Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tiếng khèn đầu nguồn suối Ba Nên

Tiếng khèn du dương, mạnh mẽ cất lên ở đầu nguồn con suối Ba Nên trên dãy Trường Sơn hùng vĩ đã kéo chân chúng tôi đến nhà Pạ Hôm, người nghệ nhân âm nhạc dân tộc tài hoa, niềm tự hào của đồng bào Bru-Vân Kiều đang sinh sống trên điệp trùng những thung sâu núi rừng miền Tây Quảng Trị. Từ cầu treo Đakrông đi chừng 40 cây số theo đường Hồ Chí Minh uốn lượn và 10 cây số đường rừng hiểm trở, chênh vênh giữa một bên là vách núi dựng đứng một bên là vực sâu hun hút mới đến được bản Cựp, bản xa xôi nhất của xã Húc Nghì. Anh Hồ Văn Lương, Cán bộ phụ trách Văn hóa thông tin xã là một người dẫn đường nhiệt tình và vui tính, suốt dọc hành trình anh kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện thú vị về mảnh đất này. Sau hơn hai giờ chạy xe qua những cung đường đèo cua gấp, khúc khuỷu như những nét bút đứt quãng, nguệch ngoạc chấm phá lên bức tranh màu xanh mướt mát của rừng già, chúng tôi đặt chân đến bản Cựp.

Giữa trưa, bản làng yên ắng lạ. Xen lẫn dưới những tán lá rừng thấp thoáng những bóng nhà sàn thưa thớt của người Bru-Vân Kiều, những cột khói mỏng tang tỏa ra từ các mái nhà lợp lá cọ in vào nền trời xanh thẳm. Nhiều người dân trong bản hướng ánh nhìn tò mò, lạ lẫm xen lẫn hiếu kỳ về phía chúng tôi khi thấy người lạ xuất hiện ở nơi hẻo lánh này. Nhà Pạ Hôm dần hiện ra, một ngôi nhà sàn đơn sơ lọt thỏm giữa ngút ngàn cây xanh trên ngọn đồi Tu Ren. May mắn Pạ Hôm có nhà, ông đang ngồi bên bếp lửa tỉ mẩn gọt đẽo ống tre nứa làm các vật dụng sinh hoạt gia đình. Gặp khách từ đồng bằng lên, già Hôm rất niềm nở, hồ hởi ngừng ngay công việc đang làm. Pạ Hôm gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ đầu tiên là sự cởi mở, nụ cười rạng rỡ, hào sảng, đôi mắt tinh anh, đôi tay linh hoạt và cơ thể rắn rỏi, đúng chất của những người con được sinh ra và nuôi dưỡng bởi rừng già.

Khách miền xuôi lên được chủ nhà miền ngược chiêu đãi món rượu mà già Hôm gọi vui là “rượu chôn”, rượu được ủ suốt mười ba tháng trời dưới lòng đất sâu và phải đặc biệt tránh từng cơn nắng gắt, những trận mưa xối xả của núi rừng, đúng kỳ hạn mới được đào lên. Pạ Hôm chia sẻ cho chúng tôi công thức và bí quyết ủ rượu, nghe thì đơn giản nhưng tôi biết để ra được vò hượu ngon thì không phải ai cũng làm được. Anh Lương cười nói với tôi “Uống đi, rượu này quý và tốt cho sức khỏe. Chỉ Pạ Hôm mới có thôi, chính a nhì (tiếng Vân Kiều để gọi người chú hoặc cậu) nghĩ ra công thức và ủ men, mến khách lắm a nhì mới mang ra đấy”. Rượu có vị ngọt thơm của nếp trên rẫy, mật ong trên rừng được chắt lọc suốt một mùa dài. Giữa không gian thâm u của miền sơn cước men rượu mang lại cho người thưởng thức cảm giác lâng lâng, chếnh choáng.

Gia đình Pạ Hôm tiếp chuyện chúng tôi bằng tiếng Kinh, nhưng thỉnh thoảng họ nói với nhau bằng tiếng Vân Kiều. Mặc dù nghe không hiểu nhưng tôi vẫn cảm nhận được sự gần gũi, hòa ái từ họ. Những lúc cần thiết anh Lương sẽ trở thành người phiên dịch để kết nối câu chuyện. Bà Pỉ Hôm (vợ của Pạ Hôm) đi làm rẫy về thấy có khách đến nhà chơi, lật đật chạy vào bếp đổ mớ bắp luộc ra mời, cô con gái lúi húi bên bếp lửa nướng thịt dúi, cô khoe mới bắt được hồi sáng sau vườn, thịt ăn ngon lắm. Cuộc sống ở bản Cựp còn thiếu thốn nhiều thứ, thiếu điện, không có sóng điện thoại nhưng họ vẫn sống lạc quan, họ tìm thấy niềm vui từ những điều thật giản dị.

Pạ Hôm hào hứng kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng ông tham gia cách mạng, một người lính đã kinh qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc với những câu chuyện, những kỷ niệm thật thiêng liêng sâu sắc trọn đời không quên. Pạ Hôm tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Lên 13 tuổi, Hồ Văn Tư (tên khai sinh của Pạ Hôm) đã là giao liên dọc tuyến biên giới Việt – Lào, địa bàn hoạt động chủ yếu ở Mường Nòng (Lào). Đến những năm chiến tranh chống Mỹ, Pạ Hôm tham gia dân quân du kích địa phương hoạt động bí mật ở vùng A Lưới, Tà Rụt. Những năm trong quân ngũ ông vừa tham gia chiến đấu vừa tham gia đội văn công phục vụ bộ đội. Giữa những giờ phút bom đạn tạm lắng, tiếng đàn, tiếng hát của Pạ Hôm đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần chiến đấu cho bộ đội. Pạ Hôm hát được nhiều làn điệu dân ca của dân tộc Vân Kiều như tà oải, sà nớt, oát… và cả những bài hát kháng chiến, các làn điệu dân ca của nước bạn Lào. Tò mò, tôi nài nỉ ông hát một bài nghe chơi. Pạ Hôm nở nụ cười tươi:  “Bố hát không hay mô”. Nhưng liền đó ông đã hát cho chúng tôi nghe nhiều làn điệu dân ca dân tộc Vân Kiều, Lào. Với lối hát tự nhiên, mộc mạc Pạ Hôm đã truyền cho người nghe cảm xúc da diết và lay động lòng người.

Năm 1995, Pạ Hôm được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Sau ngày đất nước hòa bình, ông về lại bản làng dựng xây cuộc sống mới và tiếp tục theo đuổi niềm đam mê với các loại nhạc cụ truyền thống, để tiếng đàn, tiếng hát vẫn tiếp tục cất lên ngân rung trong sự đùm bọc yêu thương của đồng bào và vòng tay che chở của núi rừng quê hương.

Pạ Hôm với tay lên chái bếp lấy xuống từng món nhạc cụ được ông cất giữ kĩ lưỡng, một kho âm nhạc phong phú, tất cả đều do chính tay ông làm ra. Theo như lời của anh Hồ Văn Mười, Phó Chủ tịch UBND xã Húc Nghì thì Pạ Hôm là người Bru-Vân Kiều duy nhất ở xã Húc Nghì còn lưu giữ được hầu hết các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình. Bộ nhạc cụ của Pạ Hôm có 7 món: Tà rè, Thanh la, đàn Ta lư, Tro, A mam, Khui, Khèn. Từ những nguyên liệu sẵn có như tre, nứa, cây giàng, trúc, qua bàn tay khéo léo, tài hoa của Pạ Hôm tạo ra những âm thanh thật độc đáo tuyệt vời và quyến rũ. Mỗi loại nhạc cụ đều có ý nghĩa riêng và được sử dụng trong từng trường hợp cụ thể. Pạ Hôm lần lượt giới thiệu: “Đây là khèn bè, dành cho đám cưới hoặc liên hoan; thanh la dùng trong lễ hội đâm trâu hoặc là đám cưới. Cái này là Ta lư dùng để đi Sim, làm đám cưới hoặc làm lễ hội. Tro làm từ cây tre, dùng để đi Sim, đi chơi lúc ban đêm trời sáng trăng…”. Pạ Hôm cho biết: “Thời chiến tranh các nhạc cụ bị bom đạn làm hư hại, thất lạc hoặc mất mát không còn món nhạc cụ nào. Nhưng khi hòa bình lập lại, già đã chế tác lại các nhạc cụ để bảo tồn một nét đẹp văn hóa truyền đời của dân tộc mình…”. Pạ cũng không còn nhớ rõ mình đã làm được bao nhiêu chiếc khèn, chiếc đàn Ta lư, bao nhiêu chiếc kèn A mam, tro, khui… chỉ biết là nhiều lắm. Bây giờ vẫn có nhiều người, nhiều tổ chức tìm đến Pạ Hôm đặt ông làm các loại nhạc cụ, Pạ Hôm vui vẻ nhận lời. Với ông đây cũng là một cách để mang âm nhạc của đồng bào Vân Kiều lan tỏa đến nhiều người, nhiều vùng đất, góp phần lưu giữ nền âm nhạc truyền thống của người Bru-Vân Kiều không bị thất truyền, mai một theo năm tháng. Quý giá nhất đối với Pạ Hôm là chiếc thanh la, đây là nhạc cụ mà ông được thừa kế lại từ người ông nội và người cha quá cố của mình. Pạ Hôm còn có những món đồ vật rất lạ mắt, chúng không phải là nhạc cụ, không phát ra âm thanh, chỉ là những vật được ông làm từ rất lâu và giữ làm kỷ niệm. Ông cho tôi xem cây “chim”, nó được làm từ sau ngày giải phóng, thời ấy nhà nào cũng có cái này. Pạ bảo cánh chim là biểu tượng của hòa bình, thể hiện khát khao xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc của bản làng.               

Âm nhạc Bru-Vân Kiều như suối nguồn trong mát tự nhiên tan thấm vào tâm hồn chàng trai Pạ Hôm từ nhỏ. Pạ Hôm tự hào rằng ông may mắn được sinh ra và lớn lên giữa cái nôi văn hóa màu mỡ của cộng đồng các dân tộc Bru-Vân Kiều sinh sống trên dãy Trường Sơn kỳ vĩ. Ngay từ lúc còn nhỏ, Pạ Hôm đã có niềm yêu thích mãnh liệt với âm nhạc dân tộc, ông nổi tiếng khắp vùng về ham đàn, mê sưu tầm nhạc cụ, món nào không có ông phải tìm kiếm cho bằng được. Chính ông nội và cha là những người đã truyền tình yêu với âm nhạc dân tộc cho ông. Hễ thấy cha cầm cây đàn, cây sáo trên tay cậu bé Hôm lại gần để nghe và bắt chước, và Pạ có thể chơi thành thạo các loại nhạc cụ đó sau vài lần sử dụng.

Người đàn ông da nâu, chân trần trong chiếc khố vẫn ngày ngày say sưa đàn hát trên những sàn diễn hoang dã của bản làng, trong những nếp nhà sàn, dưới những bóng cây, con suối, trong những đêm lễ hội… Ở đó ông được thỏa sức bay bổng cùng lời ca tiếng đàn, mang âm nhạc dân tộc đến với cộng đồng người Bru-Vân Kiều đang sinh sống trên dãy Trường Sơn cheo leo. Với Pạ Hôm âm nhạc là “cầu nối” giữa con người với thần linh, núi rừng, là lời nhắc già trẻ, gái trai đừng bao giờ quên nguồn cội.

Giữa không gian thâm u, trầm mặc của núi rừng đại ngàn, tiếng khèn của Pạ Hôm trong vắt như tiếng suối chảy róc rách qua những lèn đá, mang nước về tưới tắm cho vạn vật sinh sôi, nảy nở. Tiếng kèn A mam du dương trầm bổng, tiếng đàn Ta lư thánh thót mê hoặc lòng người… Tuy âm thanh khác nhau nhưng khi chúng ngân lên thì làm cho thiên nhiên cây cỏ và con người hòa quyện, đắm chìm vào nhau. Khi Pạ Hôm chơi nhạc, tâm hồn ông hòa quyện vào những âm thanh của điệu đàn, điệu nhạc, quên hết mọi thứ xung quanh. Tiếng đàn, tiếng sáo khi thì hồn nhiên, mong manh như cây cỏ, lúc lại mãnh liệt cuộn trào như thác lũ mưa nguồn, lúc nỉ non như tâm tình đôi lứa, cứ như thực như mơ… Anh đã giỏi về làm cái nương, cái rẫy, anh đã giỏi về làm gùi, anh đã giỏi về đánh giặc mà anh không giỏi về đàn, em là con gái có ưng nhưng không ưng hết cả đời cho anh. Biết bao đôi lứa đã thành vợ thành chồng nhờ tiếng đàn, điệu nhạc. Họ tỏ tình bằng lời hát, họ tìm hiểu nhau cũng qua tiếng đàn. Chúng tôi hỏi vui Pạ Hôm, với ngón đàn hát điệu nghệ của ông chắc đã mê hoặc không ít người con gái Vân Kiều. Ông cười xòa, xua tay bảo: “Làm gì có, hồi đó đang kháng chiến chống Mỹ, trai tráng trong bản đi chiến đấu bảo vệ bản làng, ít đi Sim lắm. Hòa bình tục đi Sim mới trở lại trong đời sống văn hóa của đồng bào”.

Pạ Hôm nhiệt tình hướng dẫn cho chúng tôi chơi từng loại nhạc cụ, quả thật không dễ dàng chút nào với những tay mơ như tôi, điều khiển để chúng phát ra âm thanh đã khó nói gì đến thổi hay, đàn giỏi như Pạ Hôm. Tôi ngạc nhiên khi thấy anh Lương đang lung túng thổi A mam, tôi cứ đinh ninh là anh chơi được các loại nhạc cụ này. Bởi anh Lương cũng là một người con sinh ra và lớn lên ở đại ngàn Trường Sơn, anh là người dân tộc Pa Cô ở miền núi A Bung đến làm việc ở xã Húc Nghì. Anh Lương thú thật rằng mình không biết chơi dù chỉ một loại nhạc cụ nào của người Vân Kiều cả, anh còn không kể được tên các loại nhạc cụ ấy nữa. Thế còn âm nhạc truyền thống của dân tộc Pa Cô đồng bào anh? Anh ngượng nghịu lắc đầu. Tôi thoáng bắt gặp nét buồn xót xa, cay đắng trên khuôn mặt Pạ Hôm, người một đời cần mẫn giữ gìn tinh hoa văn hóa của đồng bào thiểu số trên dãy Trường Sơn. Pạ Hôm hướng ánh nhìn xa xăm về phía núi rừng trầm tư “Chúng nó bây giờ như chim rừng lạc lối, không còn ưng cái đàn, cái sáo nữa mô. Bố muốn truyền cho chúng nó mà không ai chịu học…”.

Với hàng nghìn năm sinh sống trong các thung lũng, trên những lèn núi đá, người Bru-Vân Kiều đã tạo ra nhiều loại nhạc cụ, nhiều điệu hát, điệu múa mang giá trị văn hóa rất đặc trưng của cộng đồng dân tộc mình. Nhớ về những ngày xưa, khi tiếng kèn, tiếng sáo rộn rã khắp các bản làng của người Vân Kiều, Pạ Hôm không giấu được nỗi tự hào, đôi mắt già lấp lánh niềm vui khó tả. Ngày đó, hầu như ai cũng biết chơi đàn Ta lư, khèn bè, thổi A mam,… đi đâu họ cũng mang theo đàn, sáo bên người. Âm nhạc đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của người dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều, một món ăn tinh thần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Âm nhạc không chỉ giúp bà con thư giản sau giờ làm việc cực nhọc, mà nó còn là công cụ giáo dục con cháu, giúp nhau vui sống chan hòa. Bên ánh lửa bập bùng của những mùa lễ hội, trong ánh trăng dát vàng những đêm Sim, âm thanh tiếng kèn, tiếng sáo ngân vọng trên khắp các triền đồi, khiến núi rừng đẹp nên thơ như một bức tranh thủy mặc. Giữa không gian hùng vĩ của núi rừng, âm thanh của tiếng đàn, tiếng hát mở cánh cửa nội tâm của người Bru-Vân Kiều, đó là thứ âm nhạc hòa cùng với các giá trị văn hóa khác làm nên sợi dây bền chặt kết nối những người con của rừng sinh sống rải rác trên những dãy núi non hùng vĩ. Đó là nguồn văn hóa rực rỡ sắc màu được chắt lọc và khẳng định qua các giá trị sống khi thích ứng với thế giới thiên nhiên để làm nên thế giới tâm hồn. Âm nhạc ấy không của riêng ai cả, âm nhạc là của chung cho cả con người lẫn núi rừng sông suối.            

* * *

Pạ Hôm vẫn còn nhớ về những ngày đầu tiên đến khai phá vùng đất miền Tây Quảng Trị này. Bản làng sống co cụm trên những quả đồi lưng chừng núi, cuộc sống của đồng bào hết sức khó khăn, thiếu thốn. Thế hệ nối tiếp thế hệ bám núi rừng, nhọc nhằn đắp đổi mồ hôi kiếm lấy bó rau rừng, con cá dọc bờ khe con suối sống qua ngày. Người vợ đầu của Pạ cũng sớm ra đi bởi đói nghèo, bệnh tật. Hành trình định cư của người Vân Kiều tại xã Húc Nghì cách đây hơn 50 năm qua đã có nhiều thay đổi. Từ bỏ lối canh tác phát, đốt, cốt, trỉa đồng bào Vân Kiều đã chuyển sang sản xuất thâm canh tăng vụ, hủ tục di canh di cư dần lùi xa khi cây lúa đều đặn trổ bông trên những triền đồi. Hơn 5 năm kể từ khi con đường nối bản Cựp với đường Hồ Chí Minh được thông thương đã tạo điều kiện cho vùng đất nơi đây phát triển kinh tế xã hội, mang đến bản làng của Pạ Hôm cuộc sống ấm no, sung túc hơn trước. Sự thay đổi trong tập quán lao động cùng với sự giao thoa giữa nhiều nền văn hóa cùng sống chung trên địa bàn xã Húc Nghì đã làm thay đổi đời sống tinh thần của người Bru-Vân Kiều.

Lối sống và văn hóa hiện đại du nhập vào bản làng, vô hình trung đã làm ảnh hưởng đến nhiều giá trị văn hóa truyền thống, nhiều loại hình nhạc cụ, nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống vốn gắn bó với cuộc sống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Bru-Vân Kiều hàng trăm năm đang đứng trước nguy cơ bị thất truyền không có thế hệ kế tục, cuộc sống vật chất khấm khá lên nhưng tiếng sáo, tiếng đàn thưa vắng dần. Thanh niên trong bản giờ được tiếp cận với những phương tiện nghe nhìn hiện đại, họ thích nghe nhạc trẻ xập xình, thích hát karaoke, thích chạy theo những thú vui mới mẻ. Nhìn ra rừng núi trập trùng trước nhà Pạ Hôm thở dài: “Bố có năm thằng con trai mà chỉ có thằng Hôm đi theo bố học cây đàn cây sáo thôi. Chúng nó không ưng học thì biết mần răng được”. Trả lời cho câu hỏi của tôi về việc có nhiều thanh niên dân tộc Vân Kiều hiện nay không mặn mà lắm với âm nhạc dân tộc mình, anh Hồ Văn Mười, Phó Chủ tịch UBND xã Húc Nghì chia sẻ: “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vân Kiều hiện nay hết sức khó khăn. Chính quyền địa phương vẫn đang cố gắng tổ chức tốt hơn nhiều buổi sinh hoạt văn hóa, giáo dục, tuyên truyền, khuyến khích con em đồng bào học giữ lấy tinh hoa văn hóa của dân tộc mình”. Hành trình níu giữ bản sắc văn hóa Bru-Vân Kiều của Pạ Hôm, của anh Mười và của nhiều người nữa trên khắp dãy Trường Sơn này sẽ còn lắm gian nan, trắc trở. Phải đủ lòng dũng cảm, kiên trì vượt núi cao, vực sâu để âm nhạc, điệu múa của người Bru-Vân Kiều đẹp như hoa trên núi, sáng như trăng những đêm Sim, thánh thót như tiếng chim hót trên rừng sẽ được neo giữ mãi trong tâm hồn những thế hệ hôm nay và mai sau.           

Pạ Hôm năm nay đã bước sang tuổi 84, mắt đã không còn nhìn xuyên được con cá dưới khe, thấy được con chim trên trời, đôi bàn tay thô ráp, gầy guộc nhưng ông vẫn ngày ngày ôm đàn, thổi sáo, để những âm thanh, điệu nhạc truyền thống vẫn rộn rã vang lên, tỏa đi khắp bản làng. Tuy tuổi tác đã cao, nhưng ông vẫn băng đèo lội suối bươn bả đến nhiều thôn bản để chỉ dẫn con em của đồng bào học nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình. Với khát vọng truyền được ngọn lửa, tình yêu âm nhạc Bru-Vân Kiều đến với nhiều người, ông đã nhiệt tình tham gia biểu diễn âm nhạc trong những dịp lễ hội của làng xã và trình diễn trên những sân khấu lớn mỗi lúc có dịp.

Có một điều đáng mừng là anh Hôm, con trai cả của Pạ Hôm cũng có một niềm đam mê âm nhạc giống cha mình. Nhờ cha truyền lại, anh có thể chơi và làm được các nhạc cụ của dân tộc Bru -Vân Kiều. Anh Hôm có nụ cười hòa ái, thật thà chất phác như bản chất của những người sống trên những thung sâu của núi rừng. Anh thổi kèn A mam và chơi đàn Ta lư rất hay. Anh nâng niu bộ nhạc cụ của cha mình một cách trân trọng. Chúng tôi nhìn thấy sự an tâm hiện rõ trên khuôn mặt Pạ Hôm, ông yên lòng khi người con trai cả trong gia đình giữ lửa cho những đam mê của ông. Ông an tâm khi có người tiếp bước ông gìn giữ văn hóa âm nhạc Vân Kiều.

Âm nhạc của Pạ Hôm, âm nhạc truyền thống là tiếng lòng của người Vân Kiều son sắt, là lời của tiên tổ vọng về, là lời của núi rừng linh thiêng. Âm nhạc ấy là niềm tự hào của dân tộc Bru-Vân Kiều sống ở miền Tây Quảng Trị, là những kho báu đặc sắc quý giá cần được gìn giữ cho hậu thế.

Rời bản Cựp khi mặt trời đang dần chìm khuất sau rặng núi xa. Từ trên đỉnh đồi Tu Ren phóng tầm mắt ra xa, cả một vùng núi non hùng vĩ chìm trong ánh chiều tà, bốn bề tịch liêu. Lòng tôi xốn xang bao nỗi niềm trĩu nặng, qua mấy mùa rẫy nữa thôi, khi lớp người lưu giữ nền văn hóa rực rỡ của cộng đồng Bru-Vân Kiều sống trên dãy Trường Sơn như Pạ Hôm về với tổ tiên, liệu cái thanh âm lanh lảnh của Ta lư, rộn rã của khèn bè, trầm hùng của thanh la có còn cất lên, ngân nga giữa mênh mông đại ngàn, neo giữ chân người xuống núi.

 

C.N

 

 

CẨM NHUNG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 261

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground