Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Thị trấn đầy nắng

Nếu ví thị trấn vùng cao Lao Bảo như một bàn tay thì những khóm bản từ hồi kinh tế mới Vĩnh Hoa, Xuân Phước, An Hà, Tân Kim, Duy Tân, Cao Việt, Ka Túp và Ka Tăng nằm một cách rất hợp lý như các “gò” trong tử vi: gò Thái Âm, gò Hỏa Tinh Âm, gò Thủy Tinh, gò Thái Dương, gò Thổ Tinh, gò Mộc Tinh, gò Hỏa Tinh Dương và gò Kim Tinh. Trong mịch mùng vô hình vô tướng của tử vi, Lao Bảo như một “bàn tay” chai sạn tượng trưng người kiến thiết đầy tài hoa.

Khách xa đến Lao Bảo chỉ cần một giờ đồng hồ ngồi trên xe máy ngao du một vòng là đi hết. Nhưng không vì nó nhỏ bé mà không có gì để khám phá. Con người mang theo hồn quê ở dưới xuôi lên sống ở các gò ở một vị trí như một lá số tử vi đó cũng là một bí ẩn nhưng chính ngay “đặc sản” - nắng Lao Bảo cũng có thể làm níu chân một ai đó giữa làn váy hoa của cô gái Vân Kiều?

Nắng ở khắp nơi, mưa ở mọi chốn thế mà ở Huế vẫn có một đặc sản là mưa Huế, cứ thê lê ngày này qua ngày nọ tạo thành một “bản sắc”. Tại sao nắng Lao Bảo không thành một thương hiệu?

Mùa đông ở miền Trung ẩm ướt, rét cắt da thịt và mưa dầm dề thì Lao Bảo với nắng hanh vàng, thoang thoảng chút lạnh nhu mì của miền sơn cước. Người ta đến đây, ngạc nhiên, thú vị và nghiễm nhiên nó trở thành thứ “hàng độc” của đất trời.

Không phải ngẫu nhiên mà người ta coi những tháng giáp tết, nơi này trở thành “thánh địa” của hàng nông sản. Vì ở đây đơn giản chỉ nhiều nắng để phơi khô. Từ lâu cây đót cũng tập trung về Lao Bảo dù cây đót ở vùng nào cũng có. Các vùng Hướng Phùng, Khe Sanh hay Đakrông đều bạt ngàn cây này. Thế nhưng dân buôn đã gom hàng đưa lên vùng đất biên cương này để sơ chế theo cách thủ công nhất là trải đều nó ra, phơi khô sau đó theo các chuyến xe đi về đồng bằng. Không những cây đót mà các món ăn phục vụ cho ngày tết như các thứ mứt, măng khô cũng đưa lên đây phơi cho được nắng.

Vùng đất Hướng Hóa có địa hình phức tạp, nơi đây được chia thành ba tiểu vùng khí hậu khác nhau. Mùa đông, nếu đi từ Đakrông lên Lao Bảo thì rất dễ nhận ra điều đó. Chỉ tính riêng đoạn Khe Sanh - Lao Bảo chừng 20 cây số mà đã khác. Huyện lỵ Khe Sanh thì ẩm ướt, sương mù trắng xóa, đi cách nhau vài mét là không nhìn thấy nhau vào mỗi sáng sớm. Đến trưa thì có mưa nhẹ, mặt trời như ngủ yên cả ngày trên chín tầng mây chẳng thấy ló dạng. Chỉ cần vượt dốc làng Vây, xuống ngã ba Tân Long nhìn lên phía Tây là Lao Bảo, nơi nắng vàng hươm, gió lành lạnh thật lý tưởng. Đến địa điểm giao thoa giữa Đông Tây - Làng Vây sẽ cảm nhận từng milimét cảm xúc như trong câu thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây/ Bên nắng đốt bên mưa quây.

