Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Quê hương "ăn cơm bữa diếp"

T

ôi về Vĩnh Kim, được các cụ ở đây kể cho nghe một câu chuyện rằng: Trong thời kháng chiến chống Pháp, hôm ấy có một đơn vị thuộc trung đoàn 95 Quảng Trị về Thủy Cần, ghé vào nhà bà Kỉnh mượn bếp thổi cơm trưa. Khi cơm chín dọn ra, mấy chú bộ đội thấy hai đứa bé của chủ nhà gầy gò, ở trần như nhộng cứ thập thò ngoài cửa tỏ vẻ nhìn thấy cơm thèm ăn lắm. Mấy chú bộ đội hỏi mượn thêm bát và gọi hai cháu nhỏ vào ăn, đúng lúc đó mẹ hai cháu ập đến, giữ hai cháu nhỏ lại và từ tốn nói:

- Các chú cứ vào ăn đi, hai đứa nó mới ăn bữa diếp rồi mà.

Bà kéo hai đứa nhỏ đi không cho thập thò trước cửa nữa, để các chú ăn tự nhiên.

Thì ra, như các cụ giải thích: Ăn cơm bữa diếp, tức là đã ăn cơm từ ngày hôm kia (cách đây ba ngày rồi). Vậy là các cháu đang đói nhưng bà Kỉnh biết bộ đội cũng đang đói, không nên đụng tới phần cơm của họ.

Thực chất nồi "cơm bữa diếp" là ba ngày nhà mình mới có một bữa cơm. Nồi cơm ấy toàn sắn, chỉ hấp lên trên một lon gạo. Cơm chín dọn ra, trẻ con và người già thì được ăn một bát cơm còn cả nhà ăn sắn, mỗi miếng dính vài hạt cơm thôi.

Lòng dân Vĩnh Kim yêu quý bộ đội và thể hiện lòng tự trọng của mình là như vậy đó. Cụm từ "ăn cơm bữa diếp" đã trở thành một thành ngữ sang trọng của Vĩnh Kim rồi của cả Vĩnh Linh. Nói tới "ăn cơm bữa diếp" là người ta nghĩ ngay tới tấm lòng của vùng đất Vĩnh Kim này.

Dân Vĩnh Kim nghèo "ăn cơm bữa diếp" mà thật là đáng quý. Dân Vĩnh Kim ngày ấy nghèo lắm. Những ngôi nhà tranh chỉ lớn hơn cái lều một chút. Đói vậy, đất đỏ ba-zan nhưng người dân chủ yếu sống bằng khoai sắn. Kỹ thuật canh tác lạc hậu, công cụ thô sơ, năng suất thấp lại thường xuyên bị thiên tai. Dân đem sản phẩm của mình thu hái được đi chợ Do, chợ Huyện, chợ Đông Hà, rồi vào Huế, ra Quảng Bình nhưng thu nhập chẳng được là bao. Đời cha đã nghèo, đời con lại nghèo, nhiều người đã bỏ quê hương lang thang cầu thực. Mãi tận năm 1954 cải cách ruộng đất, mới biết có nhiều gia đình ở Vĩnh Kim hai vợ chồng dùng chung một cái quần dài. Ai có việc ra khỏi nhà mới được mặc chiếc quần đó. Còn ở nhà thì mặc sao cũng được. Có những cái áo dầy cộp bởi hàng chục, hàng trăm mảnh vá chồng lên nhau. Đến như làng Thủy Cần đặt tên làng của mình như vậy chỉ vì một khát khao dân ở bên bờ biển đang cần nước ngọt.

Vĩnh Kim chìm trong cảnh nghèo không mở mắt ra được, thì thực dân Pháp lại kéo quân về đóng đồn ở Thủy Cần. Pháp dùng chính sách "Tam quang": đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Chính sách man rợ của kẻ thù càng làm cho Vĩnh Kim tiêu điều, xơ xác. Nhiều làng mạc bị đốt cháy, nhiều cánh đồng bị bỏ hoang. Dân không quên cảnh anh Nguyễn Đức Thả, du kích, bị bắt về đồn tra tấn, xong bắn chết. Chúng chặt đầu ông Nguyễn Hữu Anh rồi đem bêu đầu tại chợ Cần, ông Nguyễn Đức Hành, bị bắn chết vất xác xuống biển. Đau nhất là chị Lê Thị Thơm rơi vào tay giặc. Chúng dụ dỗ không được thì tra tấn cực hình, chị Thơm không khai, chúng đã thay nhau cưỡng hiếp chị, rồi cắt vú, xẻo tai, thọc dao găm vào cửa mình chị. Chị đã chết trong đồn thù ở tuổi 20.

Tuy vậy Vĩnh Kim vẫn là địa bàn kiên cường. Tiểu đội Nguyễn Đức Bắc đã bao vây đồn Thủy Cần. Hết thức ăn, chúng phải giết cả con chó béc-giê để giữ sức, rồi chúng chạy ra Vịnh Mốc, thoát thân bằng tàu thủy từ đồn Thừa Lương lên ứng cứu.

Súng đạn và sự tàn ác của giặc không dập nổi lòng căm thù của người dân, dân Vĩnh Kim càng thức dậy lòng yêu nước, tham gia kháng chiến đến cùng, đúng như báo cáo tổng kết của Đảng ủy Vĩnh Kim: "Chấp hành đường lối, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, cán bộ, nhân dân Vĩnh Kim đã đoàn kết trăm người như một, vượt qua mọi gian nguy, thử thách, từ phòng ngự trước sức mạnh của địch, tiến lên cầm cự. Rồi cuối cùng cùng cả nước tổng phản công, thừa thắng xông lên đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của địch".

Hiệp định Pa-ri ký xong chưa ráo mực, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước đã trắng trợn tuyên bố: "Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến tận Vĩ tuyến 17" và điên cuồng hò hét "Lấp sông Bến Hải, Bắc tiến". Thế là Vĩnh Linh trở thành nơi đối đầu lịch sử giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng và dĩ nhiên thành tiền tuyến của miền Bắc và hậu phương trực tiếp của miền Nam. Nằm trong tình thế ấy, muốn hoàn thành nhiệm vụ mới của mình, Vĩnh Kim phải mạnh lên.

Một câu hỏi chát chúa đặt lên đầu cán bộ và nhân dân xã Vĩnh Kim là: mình làm thế nào để mạnh lên đây? Vừa bước ra khỏi chiến tranh gần như dân Vĩnh Kim chỉ còn hai bàn tay trắng, đồng đất đang còn gai góc, đầy manh mún, mạnh ai nấy làm, phương tiện đang còn thô sơ, ai cũng lo. Đúng lúc ấy nhà nước tung ra chủ trương: xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Có đường lối mới trong tay, Vĩnh Kim như bắt được vàng: 12 thôn của Vĩnh Kim lập ra 12 hợp tác xã, rồi 12 hợp tác xã tập hợp lại thành một hợp tác xã cao cấp. Hợp tác xã cấp cao duy nhất của miền Bắc lúc bấy giờ, đó là hợp tác xã cao cấp Vĩnh Kim.

Hợp tác xã cao cấp Vĩnh Kim làm ăn danh tiếng tới mức không ngờ là được Bác Hồ tặng cho một chiếc máy cày.

Gặp ông Nguyễn Đức Anh cán bộ lão thành của Vĩnh Kim năm nay đã 71 tuổi, tôi hỏi:

- Vĩnh Kim đã lập được những thành tích gì mà được Bác Hồ tặng thưởng cho chiếc máy cày vậy?

Dù tuổi đã cao, ông Nguyễn Đức Anh vẫn rất tỉnh táo kể cho tôi nghe:

- Chuyện cũ đã gần nửa thế kỷ rồi, làm sao mà nhớ hết. Phải cám ơn khẩu hiệu: "Toàn dân đoàn kết" mà Bác Hồ kêu gọi đã tạo nên sức mạnh của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nay cán bộ và nhân dân vẫn thương yêu nhau, rất hợp với xu thế làm ăn tập thể. Chỉ có đồng lòng mà không có chống đối. Mọi người kết với nhau thành một khối thống nhất, vai kề vai, cứ thẳng phía trước mà tiến lên. Bài hát "kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang" bao giờ cũng vang lên trong mỗi cuộc họp mang tính cộng đồng. Một trong những việc trọng yếu trong thời gian này của chúng tôi là nâng cao dân trí toàn dân. Đời nghèo khổ, lại làm nô lệ, có được học hành gì đâu. Bây giờ chúng tôi ý thức được rằng "Bất học bất tri lý", nghĩa là không học thì không biết gì. Lênin đã dạy "Có tri thức thì có cách mạng". Rõ ràng nâng cao dân trí là một trọng trách. Chính vì vậy xóm làng nào cũng mở lớp học bổ túc. Để đánh thức lòng tự trọng của dân, chợ nào cũng có cổng "sáng" cho người biết chữ đi qua, cổng "mù" cho người chưa biết chữ đi qua. Chỉ bốn năm sau Vĩnh Kim hết người mù chữ anh ạ. Báo chí, sách vở đã cầm tay người dân Vĩnh Kim đưa vào cuộc mở đời. Nhờ nông dân có tri thức, việc quy hoạch đất đai rất dễ dàng. Đất tốt dành cho sản xuất, người đưa lên đất cao ở. Anh biết không, chỉ trong hai năm chúng tôi đã di đời được 376 hộ và chuyển dịch chỗ ở cho 85 hộ. Đất đai quy hoạch đâu vào đấy, chúng tôi bàn chuyện làm giàu cho dân. Tất cả dân Vĩnh Kim đều hưởng ứng. Chúng tôi đi mời mấy kỹ sư nông nghiệp về giúp quy hoạch đất, dân tin lắm. Nhờ đất được phân loại rõ ràng, vùng đất "ăn cơm bữa diếp" ngày xưa độc canh sắn khoai, bây giờ trồng lúa, chè, dong, cà phê, mới đây trồng thêm cao su. Hai mặt hàng miến dong và chè búp của Vĩnh Kim có mấy bán cũng hết. Đời sống nhân dân được nâng cao. Vĩnh Kim bây giờ cứ ba người thì một người cắp sách đến trường, anh thấy đã chưa. Cán bộ với dân gắn với nhau như người trong họ, đủ thấy tình đoàn kết của Vĩnh Kim như thế nào. Nếu tôi nhớ không lầm thì trong hai năm 1970 - 1971 bình quân mỗi năm Vĩnh Kim trồng được 45 héc-ta khoai sắn, 50 héc-ta lúa, 12 héc-ta chè, 4 héc-ta tiêu, 800 con lợn, 300 con trâu bò... Hợp tác xã cao cấp Vĩnh Kim đến tai Bác Hồ là phải. Bác cho mời anh Phan Toàn ra hỏi tình hình. Trong chuyến đi từ Hải Phòng về, gặp ruộng lúa bên đường úa vàng. Anh Phan Toàn nới với Bác: "Lúa bị sâu đục thân", rồi anh xuống bứt một cây lúa tách ra cho Bác xem. Bác khen lắm, đúng là người cán bộ đi sát dân, hèn chi nói dân nghe là phải. Chuyến ấy Phan Toàn về, Bác gửi máy cày vào tặng cho Vĩnh Kim. Chiếc máy cày ấy bây giờ đang trưng bày ngoài Nhà truyền thống Vĩnh Kim, anh ra mà xem.

Ông Nguyễn Đức Anh cười ha hả:

- Kết quả rực rỡ của hợp tác xã cao cấp Vĩnh Kim thế nào anh biết không? Năm 1977, Vĩnh Kim được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

Thật không ngờ vùng đất "ăn cơm bữa diếp" lại có những ngày vẻ vang như thế.

Ông Anh vào trong buồng bưng ra một thẩu rượu sâm mà người con đang làm việc tại Hàn Quốc gửi về bồi dưỡng sức khỏe cho ông:

- Nào, chúng ta uống một ly mừng cho Vĩnh Kim của chúng ta.

Không khí vui vẻ vút cao, không dừng được, chúng tôi cụng với nhau bốn ly liền. Khỏi nói đời sống của người dân ba ngày mới có một bữa cơm sắn, bây giờ là như thế nào.

Nếu không có chiến tranh chắc chắn ngọn cờ lao động sản xuất của Vĩnh Kim sẽ bay phấp phới. Song Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc, là hậu phương trực tiếp của miền Nam nên Vĩnh Linh trở thành mục tiêu đánh phá của kẻ địch. Nhất là sau khi Mỹ dựng lên sự kiện "Vịnh Bắc Bộ", dùng không quân và hải quân leo thang đánh phá miền Bắc thì Vĩnh Linh là một mục tiêu oanh kích của chúng. Chỉ riêng tháng 2, tháng 3 năm 1965, Mỹ đã huy động 615 tốp lính với 1.421 lần chiếc máy bay phá hoại nhiều mục tiêu ở Hồ Xá, Bến Quan, nông trường Quyết Thắng,... đồng thời bịt chặt đường tiếp tế của ta ra Cồn Cỏ. Vĩnh Kim là một trong những mục tiêu ấy. Bom đạn dội xuống đủ kiểu: bom phá, bom đào, bom bi. Pháo từ ngoài hải đội bắn vào, pháo từ bên kia cầu Hiền Lương bắn sang.

Suốt 8 năm chiến tranh phá hoại, bom đạn Mỹ chà xát Vĩnh Kim từng ngày. Toàn xã có 450 nóc nhà, sau chiến tranh chỉ còn lại 4,5 cái không nguyên vẹn. Từ 1965 đến 1972 giặc Mỹ đã trút xuống Vĩnh Kim 80.000 quả bom tạ, 192.000 quả đạn pháo, hơn 1 triệu quả bom bi, rốc-két, với 1.684 lần chiếc máy bay chiến thuật, 74 lần máy bay B52, 491 lần bắn pháo. Bình quân mỗi người dân phải đội trên đầu mình 9,6 tấn bom đạn, 1 héc-ta đất phải chịu tới 280 quả bom đạn. Vĩnh Kim có tới 216 người chết, 138 người bị thương, 820 con trâu bò bị giết, hàng trăm ngôi mộ tổ tiên bị bom Mỹ hất hài cốt đi các nơi.

Bom đạn ngần ấy mà Vĩnh Kim vẫn bám trụ kiên cường. Mỗi người dân khi cầm cày là nông dân, khi cầm súng trên tay là người chiến sĩ. Không tồn tại trên mặt đất được, dân Vĩnh Kim chui xuống đất giữ làng. Nhà nhà làm hầm chữ A, đi lại trong thôn xóm bằng giao thông hào. 12 làng đào 12 địa đạo. Địa đạo sâu tới 30 mét, đường địa đạo rộng 1 mét, cao 1,3 mét. Với quyết tâm "một tấc không đi, một ly không rời", tính đến cuối năm 1968 Vĩnh Kim đã đào và tu sửa 30 cây số đường hào, đào 14 địa đạo, 1.200 hầm chữ A, 90 hầm trú ẩn cho trâu bò. Học sinh vẫn đến lớp đều đều, lớp học của các em dưới địa đạo, song mỗi lớp chỉ có 15 em thôi. Bởi địa đạo không thể mở rộng hơn được.

Chiến tranh ác liệt quá, một số địa đạo bị sập, làm chết nhiều người, để bảo đảm ăn, ở, học tập cho các cháu và giữ hạt giống cho quê hương, Vĩnh Linh quyết định lực lượng trẻ khỏe ở lại bám trụ, người già yếu, trẻ nhỏ phải đi sơ tán ra ngoài Bắc. Nơi đón các cháu là Thái Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Ninh Bình,... Trong kế hoạch sơ tán là 3 vạn cháu. Riêng Vĩnh Kim đã có tới 1.500 cháu rồi.

Nói tới Vĩnh Linh thời làm tiền đồn cho miền Bắc, làm hậu phương cho miền Nam, tôi sực nhớ tới lời dặn của Bác Hồ: "Nếu không có nhân dân liệu chúng ta làm được gì", mỗi người dân Vĩnh Linh chẳng là một chiến sĩ đó sao? Tự hào về chỗ đứng của mình, Vĩnh Kim có thành lập một đội văn nghệ để lấy tiếng hát át tiếng bom. Tiếng hát vang dậy lên ở khắp các nơi, từ chiến hào đến trận địa, từ những cuộc họp đến cấy lúa trên đồng,.. chỗ nào có sinh hoạt, nơi đó có tiếng hát cất lên. Không có lòng tin chiến thắng làm sao có lời ca tiếng hát đó được. Tiếng hát như những thùng dầu thắp sáng thêm lên ngọn lửa kiên cường.

Những thành ngữ thời chiến tranh bên bờ sông Hiền Lương mà người Vĩnh Kim đã thực hiện như "Ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam", "Ngày Bắc đêm Nam", đó là chuyện thường ngày, xứng đáng là một hậu phương lớn. Chẳng thế mà từ năm 1965 đến 1970 Vĩnh Kim đã góp 1.500 ngày công vận chuyển lương thực, đạn dược vào chiến trường, gần 1.000 ngày công chuyển thương binh tử sĩ về chuyến sau, vận chuyển 4.000 quả đạn ĐKB, 13.000 quả đạn cối, 315 cây gỗ làm công sự cho lực lượng ta bên kia bờ Nam. Vinh dự thay chiếc đòn gánh của bà Nguyễn Thị Cúc gánh tiếp đạn cho chiến trường đã được đưa vào lưu giữ tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Hà Nội.

Dân Vĩnh Kim đang còn nhớ ngày 5  -  4 - 1945, thôn Vịnh Mốc bị phá, Vĩnh Kim đã tiếp nhận 50 hộ dân đến ăn ở trong hai năm. Ngày 20-6-1967, địa bàn xóm Cửa bị bom sập chết 61 người, người già, phụ nữ trẻ em về Vĩnh Kim lánh nạn. Ngày 21 - 6 - 1967, nhân dân Vĩnh Kim đã đón tiếp 3.000 dân Vĩnh Quang về từng gia đình ở trong suốt bốn tháng khó khăn. Đầu năm 1972, ta đánh Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, địch phản kích dữ dội. Để bảo đảm cho tính mạng 8 vạn dân Gio Linh, Triệu Phong, Quảng Trị sơ tán ra Vĩnh Linh, địa bàn nhỏ hẹp của Vĩnh Kim lại một lần nữa gánh trách nhiệm bảo đảm nơi ăn, chốn ở, hầm hố trú ẩn cho 357 hộ với 2.350 nhân khẩu. Vĩnh Kim chẳng xứng đáng là một hậu phương vững chắc đó sao. Chính quyền và nhân dân không đồng lòng làm sao gánh vác nổi?

Sự kiện bất ngờ nhất đối với Vĩnh Kim là chiếc tàu không số chở vũ khí chi viện cho miền Nam, lúc quay ra, gặp tàu địch, để giữ an toàn, tàu ta không nổ súng, nhưng dốc sức chạy, trời sáng không dám đi tiếp ngoài khơi, ập vào bờ biển Vĩnh Kim. Vĩnh Kim đã hô hào toàn dân đi chặt cây ngụy trang dọc bờ biển dài tới hơn một cây số mới bảo đảm an toàn được cho tàu mình, đêm sau tàu lại nổ máy ra khơi, vượt ra miền Bắc. Không phải Vĩnh Kim toàn dân một lòng một dạ, hỏi liệu xã nào ngoài Vĩnh Kim làm nổi để cứu một chuyến tàu trở về an toàn.

Với nhiệm vụ là hậu phương vững chắc của miền Nam, Vĩnh Kim đã hoàn thành trách nhiệm của mình, còn với tư cách là tiền đồn của miền Bắc, Vĩnh Kim lúc này luôn luôn phải đối diện với máy bay trên trời và tàu chiến ngoài khơi của giặc. Thế trận Vĩnh Kim lúc này đã sẵn sàng. Từ động Mái Nhà qua đồi Cây Sui dọc lên Sống Vành, Thủy Nam, vòng về Nổng, Bàu, Rọc, qua Rúc Xâu về Cồn Hôi, Đuôi Tôm một màng lưới phòng không súng bộ binh, Trung, đại liên, 12,7 ly đã sẵn sàng. Vòng ngoài là trận địa pháo mặt đất của tiểu đoàn phòng không 37 ly của bộ đội chủ lực.

Mai phục mãi không có thời cơ, xã đội phó Nguyễn Khắc Cần quyết định: "Muốn bắn rơi máy bay của Mỹ thì súng phải nối thêm nòng". Cụ thể là: “Phải rời trận địa ra làng Dưa sát mép biển, phải chiến đấu bằng ý chí của từng xạ thủ".

Kế hoạch mai phục ở làng Dưa sát mép biển được thực hiện ngay. Đúng ngày 3 - 11 - 1967, đợi chúng bay qua đúng cự ly, 12,7 ly nã đạn, chiếc UVIOA loạng choạng, bốc cháy, rơi cách bờ một cây số.

Thành tích này được Bác Hồ thưởng Huân chương chiến công hạng nhất. Suốt ba tháng sau, du kích Vĩnh Kim phối hợp với tiểu đoàn 25, pháo 37 ly đánh liên tục 25 trận bắn rơi thêm hai máy bay nữa. Bà con Vĩnh Kim nhắc mãi tấm gương của trung đội trưởng dân quân Nguyễn Đức Bình, hai con bị máy bay Mỹ bắn chết, anh vẫn cùng đồng đội ứng cứu cho khẩu 37 ly bị trúng bom Mỹ, bật ra khỏi công sự, hoàn thành nhiệm vụ anh Bình mới trở về chôn cất cho hai con và tới trạm xá chăm sóc cho vợ và một con bị thương. Mỗi du kích Vĩnh Kim xứng đáng là một chiến sĩ ngoan cường. Không có dân địa phương làm sao quân chủ lực bám trụ nổi. Nguyễn Đức Bình chẳng phải là một tấm gương sáng như vậy đó sao.

Một trong những ý chí ngoan cường của Vĩnh Kim là giữ vững con đường tiếp tế cho Cồn Cỏ. Gạo tiếp tế cho Cồn Cỏ đóng bao thả trôi trên biển dạt vào Vĩnh Kim. Vĩnh Kim đã làm tới 71 kho cất giữ vũ khí cho Cồn Cỏ. Trên nhiều điểm cao dọc bờ biển bốn cây số của Vĩnh Kim ta bố trí các trận địa pháo 85, 100, 130 mặt đất và cao xạ 37 ly sẵn sàng chiến đấu với tàu chiến, máy bay địch để bảo vệ những đoàn thuyền tiếp tế cho đảo. Dân kể lại, ở những vị trí lo tiếp tế cho đảo đông tới 400, 500 người. Vĩnh Kim nhường cả địa đạo Đuôi Tôm cho hàng hóa và cho người ở để sẵn sàng khi thời cơ tới đưa hàng ra đảo ngay.

Tháng 6 - 1965, một tàu Hải quân phục vụ đảo Cồn Cỏ do thời tiết xấu, bị dạt vào bờ biển Rú Bàu được dân và dân quân Vĩnh Kim che chắn, bảo vệ trục kéo về hậu cứ an toàn. Chỉ trong ba năm đầu của cuộc chiến đấu bảo vệ đảo, nhân dân Vĩnh Kim đã đóng góp 1.857 ngày công để xây 57 hầm chữ A và hầm chục trận địa pháo, làm 71 kho cất giấu vũ khí, lương thực cho bộ đội và chính dân quân Vĩnh Kim đã vận chuyển và bốc dỡ 43 tấn hàng cho đảo Cồn Cỏ.

Ngồi với anh chị em Vĩnh Kim kể lại chuyện xưa như không bao giờ dứt. Nhắc lại thành ngữ "Ăn cơm bữa diếp" tất cả đều cười ồ như thêm một lần nữa thấu hiểu thêm về một quá khứ của vùng đất mình. Các anh cán bộ xã, anh Điền, anh Thủy và anh Nguyễn Đức Anh đưa tôi đi thăm một vòng Vĩnh Kim, từ nhà truyền thống Vĩnh Kim, tới ngôi mộ 31 người bị bom sập hầm ở Hương Nam, rồi ra thăm trận địa pháo xưa bên bờ biển, ai cũng khẳng định Vĩnh Kim làm được như vậy vì chính quyền và dân một lòng  nên mọi ý đồ, mọi chủ trương, cứ thế mà răm rắp. Rõ ràng "ý Đảng, lòng dân" là đáp số của một quy luật vận hành trên đất Vĩnh Kim này.

Năm 2001, nhà nước đã quyết định phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho xã Vĩnh Kim. Càng đi sâu vào quá khứ và hiện tại của Vĩnh Kim, càng thấy Vĩnh Kim thật sự xứng đáng với danh hiệu vẻ vang ấy.

   23-06-2014

N.Q.H

NGUYỄN QUANG HÀ
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 239

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground