Những người đi xa lâu ngày trở lại quê hương thường cảm nhận rõ hơn những thay đổi về lượng của nơi mình cắt rốn chôn rau. Những người gắn bó với quê hương suốt ba mươi năm qua như tôi thì nhận thấy đổi thay của quê hương Vĩnh Linh âm thầm nhưng mãnh liệt, đó là sự chuyển biến về chất.
Ba mươi năm trước, sau mười lăm năm “một ba lô, cây súng trên vai, ngày dài đêm thâu, chỉ có quân thù trước mặt”, tôi trở về quê hương đúng vào thời điểm Đảng ta chủ trương đổi mới nền kinh tế đất nước. Tôi chịu cú sốc thiệt thòi cá nhân đầu tiên: Thời điểm tôi chuyển ngành, sĩ quan quân đội không được bảo lưu mức lương đang hưởng mà… làm việc gì hưởng lương theo việc đó. Tiếp theo, sự vỡ trận của cuộc cách mạng giá - lương - tiền được Chính phủ triển khai thực hiện tháng 9 năm 1985 đã hầu như xóa sổ nguồn tích lũy ít ỏi của tất cả các hộ gia đình trong cả nước, tất nhiên trong đó có gia đình tôi…
Nhưng rồi những khuyết điểm nhanh chóng được nhận ra, những điều chỉnh kịp thời của Chính phủ trong nhiệm kỳ đầu tiên của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đưa nền kinh tế nước ta đứng bên bờ vực của sự sụp đổ dần dần hồi sinh. Lạm phát năm 1986 là 774% đã tụt xuống 323,1% năm 1987 và đến năm 1989, lạm phát chỉ còn 34,7%... Các chỉ số về kinh tế xã hội cũng tốt dần lên theo từng năm tháng.
Tuy nhiên, thực chất của sự đổi thay, phát triển lại nằm ở trong bát cơm, manh áo, trong việc học hành, trong điều kiện khám chữa bệnh, trong tiện nghi sinh hoạt của mỗi con người trong mỗi gia đình cụ thể.
* * *
Ba mươi năm là sáu lần Đại hội, sáu lần tôi đọc những số liệu thống kê trong báo cáo tổng kết nhiệm kỳ với sự đánh giá bằng phần trăm tăng trưởng kinh tế xã hội năm sau cao hơn năm trước. Những số liệu này chỉ có ý nghĩa đối với các nhà kỹ trị. Đó là những con số ở tầm vĩ mô. Còn tôi cũng như bao người dân khác, tôi chỉ nhận thấy lần đầu tiên trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cơ sở nhiệm kỳ không ghi những chỉ tiêu Pháp lệnh. Lần đầu tiên có sự tách bạch giữa quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh. Lần đầu tiên Giám đốc xí nghiệp và các Hợp tác xã được giao quyền tự chủ về tài chính, Nhà nước ngừng cấp vốn và không giao kế hoạch, chỉ tiêu sản xuất hàng năm. Vĩnh viễn không còn thấy những đoàn cán bộ cấp trên, đầu năm về giao chỉ tiêu, cuối năm duyệt hoàn thành kế hoạch. Từ khi có những cái trên thì những đoàn người từ Thừa Thiên Huế ra, Quảng Bình vào đổ xuống ga xép Sa Lung để ngược Bến Quan – Bãi Hà lẫn vào giữa ngút ngàn Trường Sơn “ngậm ngãi tìm trầm” mưu sinh độ nhật cũng giảm dần và thưa hẳn… Nông dân đã trở lại với ruộng đồng, thầy giáo bớt bỏ trường bỏ lớp theo tăm cá bóng chim… công nhân không bỏ xưởng.
Cuộc cách mạng xã hội nào mà không bắt đầu từ khẩu hiệu cải thiện dân sinh. Cải thiện dân sinh nào mà không bắt đầu từ cái ăn. Tôi lớn lên đã thấy bố mẹ nghèo. Ngày ngày bố theo trâu vạch những đường cày xiêu vẹo, mẹ sấp mặt trên đồng đất không biết mặt trời lặn về đâu. Mấy chị em tôi bâu quanh rổ khoai sâu khó khăn lắm mới tìm được một mẩu nguyên lành để chia nhau trong nhường nhịn…Rồi chiến tranh, nhà cháy, người chết, trâu bò chết, ruộng đồng hoang hóa, rồi gồng gánh dắt díu nhau đi bộ sơ tán hàng mấy trăm cây số… Rồi thiên tai khốc liệt, cào vét đến kiệt cùng những toan tính mưu sinh của người dân… cái đói, cái khổ đã ngấm vào máu và luôn canh cánh trong lòng. Bát cơm độn đến hai phần ba sắn cứ ám ảnh, ước mong có được bữa cơm no là một điều xa xỉ.
Đối với một huyện thuần nông như Vĩnh Linh thì chủ trương “sản xuất lương thực, bảo đảm cái ăn cho nhân dân là khâu then chốt” không phải là một khẩu hiệu trừu tượng. Cha ông ta từ ngàn xưa đã đúc rút ra một chân lý “Có thực mới vực được đạo”. Đất ruộng ấy, con người ấy mà bao năm đến trước đổi mới, lãnh đạo huyện vẫn loay hoay lo cái ăn cho gần mười vạn dân đến tối tăm mặt mũi. Từ Đại hội Đảng bộ huyện Vĩnh Linh khóa thứ XII (1985 - 1990) kinh tế xã hội huyện Vĩnh Linh để lại những quyết sách ấn tượng và đưa đến những đột phá về nông nghiệp: Từ chỗ thiếu ăn, đến nay hàng năm toàn huyện ổn định diện tích lúa, sản xuất 35.000 tấn lúa mỗi năm. Cung ứng đủ nhu cầu lương thực trên địa bàn và bán ra thị trường. Đây là thành công của giải pháp đổi mới cơ chế khoán sản phẩm đến người lao động, thâm canh tăng năng suất, giải quyết bài toán lương thực của Vĩnh Linh trong ba mươi năm đổi mới, cơ sở để huyện giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội tiếp theo.
Tuy nhiên giải pháp hàng đầu vẫn là thủy lợi. Một hồ chứa nước La Ngà bồi lắng với sức chứa giảm dần qua từng năm không thể đáp ứng nhu cầu tưới nước của đồng ruộng Vĩnh Linh… Với sự trợ giúp của Nhà nước, lần lượt các công trình thủy lợi mới vừa và nhỏ trên địa bàn ra đời mà tiêu biểu là công Trình thủy lợi Bảo Đài khởi công năm 1996, hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2002. Hồ chứa nước Bảo Đài có dung tích 25,5 triệu m3 nước có nhiệm vụ tưới cho hơn 1.000 héc ta đất canh tác và cải tạo môi sinh, môi trường các xã Vĩnh Long, Vĩnh Nam, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thành, Vĩnh Hiền, Vĩnh Giang và một phần thị trấn Hồ Xá. Công trình đập dâng Sa Lung có vốn đầu tư 95 tỷ đồng, khởi công năm 2007, khánh thành đưa vào sử dụng năm 2010 đã cấp nước, tưới tiêu cho 700 ha ruộng và màu, tạo nguồn nước ngọt cho 200 ha nuôi trồng thủy sản… Những người dân Vĩnh Linh chắc không ai là không nhận ra điều này: Mươi năm lại đây, khi mùa lũ về, lượng cá khai thác được trên sông suối đầm hồ tăng đáng kể. Một số loài tưởng đã thành quá vãng bỗng tăng lên đột ngột. Con cá lúi, cá phát lát là những loài cá nước ngọt sinh trưởng ở các đầu nguồn sông suối và đầm hồ miền Trung một thời gian dài vắng bóng nay xuất hiện nhiều hơn. Điều này dễ hiểu, sau khi đập dâng Sa Lung đưa vào sử dụng, mực nước sông phía trên đập dâng lên cao trình 5,56 mét đã tạo cho thượng nguồn sông Sa Lung có lưu vực nước ngọt lớn hơn, nước mặn lùi về mức nguyên thủy hàng chục km. Đây là môi trường thuận lợi cho cá lúi và nhiều loài khác sinh sôi. Ba công trình thủy lợi lớn có sức chứa hơn trăm triệu mét khối nước ngọt cùng hàng chục công trình nhỏ có vốn đầu tư từ vài tỷ đồng đến chục tỷ đồng đã giải quyết tốt nhu cầu tưới cho 7.000 ha ruộng Vĩnh Linh. Nhân dân hôm nay nói đùa: Bây giờ mùa gió Lào ở Vĩnh Linh đã dịu đi, cao su miền tây Vĩnh Linh nhiều mủ hơn, cá mú cũng sẵn và tính khí người Vĩnh Linh… cũng dịu lại.
Ngoài cây lúa, cây màu truyền thống của một huyện thuần nông, huyện quyết định: Mở hướng phát triển kinh tế lên gò đồi, xác định cao su, hồ tiêu là cây công nghiệp chủ lực. Từ quyết sách của Thường vụ Huyện ủy, những vòng lăn bánh xe đạp của anh Lê Đức Yên, Trưởng phòng, Lê Văn Hiền – Phó Trưởng phòng Nông nghiệp huyện lên Nông trường Quyết Thắng tìm hiểu kỹ thuật trồng chăm sóc cao su về triển khai cho vùng Kinh tế mới Bắc sông Bến Hải trồng những héc ta cao su đầu tiên năm 1991 (Sau này lần lượt anh Lê Đức Yên, rồi anh Lê Văn Hiền nối tiếp nhau đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh tương ứng các kỳ Đại hội Đảng bộ huyện XVI, XVII). Ba mươi năm sau, trên địa bàn Vĩnh Linh đã có hơn 6.500 héc ta cao su tiểu điền trong đó có 4.600 héc ta đã đưa vào kinh doanh, sản lượng mủ cao su hàng năm thu được đạt giá trị hàng hóa hàng trăm tỷ đồng; 1.100 héc ta hồ tiêu hàng năm đạt 1.100 tấn hạt tiêu khô, như thời giá năm 2015 đạt giá trị 22 tỷ đồng. Đây là thành công của quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng đầy táo bạo và được chỉ đạo quyết liệt qua nhiều kỳ Đại hội, kết quả là đưa huyện Vĩnh Linh trở thành huyện phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng bền vững. Nông dân Vĩnh Linh đổi đời, giàu lên nhờ cao su, hồ tiêu và những cây màu đặc sản địa phương.
* * *
Bố tôi là một đảng viên 55 năm tuổi Đảng, ông cụ làm cán bộ cơ sở, sống trọn thời bao cấp và chiến tranh, cụ nghỉ việc khi đất nước bước vào đổi mới. Tôi hỏi cụ một câu rất có màu sắc báo chí:
- Bố thấy huyện mình thế nào sau ba mươi năm đổi mới?
Ông cụ 93 tuổi cười rất vui:
- Có thể tao trả lời theo thứ tự: điện, đường, trường, trạm nhỉ. Năm 1985 siêu bão số 8 tràn vào Vĩnh Linh bẻ sạch không sót một cột điện, đánh tan không còn một trạm biến áp… Ban đêm chỉ còn lèo tèo vài ba đốm sáng điện vàng vọt ở thị trấn. Còn bây giờ thì từ phố thị đến thôn bản, nơi nào cũng đã có điện lưới Quốc gia, nhà nào cũng ti vi, tủ lạnh, điều hòa, nóng lạnh, bếp ga… Chính nhờ có điện mà tệ nạn phá rừng chặt củi làm chất đốt chấm dứt. Ngày xưa trong nghị quyết cũng có ghi điện khí hóa nông thôn, tao nghĩ là trên nói thì mình nói lại với dân chứ không nghĩ bây giờ đã thành hiện thực… Tôi nhớ cách đây không lâu, bạn con gái tôi từ một tỉnh phía Nam ra chơi, đi xe dạo một vòng quanh thị trấn huyện lỵ, lúc về nghe hai đứa nhỏ nói với nhau: “Khiếp, thị trấn gì xứ mày mà to như thị xã…”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XVIII ( 2015 - 2020) xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế có ghi: “Hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và xây dựng thị trấn Hồ Xá đạt chuẩn đô thị loại IV…”. Tôi nghĩ: mục tiêu này hoàn toàn thực tế và nó chính là sự khẳng định tầm vóc tiêu biểu vươn lên của huyện sau 35 năm đổi mới... Về đường thì cách đây 30 năm, toàn huyện cứ hễ mưa là lụt tắc đường, con đường từ ngã ba Sa Lung đi Bến Quan, Bãi Hà chưa đầy 20km mà mưa xuống là tắc cứng ở bốn điểm: Cầu Điện, Bảo Đài, Cầu Hạnh Phúc, Khe Ba Buôi…Còn bây giờ, ngoài tuyến đường sắt toàn huyện có ba tuyến đường bộ chạy dọc huyện gồm đường Quốc phòng ven biển, đường Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh nhánh Đông, các tuyến đường ngang và nội huyện đã được nhựa hóa khá hoàn chỉnh. Trước đây cứu lụt vùng Sơn – Thủy chủ yếu bằng thuyền, giờ thì ô tô có thể đến bất cứ chỗ nào cần cứu trợ. Ngày trước, khoảng năm 1985, một thầy giáo dạy học ở Vĩnh Ô bị đau ruột thừa, cáng từ Vĩnh Ô về Trung Tâm Y tế huyện mất ba ngày. Hiện nay thì đường nhựa về tận bản, từ huyện lỵ lên Vĩnh Ô, ô tô xe máy chỉ đi trong vòng một giờ đồng hồ… Tin mới nhất, đầu năm 2015 Bộ Giao thông Vận tải vừa có Quyết định số 808/QĐ-BGTVT về việc chuyển đoạn tuyến sông Bến Hải thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị thành tuyến đường thủy nội địa Quốc gia với tổng chiều dài quản lý là 37,4km. Như vậy huyện Vĩnh Linh mình, nếu khôi phục sân bay Ba Bình thì… đường chi cũng có.
Nhân cái chuyện tưởng đùa về sân bay Ba Bình, bố tôi kể: Trước năm 1945 ở huyện Vĩnh Linh có một sân bay mà đường băng làm bằng đất nện tại phía Đông nhà thờ Ba Bình nên gọi là sân bay Ba Bình. Trong bản đồ quân sự của Pháp và UTM của Mỹ trước năm 1975 có thể hiện sân bay này. Để phục vụ nhiệm vụ chiến lược giải phóng miền Nam năm 1975, ta đã khôi phục sân bay dã chiến này bằng cách đổ cấp phối hai đường băng đất sỏi mà máy bay vận tải cỡ nhỏ hạ cánh được nhưng chưa sử dụng. Sau năm 1975 bỏ hoang. Hiện nay vị trí sân bay vẫn còn dấu tích ở về phía Đông bắc làng Bắc Phú xã Vĩnh Chấp, dân địa phương quen gọi là Động Tàu Bay. Sân bay này Chính phủ bảo hộ Pháp dùng để vận chuyển thơ báo, bưu phẩm từ Huế ra hoặc Đồng Hới vào mỗi khi đường bộ bị ngập lụt. Mỗi khi có máy bay hạ cánh, lý trưởng được báo trước liền cắt cử khoảng năm đinh tráng của làng ra sân bay dọn dẹp, đốt khói báo hiệu… Khi máy bay cất cánh thì giúp phi công đẩy nổ khởi động máy bay. Bố tôi bảo: Máy bay có cánh bằng khung nhôm bịt vải bạt chỉ to hơn chiếc thuyền nan lớn, chỉ chở thư báo không chở gì khác...
Về trường học và trạm y tế thì nói gộp thế này: Năm 1985, sau bão số 8 trường lớp toe tua sụp đổ hết. Đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước Hội đồng Nhân dân huyện ban hành Nghị quyết thực hiện cao tầng hóa trường học, mỗi năm huy động mỗi cử tri đóng góp ba mươi ngàn đồng trong 5 năm để kiên cố hóa trường lớp học cho con em. Nghị quyết này sớm hơn Chương trình cao tầng hóa trường học của Nhà nước… Đến nay 51 trường học trên địa bàn huyện đã được cao tầng và kiên cố hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa và đồng bộ hóa, cả 51 trường đều đạt chuẩn Quốc gia, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII đề ra. Về Y tế có bước chuyển biển mạnh nhất là y tế tuyến xã. Bây giờ Trạm Y tế xã nào cũng có bác sỹ, 70% số Trạm Y tế của huyện đạt chuẩn Quốc gia, đang dẫn đầu toàn tỉnh… Được thế là quý lắm rồi…
- Cuộc đời gần một thế kỷ của bố, bố thấy giai đoạn nào là cuộc đời bố sung sướng nhất?
- Đó là giai đoạn cuối đời này, những điều tưởng như không thể có trong cuộc đời, đến hôm nay sau ba mươi năm đổi mới bố đã thấy…
* * *
Tôi hiểu ý bố tôi, bảy mươi năm từ ngày cầm con dao phát bờ ruộng tham gia giành chính quyền về tay nhân dân Tháng Tám năm 1945 đến nay, trải hai cuộc kháng chiến trường kỳ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, những năm tháng vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đến nay, quê hương tôi đã đẹp dần lên qua từng tháng năm đổi mới.
T.P.T