Hồi còn học ở Huế, cứ mỗi lần có được vài ba ngày nghỉ tôi liền nhảy xe đò ra nhà chơi. Trong điện thoại mạ dặn đem áo quần bẩn ra đây mạ giặt cho, phơi đủ nắng để khỏi phải bị cái mùi thum thủm, ngai ngái vì ẩm do phơi lâu ngày không khô của đất kinh kỳ. Có như thế thôi mà tôi nhớ hoài cái đất trời của hai vùng “đặc sản”: mưa Huế và nắng Lao Bảo. Nhưng Lao Bảo còn có nhiều cái đặc sắc nữa, như cách ví bông đùa của mấy tay nghệ sĩ nửa vời. Nào là thị trấn “lao đao”, thị trấn của hàng lậu (vì có lao đao mà người ta buôn lậu), thị trấn đặc khu (vì nơi này có đặc khu kinh tế đầu tiên của cả nước) hay thị trấn của siêu thị và xe hơi…

Ngược dòng lịch sử để thấy vùng đất có nhiều cái đặc sắc này thì ra nó lắm truân chuyên.

Năm 1491, triều Lê định lại bản đồ cả nước, Lao Bảo thuộc châu Thuận Bình, bên cạnh là châu Sa Bồi (hay còn gọi là Sa Bôn, Na Bôn tức là huyện Sê Pôn - Lào ngày nay), cả hai châu này đều thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong.

Năm 1622, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho rằng: “Sông Hiếu ở xã Cam Lộ thuộc huyện Đăng Xương giáp với đất Ai Lao, các bộ lạc Man, Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp đều có đường thông đến đấy, bèn sai đặt sinh, mộ dân chia làm sáu thuyền quân để coi giữ, gọi là dinh Ai Lao” (Theo sách Đại Nam thực lục tiền biên, tập I, NXB Sử học, HN 1962).

Có lẽ, trước chúa Sãi, Lao Bảo chỉ biết là một phên giậu phía Tây giáp với đất Ai Lao, ngoài người Thượng định cư ở đây từ lâu thì người miền xuôi xem đây là vùng đất xa xôi, chỉ biết qua lời nói.

Dinh canh phòng được đóng cạnh sông Sê Pôn, nơi có ngôi làng tên là làng Bảo của người Vân Kiều và một số cư dân người Ai Lao sống xen kẽ. Xứ này rừng thiêng nước độc, rất phù hợp cho phạm nhân, một đi không trở về nên chúa Nguyễn đã cho lập cái dinh này, về bản chất nó là một nơi lưu đày các phạm nhân của triều đình, bị điều lên đây vừa tù đày vừa làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương.

Đến năm 1883, vua Minh Mạng hạ lệnh đắp dinh Ai Lao và đổi tên thành Bảo Trấn Lao với chu vi 90 trượng, cao 6 thước, mở 2 cửa có 50 lính đóng quân.

Năm 1899, thực dân Pháp sáp nhập Lào vào Đông Dương thuộc Pháp, chia một nửa huyện Thành Hóa (tức Hướng Hóa) sáp nhập với tỉnh Savannakhet, Lào; phần còn lại (trong đó có Lao Bảo) thuộc về Việt Nam. Bổ sung đoạn nhà tù thời Pháp.

Về tên gọi địa danh Lao Bảo, có thể bắt nguồn từ tên Bảo Trấn Lao có từ thời nhà Nguyễn. Cũng có người cho rằng nó bắt nguồn từ địa danh làng Bảo của người Vân Kiều nằm sát bên sông Sê Pôn mà ngày nay là bản Ka Túp thuộc thị trấn Lao Bảo.

Ở miền Trung vào thời Pháp thuộc, bọn quan lại thường dọa nạt, cảnh báo với người dân chống lại sự hà khắc của chúng bằng câu ca: “Không nạp sưu thì đi Côn Đảo/ Không nạp thuế thì dạo Côn Lôn/ Mày về nói với vợ con/ Nếu đi Lao Bảo chẳng còn về đâu, con à”. Điều đó thấy được sự khắc nghiệt, gian khổ của cuộc sống nơi xứ này.

Chiến tranh kết thúc, địa danh này cũng chỉ là nơi “khỉ ho cò gáy”, ít người qua lại mặc dù đường 9 lúc này đã thông thoáng, không còn đồn bốt của đế quốc. Tất cả chỉ là rừng già, xác máy bay và bom đạn còn sót lại sau chiến dịch giải phóng Khe Sanh vào năm 1968 và chiến dịch Lam Sơn 719 (chiến dịch đường 9 Nam Lào) năm 1971.

Tháng 9 năm 1975, tỉnh Quảng Trị kêu gọi người dân huyện Triệu Phong đi xây dựng kinh tế mới tại vùng Hướng Hóa (lúc này bao gồm diện tích đất của huyện Đakrông ngày nay). Người dân những xã của huyện Triệu Phong đã mang theo tên làng tên xã lên sống dọc theo Quốc lộ 9 như Triệu Thành, Triệu Long thành Tân Thành, Tân Long lúc lập xã kinh tế mới. Một bộ phận người dân xã Triệu Phước được bố trí lập nghiệp tại Lao Bảo, lúc này Lao Bảo được đổi tên thành xã Tân Phước với các tên làng mới mang theo từ tên làng dưới xuôi ghép lại: làng Duy Tân (tên gốc làng Duy Phiên), làng Dương Xuân (ghép từ làng Dương Xuân và làng Phước Lễ), làng An Hà (ghép từ làng An Cư và Hà La), làng Cao Việt (ghép từ làng Cao Hy và Việt Yên), làng Vĩnh Hoa (ghép từ làng Vĩnh Lại và Hoa Lý), làng Tân Kim (gốc là làng Lưỡng Kim). Lúc này các khóm dọc đường 9 như Đông Chín, Trung Chín và Tây Chín chưa hình thành. Làng Duy Tân, một làng quê thuộc cù lao Bắc Phước, xã Triệu Phước là một trong những làng cách mạng nổi tiếng dưới xuôi được bố trí nằm sát nhà tù Lao Bảo, nằm ngay khúc uốn của sông Sê Pôn. Những làng còn lại được bố trí dọc sông Sê Pôn để gần nguồn nước sinh hoạt và dễ canh tác. Lúc này một làng chỉ vài ba ngôi nhà, cách nhau bằng những rẫy sắn hay rừng rậm. Nhà nước chỉ hỗ trợ lương thực vài tháng, phần còn lại người dân tự canh tác để duy trì. Cây sắn là cây lương thực phổ biến ở giai đoạn này. Người ta sống tháng này qua tháng nọ bằng sắn, rau trong khi lúa không làm được vì ruộng không có, mà lúa rẫy hay còn gọi là lúa khô như người Vân Kiều thì người miền xuôi không quen làm nên đói kém, bệnh tật là điều khó tránh khỏi. Có một bộ phận đã không chịu được sự khắc nghiệt, cơ cực đã bỏ về đồng bằng hay vào Nam làm ăn.

Xét về lợi thế thì người dân vùng kinh tế mới Lao Bảo không lợi thế bằng các vùng khác như vùng Tân Liên hay Khe Sanh. Hai địa phương này là đất bazan màu mỡ, dễ canh tác còn Lao Bảo là vùng đất bạc, chai cứng. Người ta bảo chẳng trồng gì để có hiệu quả kinh tế cao ngoài cây sắn. Có một thời người dân kinh tế mới đi vay gạo người Vân Kiều ăn vì quá thèm cơm. Người ta ăn sắn, rau lá qua ngày để duy trì tìm kế sinh nhai. Thời gian đầu dân ở đây vào rừng tìm phế liệu, vùng này nhiều xác máy bay cháy rơi xuống ở những cánh rừng sâu. Họ tìm kim loại quý trong đó rồi đưa về đồng bằng bán lấy tiền mua gạo. Để đưa được phế liệu từ Lao Bảo về dưới xuôi hay đưa gạo từ dưới xuôi lên nơi này thật kỳ công, phải đi bộ hai ngày hai đêm trên con đường 9 cheo leo, dốc đứng. Hết phế liệu rồi họ tìm cách qua Lào mưu sinh, buôn bán. Từ đó, dân ở đây theo cái nghiệp mua chín bán mười đó cho đến bây giờ.

Tên Lao Bảo đã được trả lại sau khi điện lưới quốc gia kéo đến, xã Tân Phước được thay bằng thị trấn Lao Bảo cho đến ngày nay.

Gần 40 năm hình thành và phát triển, Lao Bảo đã thực sự khởi sắc khi có khu thương mại. Những khóm dọc đường 9 được xem là tinh hoa của Lao Bảo như cách người dân ở đây gọi. Bởi lẽ những ngôi nhà mới khang trang mọc lên ở đây đều có nguồn gốc từ những làng dọc sông Sê Pôn hay nói cách khác họ là những người giàu có của làng mới có tiền ra ở tại những miếng đất vàng của thị trấn. Tại thời điểm đó là vậy nhưng chỉ cách đó chục năm, dọc đường 9 chỉ toàn là rừng rậm, lau lách, chẳng ai dại gì ở đây vì xa nguồn nước, đất lại cứng đến cuốc cũng phải mẻ.

Những người như tôi là thế hệ thứ hai ở Lao Bảo, ít nhiều tuổi thơ đã trải qua những ngày nắng gió trên triền đồi đào củ đậu nghe mấy già làng người Vân Kiều kể chuyện đánh Mỹ, cùng đám bạn lủi vào cánh rừng nằm sát hồ cá để chặt tre, bắn chim mà bây giờ người ta san phẳng để làm trung tâm thương mại. Có thể nói đây là khu đất đẹp nhất Lao Bảo nhưng cách đây chừng chục năm nó là cánh rừng âm u, có nhiều bom đạn. Bên cánh rừng này là hồ cá, cái vùng trũng có nhiều thuốc bồi (thuốc súng), mỗi lần học về chúng tôi thường nhảy xuống mò cá cùng với mấy cô gái Vân Kiều. Mò cá, tôm chán lại đi dọc mép bờ nhặt thuốc bồi về đổi kẹo ở mấy bà bán quán nằm gần trường. Thuốc bồi hạt nhỏ bằng múi đũa, dài hơn hạt gạo một tí dùng mồi lửa hay tuyệt. Hồ cá là nơi người Lao Bảo tổ chức đua thuyền hàng năm. Hồ có lúc cạn trơ đáy nhưng từ lúc quy hoạch xây dựng công viên đến giờ chưa lần nào cạn nữa. Hồ nằm ở trung tâm của thị trấn, đó là linh hồn của đô thị ở phố núi này. Người ta gọi hồ với cái tên rất đẹp hồ Tâm Thủy, vì hồ có hình như trái tim. Nếu đứng ở đỉnh Đồi Chua, nằm bên đường quốc phòng Lao Bảo - Hướng Phùng sẽ thấy nước mặt hồ như một trái tim, sáng lấp lánh bên cạnh sông Sê Pôn.

Bây giờ trời đang mùa đông. Những chuyến xe du lịch từ mọi miền lên Lao Bảo mua sắm tấp nập. Ngoài mua sắm, người ta thưởng thức chút nắng vàng giữa tiết trời se lạnh thật đẹp và không quên trầm trồ về một nơi lý tưởng cho việc “trú đông”.

Dọc tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, ở phía địa đầu của Tổ quốc, Lao Bảo như một bàn tay nhỏ nhắn nhưng mạnh mẽ chìa ra để bắt tay với những ai đặt chân đến nước Việt.

Y.M.S

Yên Mã Sơn
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 266

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground