Khi còn ở thị xã Quảng Trị, thỉnh thoảng vào những sớm mai đẹp trời, tôi thường bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ rải bánh xe qua đường Ngô Quyền ven bờ sông Thạch Hãn. Chị đạp thong thả đến mức đứng bên đường có thể ngó thấy cái mủng buộc sau xe có những loại hoa nào. Mùa hạ thường là hoa sen hồng, các búp hoa nghiêng vào viền mủng. Sang mùa thu thì hoa sen trắng, những cánh muốt thanh khiết. Và bao giờ trong cái mủng đơn sơ ấy cũng có những nắm hoa nhỏ buộc bằng dây chuối khô. Mỗi nắm có đủ màu vàng, đỏ, tím. Vàng của hoa vạn thọ, đỏ của bông trang, tím của hoa mào gà… những thứ bông bình dân trồng trong vườn nhà quê. Người ta gọi hoa bán kiểu ấy là hoa nạm (nắm), tức là nắm vừa trong lòng bàn tay. Mỗi nắm hoa chỉ dăm ba ngàn bạc, mua về đặt cúng ngay, khỏi cần bày cắm lu lọ. Hoa nạm dùng cho lễ cúng đất, hay cúng giữa trời, nghi lễ cúng tế thập loại chúng sanh - một nghi thức nhân văn trong tục cúng bái của dân Việt. Người dân thị xã có lẽ hiểu sâu hơn cả nghi lễ này, bởi trên mảnh đất gọi chung Thành Cổ, cuộc tang thương 1972 chưa nguôi hết những xót xa. Và những nắm hoa nhỏ luôn có trong các lễ cúng gia đình, hay đặt ở bên bờ sông và thả theo dòng nước. Ý tưởng bắt nguồn từ trong ý niệm. Rồi ý tưởng cũng hòa trong ý niệm, khi bây giờ trở về thị xã mỗi đêm rằm để lặng mình nhìn những búp hoa đăng sáng trên mặt sông Thạch Hãn.
Tôi không rõ chị chở hoa ấy người làng An Tiêm, hay Cổ Thành, hay Hậu Kiên, nhưng mỗi rằm, chị đạp xe qua con đường như một cái gạch nối từ làng lên phố. Mang theo một cái gì đó của làng lên phố, ngoài hoa là hương, ngoài hương là hồn cốt chẳng hạn. Thị xã cũng như một cái làng mà thôi, nói như thế không có nghĩa là xem nhẹ. Thực ra gốc đất của thị xã là làng Thạch Hãn, làng Trí Bưu, làng Hạnh Hoa... Mỗi làng góp vào đây phần đất của mình, cùng nếp sống và hương hồn cốt vía. Có thể nhìn thấy nét làng của thị xã qua hình ảnh giản dị như chị chở hoa vừa nói trên. Cứ như thể chị không phải đi lên phố, mà chỉ là đi qua một cái làng nào đó nằm bên sông. Thêm nữa, một vài chỗ của thị xã cũng mang tên gọi dân dã quê kiểng như gốc Bầu, cầu Trắng, cầu Đen,… Cách đặt tên của người xưa đã vậy, cách đặt tên hôm nay vẫn vậy. Một quán bán cháo đầu lòng heo buổi sáng của ông chủ tên Lường thì gọi “cháo lòng Lường”, nghe xuôi lưỡi và vui vui, kiểu đem hết ruột rà mà cung phụng thiên hạ. Quán thịt gà chỉ bán buổi chiều của bà Thiềm ở ga thì gọi “gà mụ Thiềm”, nghe vui vui như là gà đang chạy trong vườn, bắt ra đãi khách.
Ai từng sống ở thị xã đều có cảm giác đang ở trong một cái làng. Ấy là nói về không gian sống gần gũi thân thiện, và môi trường văn hóa bình dân, chừng mực. Cả phố biết tên nhau. Nhắc đến một ai đó là biết cả gốc tích tuổi tác nghề nghiệp, không lẫn vào đâu được. Gặp nhau một lần nói đôi điều ba chuyện là thành bạn. Cái sự dễ hòa đồng là một tính chất của lối sống hợp chủng. Kiểu như đô thị Sài Gòn là một hợp chủng từ Nam Kỳ Lục tỉnh, bây giờ có thể nói không quá là hợp chủng quốc, ai vào đấy cũng sống được. Cũng như thế, thị xã Quảng Trị vốn là một hợp chủng của các làng quê Thuận Châu. Chỗ giao nhau thường giao thoa văn hóa và lối sống, chấp nhận và kiến nhập được mọi điều, dễ người dễ ta, khó người khó ta.
Trong cái làng - nội - thị ấy có những con đường thẳng và ngắn, đến mức đứng đầu này đường có thể nhìn thấy tận đầu kia. Thậm chí có thể gọi một ai đó tít tận cuối đường. Hình như lối kiến trúc giao thông này giống nhau giữa các chốn xưa vua chúa từng ngụ. Năm 1809, vua Gia Long dời dinh lỵ đến xã Thạch Hãn (thuộc thị xã Quảng Trị bây giờ), lập nên lỵ sở Quảng Trị và gầy tạc kiến trúc thị xã mang dáng dấp một trung tâm hành chánh quan triều, trong đó tiêu biểu là Thành Cổ và những con đường bao quanh rất thẳng. Thấp thoáng đâu đây bóng dáng của Thành Huế, cũng có những con đường thẳng và ngắn để phù hợp cung cách đi lại của hoàng tộc. Nhà thơ Thu Bồn có lẽ là người quan sát kinh thành Huế rất kỹ về điều này mới viết câu thơ đầy cảm quan về kiến trúc cố đô “nhịp cầu cong và con đường thẳng”.
Phố thì ngắn nhưng ai đi xa trở về thị xã Quảng Trị đều có thể bắt gặp một góc quen, một hình ảnh cũ nào đó. Phố thị giữ nguyên cho người ta được ký ức thật không phải dễ, nhất là trong một thị xã nhỏ bé mà vẫn còn những khoảng không gian xưa và những con người cũ. Cái chỗ ngã ba rẽ vào Thành Cổ chẳng hạn, mười lăm năm trước khi còn học phổ thông tôi đã từng sửa xe đạp ở chỗ này. Chú thợ người đâu dưới xã Triệu Thành sáng sáng đạp xe phía sau chở hòm gỗ đồ nghề lên chỗ ngã ba này, lót một cục gạch ngồi mà thành ra quầy quán, giúp ích cho bao nhiêu người trục trặc lỡ đường. Vậy mà hôm nay quay lại, vẫn thấy chú ấy ngồi chỗ đấy, vẫn cái hộp đồ nghề ấy. Phải chăng là chính con người ở đấy cũng muốn lưu giữ chính mình, không muốn đánh mất mình, vì một cái danh dự nào đó thuộc về thân thế địa thế. Cũng như cái thị xã này từng có một vinh dự rất lớn là được Toàn quyền Đông Dương chọn làm trung tâm tỉnh lỵ của Quảng Trị, đầu thế kỷ hai mươi. Ngót trăm năm sau kể từ vinh dự ấy, người các vùng quê lân cận vẫn gọi thị xã là tỉnh (trong cái chữ tỉnh lỵ). Ví dụ nói đi lên tỉnh, đi chơi tỉnh, đi chợ tỉnh… là biết đang nói tới thị xã Quảng Trị.
Tôi từng được ông nội cho “đi chơi tỉnh” từ lúc còn rất nhỏ. Đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước thị xã có một màu nắng chiều rất lạ. Đi qua chiếc cầu sắt mà người ta gọi cầu Ga nhìn ánh nắng rọi xuống mặt sông lấp lánh vàng, cát ven sông buổi ấy cũng vàng. Ngó mấy cái xe đò chạy qua chạy về, ngửi mùi khói xăng khét rẹt mà thèm được lên đó ngồi. Đi chơi tỉnh thích nhất được uống một thứ nước xirô đá bào màu đỏ ngọt lịm mát lạnh, thứ mà ở làng không thể có. Thích nữa là được vào cửa hàng cassette Anh Ngọ ở chỗ khu đa chức năng xem hình mấy cô ca sĩ in trên hộp băng, được ông nội mua cho mấy cái băng nhạc vàng trước bảy lăm. Lần nào đi tỉnh cũng chừng ấy chuyện nhưng rất háo hức. Thị xã trong trí nhớ trẻ con của tôi là một thành phố hiện đại, cuốn hút. Sau này đọc thơ Nguyễn Bính, thông cảm được cho cái cô gái đi chơi tỉnh về thì hương đồng gió nội ít nhiều bay đi.
Trên những con phố ngắn của thị xã Quảng Trị luôn rợp bóng cây xanh mà thị xã thì nhỏ đến mức có thể nhớ hết mỗi góc đường có loài cây nào, nở hoa gì. Và một mùi hương không gì đậm đặc hơn là hoa sữa vào mùa lạnh, cứ cuối thu thì những chùm hoa bật hương và đến lúc sang đông, nó ngan ngát cô đặc lại cả phố phường. Tôi đếm được hai cây hoa sữa, một ở chỗ quán cà phê Sông Xanh, một ở ngay sân Ủy ban thị xã. Khi tôi còn tá túc trong căn phòng công vụ của Ủy ban, sáng mùa đông thức giấc thấy bác Mãi bảo vệ cầm chổi quét hoa rụng đêm qua, vừa quét vừa “chửi” hoa chi mà buổi tối nồng nặc không cho người ta ngủ, sáng dậy đã gói ghém giấu đi. Có lẽ đấy là hoa của tình yêu, khiến đêm thao thức và ngày giấu tăm. Những buổi tối se lạnh không mưa, đi trong lòng phố ngập hương, mơn man mùi hoa miên man nỗi nhớ, gợi cho người ta cảm giác đang được yêu. Thoảng nghe đâu đây câu hát cũ của nhạc sĩ Huyền Anh được nghe trong cái băng cassette cũ, “Quảng Trị dấu yêu, nơi người dân tôi khao khát hiền hòa, nơi tình nhân tôi nuôi mộng ngọc ngà, nơi đôi môi lần thứ nhất quen nụ hôn, quen nụ hôn trao nhau để nhớ hoài hoài”… Đấy là những câu hát viết riêng cho thị xã mà mỗi lần nghe, tôi cứ mường tượng cảnh một buổi tối, dưới vòm hoa sữa thơm có đôi tình nhân đang trao nhau một tín hiệu yêu.
Tự nhiên ban cho thị xã một cốt đất màu mỡ, mà lạ thay, sự trỗi dậy của cỏ như minh chứng cho niềm bất diệt và kiêu hãnh. Rồi cũng chính tự nhiên cấy ghép vào đất những loài sinh vật rộn rã âm thanh. Sau mưa ếch nhái gáy vang, trăng lên dế rung cánh cất tiếng. Trong thinh lặng, lắng nghe từ dưới chân cỏ cả tiếng cựa mình của châu chấu cào cào. Đêm ở thị xã thường sâu và tịch hơn vì những tiếng kêu côn trùng. Một bản nhạc đồng quê tấu lên du dương êm ả.
Thị xã nằm bên sông, mỗi năm đến mùa mưa nước ngoi ngoi là đã có vài chỗ ngập. Ủy ban thị xã lúc này như một đám đất đình cao ráo, người dân đưa xe máy đến gửi tự do. Nước rút lại đến dắt về, khỏi phải lo bị lấy mất. Nhìn người ta đưa xe đến gửi, tôi cứ nghĩ như thế mới là Ủy ban nhân dân chứ, phải là của nhân dân và gánh đỡ cho nhân dân trong mọi hoàn cảnh. Ta hay nghe nói đến hai chữ gần dân, nhưng dân cũng có quyền được gần quan chứ. Dân coi cơ quan công quyền như một cái đình chung của làng, ấy là diễm phúc chứ không phải xem thường. Đấy là nét thân thiện xuất phát từ cuộc sống thôn quê còn giữ được ở thị xã này.
Có một buổi sáng rét se se, thị xã ùa về một loáng sương nhẹ đậu trên những bông nhất chi mai đỏ chót. Bầu trời nhờ nhờ trắng như màu nước gạo đã qua một đêm ủ trong cái rét chín mùa. Cả một màn trắng mênh mang như thế, không cách nào tìm thấy đám mây. Cuối con hẻm cũ, ai đó vừa thắp nén nhang khiến cả góc phố dậy thơm mùi một mâm cỗ xuân. Cụ ông mặc áo ấm, đội chiếc mũ len chắn vừa ngang chân mày, cẩn thận trảy từng chiếc lá mai cho búp nở nhằm dịp tết. Tôi có cảm giác người thị xã luôn thường trực một ý niệm về lễ lược và sẵn sàng chuẩn bị cho mọi thứ được chu đáo. Chẳng hạn ở cái góc nhỏ bên cạnh chùa Tỉnh Hội là nhà bác Tư. Trước chiến tranh bác Tư sống ở chùa, sau rồi đạn bon loạn lạc, bác rời chùa và làm nghề bán văn sớ cúng, biên soạn gia phả. Bác Tư lục tủ lấy ra mấy con ấn làm bằng gỗ mít đã xưa, những tập gia phả các dòng họ viết bằng chữ Hán được bác biên dịch cẩn trọng. Rồi những buổi chiều, bất kể lễ tết, ngày rằm hay ngày thường, ghé chợ thị xã đều bắt gặp ngay những quầy hàng đầu tiên là mấy mệ ngồi trải mẹt bán cau trầu, giấy áo vàng mã… Những hình ảnh ấy khơi dậy cho người ta chút dư vị cổ kính.
Có lần đón mấy người bạn về thị xã chơi, đến lúc muốn mời bạn đi ăn một cái gì đó mới thấy lúng túng. Bạn thắc mắc thị xã không có đặc sản ẩm thực ư? Tôi nói đùa rằng người ta về thị xã khóc no con mắt rồi còn ăn uống chi được nữa. Mà đúng như thế, các đoàn cựu chiến binh hay du khách về thị xã hầu như là đi tìm ký ức - một món ăn cho tâm hồn, hơn là tìm sự thưởng thức vị giác. Tôi đã từng chứng kiến những người cựu binh say sưa ôm đàn hát và khóc bên sông Thạch Hãn. Đến bữa ghé ăn một cái gì đó chiếu lệ, uống một chút gì đó tượng trưng, kiểu như đang chia sẻ những ngày tháng đói khát cùng đồng đội xưa.
Những món ăn quen thuộc có tiếng ở thị xã là nhờ các vùng lân cận mang đến góp vào, chẳng hạn bánh ướt từ mạn làng Phương Lang đưa lên, cháo bột từ trong làng Diên Sanh mang ra… Cái thú ẩm thực nhẹ nhàng ở thị xã thường nằm khiêm nhường trong một hẻm nhỏ và giản dị trên từng con phố. Có thể bắt gặp ngay một cái xe đẩy chè ngọt đi bán dạo quanh phố buổi sáng. Hay một gánh đậu hũ vừa đi vừa rao buổi chiều. Tiện đâu có khách thì dừng lại, đặt cái gánh xuống, mời người ăn dùng luôn tại chỗ. Tôi nghĩ rằng đậu hũ phải được bán theo kiểu đó mới đúng tên là “tàu hũ”, một kiểu ẩm thực di động, một kiểu nếp ăn lót dép ngồi lê quê kiểng. Dường như cái sự giản dị này phù hợp với lối sống của một thị xã biết cam nhẫn và vị tha, biết bằng lòng và dễ chấp nhận những được mất của lịch sử.
Và con người, cả cỏ cây nơi ấy cũng cổ kính, giản dị đến khiêm nhường.
H.C.D





