Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Trưa ca dao

Một buổi trưa không biết ở thời nào

Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao

(Đi giữa đường thơm - Huy Cận)

Trưa đứng bóng. Nắng giữa những ngày mưa. Thứ nắng dìu dịu làm cho con người thường quay về hoài niệm. Dưới tán lá xanh, nằm trên chiếc võng đung đưa, cứ ngỡ như có bàn tay má dưới lưng, cứ ngỡ như có lời ru của má văng vẳng bên tai: Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi… Cứ như thế mà nhắm mắt lại, mà quay về tuổi thơ, mà lặng đi với những yêu thương, trìu mến từng có trong đời. Chao ôi, giữa những ngày bươn bả áo cơm, giữa những ngày chạy hộc tốc như con thoi, giữa những ngày người tiếp xúc với người chỉ thuần công việc… chợt có một buổi trưa ca dao như thế, chợt có một khoảnh khắc thần tiên mộc mạc như thế thì còn gì hạnh phúc bằng.

Ngày ấy, má kể tôi nghe, trên đời má lúc ấy thèm nhất là có được chiếc võng bện dây gai Long Hương để ru con, “vì không chiếu nào chịu nổi, hai chân con cứ đạp lia đạp lịa, lại còn đái dầm, chiếu châm kim rồi rách bung hết”.  Má phải cắt mảnh bao bố xin được, buộc túm bốn đầu giăng ra hai cây cột nhà, đó là chiếc võng đầu tiên má à ơi đẩy đưa ru tôi suốt một thời đỏ hỏn. Sau, tôi cứng cáp hơn, má gửi cho hàng xóm, tranh thủ xuống nhà cô tôi dưới xóm biển xin được miếng lưới nhợ, võng của tôi từ đó đã bền chắc hơn nhiều. Đến giờ thì tôi biết ngày xưa võng bện bằng thứ lá gai trồng trên đất cát Long Hương là thứ nhà nghèo không rờ tới nổi dù nó được làm ra từ những đôi tay của người nghèo. Và tôi cũng hiểu không bà má nào phải đi học hát ru cả, tiếng hát của má tự bật ra ngọt ngào, da diết từ lòng thương, từ những trìu mến hết mực, mênh mông  dành cho đứa con rứt ruột đẻ ra của mình; má dốc hết tình yêu qua lời hát ru, má gửi hết nỗi lòng qua lời hát ru nên không có một ca sĩ nào dù danh tiếng mức nào hát ru hay bằng lời hát ru của má, nó là những giọt mật thiêng liêng đã lắng, đã đọng trong tâm khảm những đứa con.

Tôi lớn lên không lúc nào nguôi nỗi nhớ võng, nhớ lời ru, nhớ những đong đưa trưa ca dao, nó dường như đã ăn sâu, mọc rễ, trở thành hành trang cần thiết trong tâm hồn tôi, nó luôn nuôi tôi bằng dưỡng chất tình thương, thứ dưỡng chất tối hậu cần thiết cho một phận người lên bờ xuống ruộng, đầy cam go và cả cô đơn, cô độc.

Bạn học ngồi chung bàn với tôi giã từ áo trắng học trò đi vào quân đội, nó đã không về, chiếc võng dù màu lá là một trong những kỷ vật ít ỏi trong ba lô được gửi về cho má nó. Và má của bạn tôi cứ điên dại mắc chiếc võng ấy rồi ngồi đưa đẩy, ầu ơ, bà cứ hát ru bên chiếc võng không như vậy, lời hát mê đắm, dài dại, rưng rưng làm đau nhói lòng tôi trong những ngày gió lạnh và nỗi buồn đầy ắp ấy.

Hành trình cải tiến chiếc võng của người Việt mình giờ đã phát triển quá xa, không chỉ chất liệu, màu sắc, hình dáng, cách căng bằng thanh gỗ ở hai đầu mà chiếc võng giờ đã được tự động hóa. Gần đây, vợ chồng đứa cháu tôi về nhà chơi mang theo đứa con nhỏ và chiếc túi da gọn ghẽ. Vừa vào nhà, anh chồng đã lăng xăng lít xít mở túi, lắp ráp, vặn ốc, hóa ra là chiếc võng tự động có cả dàn khung cứng cáp được thiết kế để tháo lắp dễ dàng, có cả trục lắc tự động gắn một đầu, phía kia gắn bạc đạn êm ru, cắm điện vào là võng tự lắc đều, lắc đều không kẽo cà kẽo kẹt như chiếc võng ngày xưa… Bà con đến thăm ai cũng trầm trồ một sản phẩm đẹp đẽ, giản tiện đem về từ thành phố nhưng khi cô vợ đặt đứa bé nằm xuống, nhấn nút vào chiếc máy nho nhỏ gắn ở đầu võng, lời hát ru của một ca sĩ lạ hoắc nào đó cất lên thì ai cũng lắc đầu ngao ngán. Sốc nhất là tôi, bởi tôi hiểu thay lời ru má bằng những “lời ru công nghiệp” ấy sẽ là thiệt thòi lớn cho những đứa con. Cả nghĩ hơn thì một thế giới lạnh lùng, vô cảm dường như là tương lai gần, rất gần khi con người chỉ biết lao theo những cải tiến ích kỷ như vậy.

Thương lắm lời ru rút ruột mà hát của má! Thương lắm chiếc võng bao bố của tôi! Thương lắm những dấu ấn trưa ca dao trong một thời thơ ấu! Và tôi cũng cảm ơn cuộc đời đã tỉ mỉ, cẩn trọng trang bị cho tôi tất cả những giá trị thiêng liêng cần có của đời người, cả những trưa ca dao chỉ còn đong đưa à ơi trong ký ức.

                        Gà gáy trên đầu ngọn tre

 

M

ay cho tôi là vẫn đang sống ở miền quê, mà có ra phố, có áo xống nai nịt, lên xe xuống ngựa gì đi nữa thì cái tính “nha quệ” của tôi cũng không thay đổi, đã thành máu thịt, nhờ vậy mà tôi vẫn thói quen tính thời gian: Gà gáy, đứng bóng, chạng vạng… và yêu những bài hát làng quê mộc mạc. Trong làng bây giờ tìm không ra ngọn tre nào nhưng chỉ cần nghe tiếng gà gáy thôi là người cứ như bị ai bắt mất hồn.

“Bà bà mẹ quê!
Gà gáy trên đầu ngọn tre
Bà bà mẹ quê!
Chợ sớm đi chưa thấy về”

Ở chỗ tôi có bà bán hàng rong cứ độ gà gáy là đến gõ cửa từng nhà, đều đặn mỗi ngày. Thoạt đầu hơi phiền, sau thành quen, mà đã quen thì dễ chịu. Mỗi khi thấy dáng bà già người Quảng quang gánh gõ cửa là tôi chợt nhớ câu hát xưa. Tôi lẩm nhẩm hát một mình mà trong lòng da diết nỗi nhớ. Má tôi dáng cao ráo hơn bà, lưng chưa còng như lưng bà nhưng sao ánh mắt của các bà mẹ quê lại giống nhau đến lạ. Dường như cùng một hoàn cảnh, cùng một nỗi lo, cùng một tâm thế sống ở đời thì ánh mắt con người ta sẽ giống nhau. Bà đặt gánh xuống trước sân nhà tôi, hàng bán thay đổi khi thì mấy nải chuối khi thì chục trứng gà so, nhưng ánh mắt ấy thì chỉ một, ánh mắt cam phận, chịu đựng, ánh mắt của đức hy sinh.

“Bà bà mẹ quê!
Gà gáy trên đầu ngọn tre”

Mỗi khi hồi tưởng về má, kí ức tôi bao giờ cũng gắn cái dáng tần tảo, liền tay, liền chân ấy nhiều nhất trong thời khắc gà gáy. Từ khi tôi biết quan sát cuộc sống và có được trí nhớ nhất định thì tôi đã biết má tôi luôn thức dậy khi “gà gáy trên đầu ngọn tre”. Và phải chăng tất cả các bà mẹ quê đều như thế. Gà gáy, thức dậy nhóm bếp nấu ấm nước, với cái nồi đồng vo gạo bắc lên bếp kê bằng ba cục gạch, khi mọi người trong nhà thức dậy thì nồi cơm đã “ghế”, đáy nồi vùi trong tro ấm, mấy cục than hồng trên nắp nồi cũng vừa riu riu se se, hương thơm cơm lúa mới đã ngào ngạt trong nhà… Tôi vẫn còn giữ cái nồi đồng ấy của má trên chiếc kệ sách như một báu vật. Mấy chiếc nồi đồng của má tôi không đủ bộ, ngoại tôi đầy đủ hơn, kể cả các loại nồi chỉ dành cho giỗ chạp hoặc lễ hội lớn, ngoại kiên quyết không dùng cái gì khác để nấu nướng ngoài nồi đồng, trên giàn hong củi của gian bếp nhà ngoại đầy các loại nồi đồng lớn nhỏ đủ cỡ, từ nồi một đến nồi bung bốn quai.

Mỗi sáng sớm, tôi thường bị cái tật xấu đói, “con mắt to hơn cái bụng”, hay càu nhàu “Má nấu ít cơm quá!” thì má lại xoa đầu: Đừng lo, nồi Thạch Sanh đó. Và quả thật, lần nào tôi cũng kềnh cái bụng mà nồi vẫn chưa hết cơm. Cơm nồi đồng giữ được hương thơm và hạt cơm ráo đều, màu của lớp cơm cháy vàng cũng vô cùng hấp dẫn. Chiếc nồi đồng không chỉ là một công cụ đun nấu mà nó còn là một phần văn hoá vật chất trong cuộc sống ở làng quê. Tiếng gà gáy, chiếc nồi đồng và hình dáng quá thương của má tôi luôn là một phần quan trọng trong kí ức tôi, chỉ cần nghe tiếng gà gáy là tất cả lại tràn về, đẫm thấm.

 

 

Mùi đồng quê

 

C

hiều nay, tự dưng từ miền kí ức xa ngái trong tôi bỗng vang lên tiếng hát của mấy thợ gặt ngày xưa ở Phong Điền. Hồi ấy tôi còn chút tẹo lon ton theo má, má đi cấy đi gặt ở đâu thì theo đó. Mùa cấy thì cầm cây cần tre cong cong với lon trùn lang thang thả câu dọc mương nước hoặc các lỗ bọng vào ruộng. Mùa gặt thì hì hụi sình lầy, bươn bươn theo chân má để mót những gié lúa sót, có khi má thương nhả lơi tay cho dăm chục gié lúa vàng vậy là mừng quýnh mừng quíu tay chân dính đá vào nhau, vừa thoăn thoắt bứt lúa vừa cười tít mắt. Tuổi thơ tôi ơi! Sao mà thương quá!

Trong miên man hồi ức tôi vẫn chưa hiểu tại sao câu hát của đoàn thợ cấy lại trào về đột ngột làm rưng rưng cõi lòng như vậy. Mới đó mà má tôi đã đi xa hai mươi ba năm rồi, tôi là con út trong nhà nên lẽo đẽo bám chân má nhiều nhất. “Nhiều út ăn, ít út chịu”, là má hay xoa đầu tôi an ủi, những lúc như vậy tôi thấy má thường quay mặt đi đưa tay áo chùi cái gì trên mắt, làm sao lúc ấy tôi hiểu được hai từ “cám cảnh”, làm sao một thằng nhóc đen trùi trụi, chân không bén đất như tôi lại có thể hiểu được điều gì sâu kín trong lòng người mẹ. Cho tới giờ này, tôi vẫn là người chậm hiểu, phản xạ chậm chạp, không có khả năng thức thời so với cuộc đời, so với những bạn bè quanh tôi. Má dạy tôi ngọng nghịu những tiếng nói đầu tiên, những góc ruộng vắng dạy tôi líu lo những câu hát bâng quơ, (mới đầu cho đỡ sợ giữa đồng không mông quạnh, lúc đoàn thợ cấy của má tít đằng bờ kia, sau thành thói quen, hát câu nọ xọ câu kia, miễn sao được hát), rồi gần năm mươi năm qua cuộc đời ra sức dạy cho tôi bài học im lặng. Tôi vẫn học rất chậm cho tới giờ này.

Tôi dừng xe bên lề đường phần sửa lại giỏ máy quay phim nặng trĩu, cần câu cơm của tôi, chệch sang một bên, phần để lắng xuống những rưng rưng ám ảnh vừa quay về. Có lẽ bất chợt đến tuổi nào đó, ta phát hiện mình thường quay vào trong như chiếc lá sau thời phất phơ xanh ngọc đã dợm mắt dò tìm bóng dáng xù xì cội rễ. Cuống lá tôi bắt đầu chuyển vàng rồi sao? Tuổi tôi đã qua bên kia núi rồi sao? Trượt xuống, lao xuống bao giờ cũng nhanh hơn bội phần so với còng lưng leo lên… Tôi tìm cách xua đuổi cái triết lý lên núi xuống núi u ám kia ra khỏi đầu óc. Lại hát bâng quơ. Lại rồ ga.

…Phong Điền có gạo… Lại vẫn câu hát ấy nhưng lần này hình ảnh má tôi áo bà ba bạc màu, nón lá gần thành mê, lưng còng trên ruộng, thấp thoáng, thấp thoáng… cùng lúc hiện lên. Từ ngày lớn lên thành một chàng trai, rồi thầy giáo, lão vẽ thuê, tay xe ôm, gã bán vé số, rồi thợ chụp hình quay phim… tôi ít khi mủi lòng. Vậy mà chiều nay, mắt tôi chợt nong nóng, cay cay…

Cho đến lúc này thì tôi phải dừng xe lại. Tôi hiểu ra rồi: Cái mùi đồng quê. Nãy giờ xe tôi đang đi qua cánh đồng, mà chính là cánh đồng Phong Điền ngày ấy, mắt tôi tập trung để lái xe, nhưng cái mùi đồng quê đã nồng ngập trong người. Hèn nào! Một chút hăng hăng nồng nồng gốc rạ, chút hương lúa dậy thì thơm thanh, chút mùi lúa trổ đòng ngòn ngọt mát lành… Pha trộn mà vẫn rạch ròi như những âm thanh của các loại nhạc cụ trong dàn nhạc khổng lồ, vừa biểu hiện mình vừa cùng tạo sức mạnh du dương của bản giao hưởng. Cái mùi đồng quê như khúc giao hưởng ngày mùa vậy. Hỏi đến mức ấy sao mà kí ức không sống dậy, không lay động con người!? Tôi đưa tay mở chiếc cúc áo… để cho mùi hương đồng cỏ nội nhớ thương này len lỏi vào cả những vùng da thịt chưa được thấm đẫm cái ngọt, cái nồng, cái thơm cái tho. Tất cả đang tạo ra từ trường mùi hương trên con đường xuyên qua cánh đồng này. Tôi hít căng lồng ngực rồi lên xe. Lòng thầm biết ơn cái mùi kí ức, cái mùi mà mỗi khi chìm ngập trong nó ta sẽ thích hát bâng quơ, sẽ yêu quý cuộc sống cực nhọc của mình hơn, sẽ vị tha hơn và sẽ người hơn rất nhiều.

N.H

 

 

NGUYỄN HIỆP
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 249

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground