Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tản mạn khi viết "Lửa mùa hong áo"

Rất tiếc, khi đang viết dở chừng Lửa mùa hong áoTự khúc ánh sáng, tôi mới có ý ghi lại những suy ngẫm trong quá trình viết, chỉnh sửa hoàn thành tác phẩm như một nhu cầu tự thân. Cuộc thi viết về đề tài chiến tranh cách mạng cho hai thể loại tiểu thuyết và trường ca của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân là sự khích lệ lớn đối với tôi. Tuy không được vào giải của Bộ Quốc phòng, nhưng tôi đã viết đầy tâm huyết, tự tin về sự thành công ở hai trường ca này.

Khi bắt đầu viết trường ca Lửa mùa hong áo, Tự khúc ánh sáng, tôi cứ cắm cúi viết như kẻ điếc không sợ súng. Chuyện bếp núc nghệ thuật viết trường ca từ những gì đã đọc được, gần như bay đâu cả, không có chỗ đứng trong quá trình cảm hứng sáng tạo. Điều này khó lý giải, nói ra thế dễ bị hiểu nhầm, nhưng quả đúng như vậy với riêng tôi. Vậy nên tôi càng thấm hiểu thêm, từ lao động sáng tạo, luôn luôn là một hành trình mới, để bắt đầu nảy sinh những trải nghiệm riêng không giống những gì đã đọc, đã trích lũy được từ lý luận thấm đẫm chất nghề nghiệp và khoa học cao, mong được cảm thông cho sự nghĩ ngợi này.

Hồi còn trẻ, thời mới sát nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên, đang chân ướt chân ráo vào sống ở Huế, tôi đã lao đầu vào viết một trường ca, câu nọ kéo câu kia, chương nọ kéo chương kia, dài đến nỗi hết cả chữ nghĩa tự trong gan ruột tuổi trẻ, mà vẫn thấy nao nức, chưa thỏa mãn. Ấy là bởi thuở đó, tầm vóc chiến thắng xuân bảy lăm, tạo dựng cho người cầm bút một tâm thế cảm xúc mang tính sử thi tự trong mỗi câu, chữ thơ. Các bạn thơ Bình Trị Thiên ngày đó chưa ai biết tôi đã từng viết trường ca. Tôi nhớ cái phép năm ấy, lúc đã hết phép phải trở về Huế, mà trường ca đang viết dở mạch, tôi điện về cơ quan xin nghỉ thêm một phép nữa, của năm sau, với lý do chuẩn bị cưới chồng, cơ quan liền bố trí cho một nhà thơ mang quà cưới ra Đồng Hới. Khi biết chuyện chẳng có đám cưới nào, một nhà văn tặc lưỡi vừa cười vừa nói chữ: Hội Văn nghệ ta là “Hội Văn nghệ ba lơn”. Tôi nín lặng, hổ thẹn giấu mặt sau trang trường ca, nên chẳng ai biết tôi viết trường ca là thế. Giá bấy giờ cơ trời cho tôi cưới được tấm chồng như các bạn gái bên làng cát Bảo Ninh, hẳn số phận, con đường thơ đã khác. Âu cũng là một sự trả giá, nhận thất bại cả đời thơ và đời người vậy.

Cái trường ca ấy lỡ duyên, rồi bỏ quên đấy cho đến giờ. Thực ra đã có một người đọc. Một người đọc duy nhất, đó là nhà thơ Trần Phá Nhạc. Lúc bấy giờ anh cũng đang viết một trường ca “lớn”, về “Mẹ sông Hồng”, số lượng câu còn nhiều hơn cả tôi. Chiều nào chúng tôi cũng gặp nhau trên căn xép tầng hai của anh, đọc cho nhau nghe những chương, đoạn mới viết đêm qua. Vợ anh pha bình trà nóng xong rồi lui vào căn bếp chật sửa soạn cơm tối cho sắp nhỏ. Vì đồng lương không đủ nuôi cơm cho chúng, vợ chồng Trần Phá Nhạc bồng bế con chuyển vào Sài Gòn, chúng tôi bặt tin nhau từ đấy. Không biết thiên trường ca của anh viết tiếp đến đâu, có viết hoàn chỉnh đến câu cuối cùng không?

Còn tôi, sau đó, vào năm 1979, được cử đi học lớp viết văn Nguyễn Du K1, tôi gần như quên bẵng nó, cho đến nửa thập kỷ đầu tiên của thế kỷ mới, sau khi viết xong hai trường ca Lửa mùa hong áo, Tự khúc ánh sáng mới giở ra, nhập vi tính và hy vọng sẽ đầu tư đọc lại và viết lại. Mãi mới đây, vào năm 2007, tôi đã tìm được cái tên mới sau bốn mươi năm trăn trở, ấp ủ kín trong lòng.

Cho đến giờ, đã bảy năm của thập kỷ mới này rồi, bất lực trước quỹ thời gian, tôi cũng chỉ chỉnh sửa được vài trăm câu của chương Núi Năm Ngọn và chương Ông Đùng Bà Đà rồi xếp cất đấy. Nó như một ổ lửa lớn, nung nấu tôi thức trắng nhiều đêm, chăm bẵm, ôm ấp, ủ muồi, hy vọng sẽ có cơ hội chỉnh sửa hoàn thành ước nguyện. Nhưng tôi biết, quả rất khó, chấp nhận sự bỏ bút thì đau đứt ruột.

Được trưởng thành từ quê hương Bình Trị Thiên khói lửa, mỗi ngày làm việc, mày mò với sách vở, trang thơ tôi luôn giữ ý, rèn nếp: viết cần cù, viết điều gan ruột, thay cho việc đọc thơ trước công chúng, bù cho cái kém cỏi không lợi khẩu. Tuy nhiên, dù có viết được bề bộn, dấn bút vào cả những góc khuất của cuộc sống và của chính lòng mình, nhưng tự sâu thẳm suy ngẫm về nghề văn tôi vẫn cảm thấy là mình chưa lao động cật lực, soi thấu lẽ với những gì mà hiện thực cuộc sống đã đem lại. Chân, thiện, mỹ trong đời sống tâm hồn của mỗi người thường ẩn sâu và rất phức tạp. Cảm xúc hời hợt khó lẩy ra được, khó dồn nén vào được trang tác phẩm.

* * *

Ở trường ca Lửa mùa hong áo, trước khi viết dăm ba khổ thơ đầu tiên có đêm tôi nằm mơ thấy sư đoàn thanh niên xung phong hành quân qua những triền núi hùng vĩ, đỏ rựng ráng trời hoàng hôn… Trong đoàn quân ấy, có một người, một chị tách ra, ngoái nhìn về tôi, vẫy tôi chạy theo. Cho đến giờ, giấc mơ này vẫn ám tượng, tôi nhớ nằm lòng rõ mồn một từng chi tiết cảnh quan núi rừng. Những năm Trường Y sĩ Quảng Bình sơ tán tại vùng Khe Ngang, vùng núi Cây Lim… nằm trên trục đường giao liên, các sư đoàn bộ đội tân binh, sẫm chiều là hành quân vào Nam nườm nượp. Có lẽ, giấc mơ có một phần do tôi tâm nguyện, trăn trở về việc viết trường ca Lửa mùa hong áo mà những hình ảnh ấy bật dậy trong một tinh thần mới… Mười sáu tuổi tôi đi thanh niên xung phong thuộc quân Thị Đoàn Đồng Hới, lúc bấy giờ, anh Nguyễn Xuân Chàm làm Bí thư Thị Đoàn. Lần ấy, Thị Đoàn triệu tập cán bộ từ cấp A phó trở lên về họp để chuẩn bị giao quân cho mặt trận. Bến đò Lũy Thầy vốn là mục tiêu của máy bay Mỹ, vì bến đò này chỉ cách Cầu Dài, trên tuyến đường Quốc lộ 1A thuộc thị xã Đồng Hới, không đến một cây số. Thị xã Đồng Hới từ sau Tết 1964 đã bị bom Mỹ đánh phá khốc liệt, dân đã được tổ chức đưa đi sơ tán vợi hết người già, trẻ nít. Phố đổ, Cổng Bình Quan đổ, Nhà máy cưa Bình Trị Thiên vào một buổi sớm mai, đang lúc công nhân làm việc đầy ắp dưới các phân xưởng thì bom dội xuống, người chết phải chở bằng xe ba gác ra ngoại ô chôn cất. Bệnh viện Đồng Hới, Trường Cấp ba Đồng Hới, đình Đồng Hới, chợ Đồng Hới bị dội bom liên tục.

Lúc bấy giờ là A phó, nên tôi được triệu tập họp. Họp xong, chừng gần chín mười giờ tối, tiệm ảnh còn mở, mấy anh em cùng rủ nhau vào chụp ảnh. Chắc ai cũng muốn có chiếc ảnh kỷ niệm để gửi về nhà trước khi vào sâu trong chiến trường miền Nam. Chiếc ảnh ấy cắt chụp hình lá dâu, trên đầu tôi có thắt một chiếc nơ lớn bằng khăn voan trắng, nay tôi còn giữ nhưng đã hoen mờ theo thời gian. Trên đường trở về đơn vị, đang đợi qua đò Lũy Thầy thì có tiếng máy bay. Máy bay đêm lần đầu tiên xuất hiện trên bầu trời Đồng Hới. Giữa sông đang có một chuyến đò từ bờ Nam sang. Trên bờ, có dăm bảy cái hầm cá nhân. Chúng tôi, nhóm ba người, gồm A trưởng Đào Xuân Nghi, hai A phó Nguyễn Văn Đắc và tôi cùng đảo mắt tìm hầm. Trong tiếng máy bay tưởng còn xa, chợt anh Đắc kéo ào tôi cùng nhảy xuống một chiếc hầm cá nhân, nhưng chưa kịp ngồi thụp người xuống thì bom tọa độ đã nổ. Cả tôi và anh Đắc cùng bị thương. Nhưng lúc đó tôi chưa biết mình bị thương như thế nào. Tôi nhổm lên khỏi hầm, chạy ào xuống bến, nơi con đò vừa kê mũi vào bờ. Trên đò chỉ có hai người và hai người đều bị thương nặng, khó qua khỏi. Chị Luống, lái đò, cả lồng ngực vỡ hoác, trong ánh đèn dù, tôi nhìn thấy rõ trái tim lắc đập đầm đìa máu và hình như chị cố nén tiếng rên, nghe rất nhỏ. Người thứ hai là một cán bộ y tế Vĩnh Linh trên đường ra Bắc đi công tác. Dân quân từ trong làng Phú Hải ào ra, đưa hai người bị thương nặng đi trước, sau cùng, lúc đã gần sáng, tôi cũng được cáng đi viện Đồng Hới sơ tán tại một làng thuộc xã Đức Ninh, đi qua một cánh đồng lúa chiêm đang thì con gái. Trông mê mết của cơn đau vì vết thương đã bắt đầu sưng to, tôi mơ hồ cảm nhận được làn hương thoảng nhẹ trong ánh rạng đông.

Trong trường ca Lửa mùa hong áo, ở chương Khúc dạo đầu tôi viết, có sự khởi nguyên từ cảm xúc được ủ từ tâm thức bật ra lại vừa là hình ảnh cảm xúc thơ bỏng cháy về chị Luống ở bến đò Lũy Thầy, về các chị nữ thanh niên xung phong hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc (Vào dịp nhận chức Tổng, tôi dẫn đoàn anh chị em cán bộ biên tập, phóng viên Tạp chí Cửa Việt đi trao đổi giao lưu nghiệp vụ với các tỉnh Bắc Miền Trung, được các anh chị Tạp chí Hồng Lĩnh đưa đi viếng mộ các chị. Tôi quỳ lạy, thầm khấn các chị, bên cạnh có một khóm sả được các quản trang trồng xanh um, tươi tốt, làn hương bát ngát trời mây) tạo nên mạch cảm hứng và vừa là trường cảm xúc sâu thẳm qua trải nghiệm, ngưng lắng, mới thốt lên được những câu thơ khấn nguyện mở đầu trường ca:

Xin các chị cho em nén giữ trong lòng

Làn hương sả bắt đầu từ ký ức

Chưa kịp gặp con đường sao máu em đã đổ

Máy bay đêm, đêm đầu tiên chúng quăng bom tọa độ

Bến Lũy Thầy chị Luống hy sinh

Không lời trối trăn chị dìu em qua cái chết bàng hoàng

Tên các chị, khuôn mặt các chị, em chưa kịp biết…

Về chị Luống ở bến đò Lũy Thầy, tôi không biết nhiều về chị. Sau khi bị thương ra viện, tôi đang ở nhà nghỉ dưỡng thì gặp dịp thầy Hiệu Phó Trường Y sĩ Quảng Bình đang về làng tuyển cán bộ hành chính cho trường, vậy là được chuyển công tác về Trường Y sĩ Quảng Bình, đóng tại Khe Ngang, vùng Troóc của Tây Bố Trạch. Tôi thật có lỗi, khi không tìm hiểu về chị. Nhưng hình ảnh chị nằm lấp xấp nơi mé nước, đầu gối lên mặt đê Lũy Thầy, chân duỗi ra phía sông nằm sâu trong tim óc ký ức tôi như một vết thương không bao giờ lành miệng. Nhịp tim chị lắc yếu ớt trong ánh đèn pháo sáng đỏ lự chưa tắt trên nền trời đen, hắt rọi mãi mãi vào trang viết của tôi.

Nói thêm về hai câu thơ mở đầu trường ca. Đấy là câu khấn khi tôi đến viếng các chị ở Ngã ba Đồng Lộc và đã quỳ khóc trước phần mộ của các chị. Cạnh đấy có một bụi sả xanh um. Tôi khấn thầm với các chị xin các chị một tâm nguyện dâng hương, mong các chị chứng giám lòng thành trong khát vọng viết được tác phẩm tâm huyết này. Và chủ đề, bố cục tác phẩm cũng được nhen nhóm, hình thành từ giây khắc ấy, được ấp ủ mãi cho đến bảy tám năm sau mới chấp bút, đi suốt một mạch, trong hai năm trời…

Xin các chị cho em nén giữ trong lòng

Làn hương sả bắt đầu từ ký ức

Hình ảnh, các chi tiết trong trường ca, là những gì chưng cất, réo sôi chảy thành tâm nguyện trong huyết quản, ủ muồi vào hồn, có sẵn ở muôn mặt đời sống buột nhiên gặp cảm xúc trỗi dậy, hiện nên câu chữ. Ở trong một bài thơ ngắn, khi viết về chiếc ba lô: Chiếc ba lô mảnh vá mang ánh mắt mẹ rưng rưng, hình ảnh về chiếc ba lô có vệt mực loang lổ hiện ra, làm tôi cứ run run lóng ngóng với cây bút nhỏ. Đó là chiếc ba lô dây, mẹ tôi đã giặt giũ sạch sẽ trước ngày tôi lên đường, có rất nhiều vết mực tím. Đặc biệt có một chỗ vá. Trong ký ức tuổi trẻ, mỗi lần buộc mở ba lô, cái miếng vá ấy, hiển hiện ánh mắt của mẹ, mẹ theo tôi đi khắp đó đây, nhìn thấy điều con gái vụng dại, điều con gái mẹ trưởng thành cùng đồng đội. Và từ vỉa mạch tâm thức sâu thẳm tưởng đã bị vùi quên chợt đâu được đánh thức để chương trường ca Đồng Đội được hình thành cuộn lớp dồn thúc câu chữ…

* * *

 Sự gợi mở hình ảnh trong ký ức luôn chồng nén với nhiều lớp kỷ niệm được khẽ bóc như những lớp lụa mỏng tang rất dễ rách, dễ mất, xê dịch vào một cõi nào đó mà không trở lại. Tôi phải luôn có ý thức chộp bắt bật sáng nó thành mắt chữ nhốt giữ trong từng câu không câu nệ vần điệu, nhạc điệu. Phải là ý. Phải là tứ của từng khổ thơ nối khổ thơ, chương thơ, nối chương thơ mà nên bố cục, chủ đề lớn của trương ca. Với Lửa mùa hong áo: Tư duy chủ đề và nội dung trường ca được chọn là mạch tự sự, nương theo dòng nhật ký của nhân vật chính, tiểu đội trưởng của tiểu đội mười hai cô thanh niên xung phong. Và đấy chính là lời kể, phải đạt tới sự lắng đượm chất biểu cảm trữ tình (của nhân vật chính trường ca), lời khấn nguyện thành tâm ở Ngã ba Đồng Lộc (của tác giả) hòa quyện trong trường liên tưởng trực giác bừng sáng từ cảm xúc được ủ kín, ủ muồi.

Khi khai thác tư liệu, lật giở từng trang hồi ức của nhiều thế hệ thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước qua vài mươi cuốn sách ở nhiều vùng miền, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Trị Thiên… tôi luôn hướng tâm đến tính sử thi (lịch sử cụ thể), tính anh hùng ca…

Lúc đầu, Lửa mùa hong áo có tên Nhật ký để lại. Khi viết xong trọn vẹn mười bảy chương, trong cấu trúc bố cục mở và ở bản thảo sửa lần thứ năm trường ca này mới có tên Lửa mùa hong áo.

Bản gửi in ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân: được viết và chỉnh sửa hoàn chỉnh lúc đi dự trại viết Đại Lải năm 2003. Và trong việc sửa từng chương đoạn, câu và từ đâu phải năm lần bảy lượt mới mò mẫm hoặc tình cờ chạm được tới đáy cảm xúc sâu nặng nơi trái tim luôn thao thức luôn cảm thấy thiếu hụt, bất an vì lo âu viết không nổi, không diễn đạt nổi chủ đề, tâm nguyện cảm hứng.

Bản viết nháp lần thứ nhất viết trên giấy tiết kiệm, còn sạch một mặt có ở trên bàn hoặc ở đâu đó, chợt tìm thấy được vào các buổi sáng sớm, thi hứng trong trẻo, chờn vờn, câu chữ ngập ngừng lay động, ý tứ làm tỉnh dần như có tiếng con oanh hót sương tự lòng ngân lên. Có chương viết xong một mạch về bố cục, nhưng để hoàn chỉnh chương, cũng phải sửa, dập xóa chọn lựa từ ngữ rất khó khăn. Sự tu từ, gọi tìm chi tiết thơ để vùi được ý tứ chủ đề thơ, hành động thơ, diễn đạt, miêu tả về cuộc chiến đấu âm thầm ngoan cường của các binh đoàn thanh niên xung phong trên dọc các tuyến đường Trường Sơn, buộc người viết phải vươn tới tầm của một nhà ngôn ngữ học, tinh thông và điêu luyện, mới tránh chữ sạn, chữ thừa, chữ mòn, sáo ngữ…

Qua tư liệu, qua chuyến đi trở lại dọc đường Trường Sơn năm 1998 và đặc biệt là qua những gì tôi đã sống đã ấp ủ từ vài chục năm trước, trên mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa, ngôn ngữ của trường ca Lửa mùa hong áo phải mang được hơi thở, khí chất miền Trung, nhưng cũng vừa là ở mạch ngôn ngữ thuần Việt, hiện đại… Kỳ vọng thế, gắng lòng vươn tới.

Lửa mùa hong áo được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2003. Sau khi sách ra, tôi vẫn còn trằn trọc thức ngủ với nó, vì còn hai chương, một chương về Tư lệnh 559 Đồng Sĩ Nguyên và một chương về Thiếu tướng Võ Bẩm chưa viết nổi.

Và thực ra, tôi còn muốn viết lại một vài chương trong trường ca này như Lửa Phà miền Trung và chương Khúc hát những con đường… cho tốt hơn. Bởi những chất chứa trong lòng còn trĩu nặng, chưa bày tỏ, chưa nén sâu vào trang viết…

Lửa mùa hong áoTự khúc ánh sáng, hẳn phải chọn tâm thế sử thi – anh hùng ca để ủ muồi cảm hứng, trong quá trình lao động sáng tạo. Đây là tiêu chí quan trọng khi hướng tìm các nguồn tư liệu lịch sử, cụ thể cho việc hình thành đề cương, bố cục tác phẩm. Trong quá trình viết hai trường ca này, tôi luôn sống trong tâm trạng của nhân vật thơ, độc thoại với họ, nhập thân vào họ để cách nghĩ, khí tiết chiến đấu của nhân vật reo chảy âm thầm trong huyết quản. Chủ đề lớn lặn sâu vào chi tiết thơ, chương, khúc thơ, là một hành trình từ trường liên tưởng trực giác trào lên chứ không thể từ sự sắp xếp câu chữ có ý thức.

Lịch sử và tư liệu ủ muồi là vùng quặng thô, là khởi nguồn của mọi cảm hứng, nghĩa là đã có thể đi được nửa chặng đường sáng tạo ở trong tim óc. Nằm sâu trong tiềm thức, nó luôn động cựa, bật ra những cung bậc thơ bất chợt, chưa kịp ghi là mất. Tính biền ngẫu, tính văn điếu, tính văn tế trong cổ văn dân tộc của Nguyễn Trãi (Bình Ngô đại cáo), Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), Đặng Trần Côn (Chinh phụ ngâm)… ảnh hưởng lớn mạch cảm hứng, ngôn ngữ và thần khí của trường ca. Từ ngôn ngữ, hình ảnh, đến chi tiết thơ. Nhiều đêm mất ngủ, thức trắng, những cảm xúc ủ muồi trong tim chợp chờn soi tỏa, hối thúc cơ hội bừng sáng ý, tứ, câu, chữ. Thiết nghĩ đây là một sự may mắn được trích lũy từ cuộc sống của nghề văn – sống, đi, đọc và viết đã hòa quyện làm một dòng chảy nội lực, sức bút.

L.T.M

 

 

LÊ THỊ MÂY
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 259

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground