua những ngày thơ dại rất thơ mộng, nơi đã in sâu trong hồn tôi dấu ấn của thiên nhiên và những cá tính khác nhau nơi con người. Nơi đó, là một nơi sinh sống, nuôi dưỡng cả tâm hồn tôi và không chừng cũng là yếu tố quan trọng phát triển cho tôi nghề cầm bút sau này.
Thoạt đầu, bến đỗ của gia đình tôi ở Quảng Trị là ngôi nhà của ông chú tôi.
Đấy là một ngôi nhà rường bằng gỗ mít, với những tấm vải dài thay thế quạt máy, nối liền với một sợi dây để vận hành bằng cách nối liền với một tấm vải mà tôi cho là rất “hiện đại”. Nhà ông tôi ở giữa một khuôn viên rộng có phần trước dùng để trồng hoa, phía gần sân nhà có một cây ngọc lan lâu năm, lan tỏa một mùi hương thơm ngát và ngọt dịu, giống như một nhà thơ dân gian nổi tiếng trong vùng. Người ở xa đến, nghe mùi thơm hoa ngọc lan phảng phất quanh mình mà không nhìn thấy bóng dáng của nó ở đâu. Còn có một cây gội trông giống hệt cây ngọc lan, mà ông tôi gọi là cây hoàng ngọc lan. Lũ chim rừng ở vùng này rất mê ăn trái gội, không biết chim ở đâu, tôi có theo dõi thì thấy chúng bay về hướng phường Hiệp Khế của cụ Thượng Bài. Cây ngọc lan thì vậm vỡ giống như cây đa, và ông tôi thường sai tôi trèo lên hái hoa xuống chất đầy những chiếc dĩa sứ đặt trên tran để thờ Phật. Thường ngày, vào lúc nhá nhem tối, mùi hương ngọc lan tỏa ra khắp nhà khiến tôi thấy ngọt ngào dễ chịu và bí ẩn như một nơi thờ tự. Phía ngoài cổng nhà có một con đường xuyên xuống dưới đồi và những cây dương liễu mà lũ chim công thường chọn làm chỗ ở. Nhìn từ xa, người ta thấy cái bóng của chúng đang bay về phía hàng dương kéo theo những chiếc đuôi lớn ở đằng sau giống như chiếc thìa. Ông chú tôi xem lũ công như những gia cầm, thường cấm lũ con trong nhà không được bắn ná vào chim công. Ông quả là một nhà bảo vệ núi rừng rất quyết liệt, luôn luôn có một khay trà đặt trên một chiếc chõng tre trước hiên nhà, và một cuốn Tam quốc bằng chữ Nho lật quặt lại đặt cạnh và luôn luôn khoe với bạn bè rằng ông sắp hóa bướm giống như Trang Tử. Chỉ tội tôi ngây thơ, cứ rình rập hoài lúc ông ngủ trên cuốn sách để xem cho được ông tôi hóa bướm thực như thế nào. Và một hôm, thằng em tôi chạy ra vườn tìm tôi, nói nhỏ rằng ông chú tôi đã hóa thành con bướm ngang tận cổ.
Qua mùa xuân, gia đình tôi rời khỏi nhà ông chú về sống ở khu nhà mới làm giữa hác Súc Vạn. Ba tôi bị bệnh phù thủng nên mặt và hai bàn chân sưng phù lên, không có thuốc chữa, mẹ tôi lại phải buôn bán nuôi gia đình và tôi quay lại với chỗ đọc sách của tôi ở khu lăng mộ.
Ở đây, vào giữa buổi đọc sách, những bè bạn mục đồng của tôi lại kéo đến, rủ tôi đi dạo chơi quanh co trong rừng, hoặc bắt cá dưới suối Súc Vạn và nhen lửa bên suối ngồi nướng ăn. Mùa xuân, khí trời mát mẻ, nhưng rừng vắng lặng, ít có hoa trái gì, chúng tôi chỉ hái được những chùm trái bông trang còn sót lại của mùa đông, hoặc những chùm móc ăn tím nhắt cả miệng lưỡi. Mùa hè là mùa thiên nhiên tỏ ra hào hiệp nhất đối với chúng tôi, đặc biệt là trái sim chín dày đặc cả núi rừng; cứ mỗi bước đi là gặp sim chín; chen lẫn với chúng là những bụi muồng đầy gai với những buồng trái chín mọng ăn ngọt lịm, và những con rầy muồng, mê man cắm vòi vào những buồng trái chín tha hồ cho chúng tôi nướng ăn hào hứng như những bữa tiệc rừng. Mùa thu, không có cây trái gì mới lạ. Chúng tôi chỉ đi săn lùng những trái cây còn sót lại của mùa hè. Lúc này, chúng trở nên lớn mẩy lên và ngọt khác thường, ví dụ như trái sim, trái muồng hoặc trái gai bốm…
Sang mùa đông trời mưa gió, “thư viện” của tôi ở khu lăng mộ phải tạm ngưng hoạt động và rút lui vào nhà chờ mùa xuân. Mùa đông rừng chỉ có nấm mối, suốt ngày tôi vẫn nhìn thấy những đoàn người ở những làng chung quanh kéo đi trong rừng tìm nấm, thỉnh thoảng dừng lại trước một bụi cây lớn như cây muồng để tìm cách đào bới những đám nấm mối vừa nhú lên khỏi mặt đất như những chú lính đội mũ đồng. Nấm mối ở vùng rừng này rất nhiều, nhiều khi chúng đầy nửa thúng và những người tìm nấm tự động kéo vào nhà tôi lấy một chiếc xoong lớn, cùng với mấy lon gạo góp phần của mẹ tôi, họ nấu một xoong cháo nấm ngọt sắc ăn rất tuyệt vời vào mùa đông. Tôi cũng không ngờ nấm mối ăn ngon đến thế. Chỉ mới vài tai nấm mối, gói bằng lá chuối, đem nướng, tôi đã được một gói lớn, ăn ngon như thịt gà.
Tôi đã sống ngắn ngủi với cánh rừng Khe Bội và đã giữ lại một kỷ niệm rất trìu mến về tuổi ấu thơ của tôi và cảm thấy thiên nhiên là một bà mẹ hiền rất ân huệ đối với con người, đến nỗi, sau này, mỗi khi gặp những điều thất vọng ở đời, tôi lại mơ về những ngày tháng rất êm đềm cùng những người bạn mục đồng nơi cánh rừng của tôi.
Tiếp theo là những ngày rục rịch không khí chiến tranh. Nhiều lính Nhật đã thoáng bóng ở chợ tỉnh, những trai tráng đã tòng quân lên đường và nhiều gia đình đã dời lên Ba Lòng là khu kháng chiến của vùng Quảng Trị. Thôn xóm đã thưa hẳn bóng người. Ông tôi đã qua đời trong chiến tranh. Ông có thêm ba cô con dâu nữa, nhưng vẫn thích ở với mẹ tôi, mặc dù không nuôi nấng ông phong phú như những bà thím, bà bác của tôi. Tôi nghe ông tôi bảo rằng mẹ tôi là một nàng dâu thảo. Mộ của ông rất đơn giản so với vị trí của một vị hưu quan. Lúc mai táng, chỉ có mấy người ở trong gia đình tôi. Mộ ông tôi chỉ là một mô đất trong một cánh rừng hoang mà những đêm trăng, tôi thường ra đứng ngoài hè nhìn những đàn thỏ rừng nhảy múa. Ít lâu sau, khoảng nửa năm, gia đình tôi di chuyển về phía đồng bằng, tạm sống ở làng Bích Khê của tôi. Và ba tôi lại vào Huế, đi làm việc trở lại ở sở xe lửa dưới chính quyền Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai và người Việt Nam đã tiếp tục cuộc kháng chiến.
Làng Bích Khê được thành lập từ hồi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam ở thế kỷ XVI. Tổ tiên tôi ngoài bắc ở làng Hồng Khê, thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Con cháu di dân theo chúa Nguyễn vào Quảng Trị lập làng mới. Vừa rồi, nhân chuyến về thăm làng, chú em tôi là Hoàng Phủ Ngọc Phan có đi loanh quanh lên miệt Cam Lộ, đã phát hiện thêm rằng có hai anh em cùng ở Bắc đã vào Nam lập ra hai làng khác nhau. Làng Bích Khê là của người anh, còn làng ở Cam Lộ là của người em. Bấy giờ ở đấy, con cháu họ Hoàng tất cả đều làm nông nghiệp, làm ăn khá giả nhưng về học hành thi cử thì không có gì đặc biệt. Các nhà đều có sản nghiệp thịnh vượng, khác với họ Hoàng ở làng Bích Khê (làng tôi) theo nghề khoa cử, có tham gia quan trường nhưng tất cả mọi gia đình họ Hoàng đều nghèo khó.
Làng Bích Khê ở huyện Triệu Phong là một làng vùng ven, có dòng sông Thạch Hãn chảy qua, và có dòng chảy dồn về làng tôi. Làng Bích Khê bị bồi lấp theo dòng sông rất nặng nề; cả bãi cát dài dọc bờ sông, vốn dùng để trồng dâu nuôi tằm cũng bị lấp gần hết. Hậu quả là đất của làng Bích Khê bị chìm nghỉm xuống lòng sông Thạch và chuyển dần qua làng Trung Kiên ở phía bên kia sông, theo mỗi mùa nước cuốn. Cứ đà như thế này thì làng Bích Khê có cơ bị xóa sạch, và nhà thờ họ Hoàng, khác với nhà thờ “chi” nguyên trước kia nằm lùi xa trong khu dân cư, nay chỉ còn cách bờ sông 500m. Vừa rồi, Ủy ban tỉnh Quảng Trị đã cho xây kè để bảo vệ bờ sông làng Bích Khê nhưng cũng chỉ mới được một đoạn, và bờ sông làng tôi tiếp tục bị xâm thực. Câu chuyện tranh giành đất đai giữa hai làng Trung Kiên và Bích Khê đưa đến biến cố đánh nhau đổ máu trên dòng sông là vở bi kịch sẽ còn kéo dài không biết đến bao giờ.
Chùa Hồng Khê, làng Bích Khê
Dân làng còn truyền lại rằng quanh tấm thảm kịch ấy có vai trò người em ruột của cố tôi là cụ Hoàng Hữu Bỉnh. Ông này cũng đỗ cử nhân, ra làm quan, về hưu ở làng. Nhân đấy, ông thay mặt làng Bích Khê viết đơn khiếu nại với vua về việc làng Bích Khê bị dòng sông Thạch Hãn lấy dần đất và bồi sang làng Trung Kiên hàng năm, nay dân làng xin vua, buộc làng Trung Kiên phải trả lại đất cho làng Bích Khê. Nhờ có văn tự lưu loát, nghĩa lý chính đáng, lý sự rõ ràng mà phía Bích Khê thắng kiện, bảo vệ được làng suốt một thời gian lâu dài. Dân làng còn truyền tụng rằng đó là một việc nghĩa mà người họ Hoàng đã cống hiến cho làng Bích Khê.
Hiện họ Hoàng gồm có một nhà thờ họ và một nhà thờ chi trong làng, cả hai trước đó đã bị san phẳng bởi bom đạn Mỹ hồi giải phóng Quảng Trị. Dân họ Hoàng cũng ra Bắc vào Nam hết sạch, chỉ còn một vài nhà, hai ngôi nhà thờ được con cháu dựng lại khang trang, nhưng đồ thờ tự mất sạch.
Cuối làng Bích Khê nhìn qua bên Trung Kiên có một bến đò ngang mà người làng quen gọi là bến đò Mụ Cổ. Tôi thường xuống tắm ở bến sông này trong những buổi chiều đi học về. Lúc đó các bạn trẻ giữ bò thường cho tôi đứng trên lưng bò lội từ giữa sông vào bến.Tôi thường đứng thẳng trên lưng bò, miệng thổi một chiếc kèn to quấn bằng lá dứa dại ở bên sông. Hoặc có những buổi tôi lội một quãng xa đến trúng một chiếc am, trèo trên mái thổi kèn hoặc mò từ các ngóc ngách những con ốc gạo về luộc ăn rất ngon; ốc gạo khá nhiều và vẫn thường có bán ở các chợ.
Bến đò Mụ Cổ đến nay vẫn truyền tụng chuyện mấy cụ họ Hoàng đánh nhau với Tây. Nguyên có mấy ông cha đạo người Pháp đi truyền giáo vẫn hay qua lại bến đò này. Lần ấy, có một ông họ Hoàng qua đò bị một ông cha đạo cấm nói cười làm họ chói tai. Ông họ Hoàng trở cán dù kéo cổ ông cha đạo rơi cái ùm xuống sông. Lần khác, ông cụ người làng cũng dùng cán dù gõ thẳng vào đầu người Pháp. Dân trong đò vỗ tay rần rần. Ông cha đạo dùng ngón tay hăm dọa nhưng ngày mai lại, viên hương quan họ Hoàng đã ngang nhiên xin về nghỉ hưu, tuổi già vui với cây cỏ hoa trái trong vườn.
Sau chiến tranh, thỉnh thoảng tôi đã từ Huế về thăm lại làng. “Con đường xưa đi học” của tôi (hồi tôi học lớp nhì) giờ đã ngủ yên dưới đáy sông. Một vài am miếu ở làng tôi giờ đã giạt sang làng đối diện giữa những bãi đất rộng và cả con chuồn chuồn ớt hay đậu trên hàng rào tre lúc tôi đi học về cũng đã bay về phương trời nào không biết.
Mộ ông tôi chôn ở bãi Nương Âm trong làng. Có một tấm bia lớn ghi tên họ tôi và những người anh con bác tôi (những người anh này hiện nay đều sống ở Sài Gòn). Tôi về làng, một mình đứng trước tấm bia đá ghi tên tôi. Mộ ông thì ở đây, trong khi các con cháu đều bị cuốn hút vào chiến tranh, và phiêu linh khắp các phương trời. Cả làng Bích Khê chỉ còn lại vài ba cụ già họ Hoàng, mà những con trai đều đã đi ra Bắc hoặc lên đường vào quân đội thuộc cả hai phía. Đêm tối lù mù sau những lũy tre, chỉ còn ánh đèn dầu thắp sáng, cũng chỉ những bà cụ ngồi mong con trong tiếng pháo nổ ì oàng tới những bờ tre xa. Chiến tranh ở nông thôn sao mà nặng nề! Nghĩ thật tội nghiệp cho những tuổi già côi cút.
Bến đò làng còn giữ cho tôi những kỷ niệm thời thơ ấu, kể cả việc lặn mò bắt ốc gạo dưới sông, việc đứng thổi còi trên lưng bò qua sông, hay việc ngụp lặn đuổi bắt trên các bến bãi trồng dưa hấu và việc cùng lũ bé trần truồng bơi vượt qua những con sông vỗ ào ạt trên mặt nước sông làng. Tôi chỉ sống ở làng quê khoảng một năm rưỡi, còn lại cùng gia đình tôi sống ở Huế. Vậy mà một hôm đi thăm mộ với bên ngoại ở Nam Giao, tôi nhìn theo tay một người chỉ về một ngấn núi xa xanh ở chân trời và bảo đó là quê tôi ở Quảng Trị, chợt nhiên tôi thấy động lòng, sa hai hàng nước mắt.
Ôi, quê hương…!
H.P.N.T





