“Đảo là nhà, biển là quê hương”
Sau nhiều ngày vượt trùng khơi, hình ảnh Tổ quốc vững vàng nơi đầu sóng, ngọn gió hiển hiện đầu tiên trước mắt tôi qua dáng vẻ của đảo Đá Lớn, một đảo chìm thuộc quần đảo Trường Sa, với hai dãy nhà xây đang trấn giữ giữa mênh mông trời nước, với cái cột trụ vút lên cho cánh quạt gió gắn nơi đầu cột xoay tít để lấy điện gió về cho đảo. Mọi người trên tàu mặc áo phao, lần lượt rời tàu, xuống ca nô theo từng chuyến để vào đảo. Trời nóng, mặc áo phao vào mồ hôi chảy ròng ròng, nóng bỏng sau lưng nhưng ai nấy đều quên mệt, lòng trào dâng cảm xúc và hứng khởi khi được đặt chân lên đảo. Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Thành Hưng, Trưởng đoàn công tác cùng đoàn đi một vòng quanh đảo, cả đoàn như thể ôm trọn đảo vào lòng trong một vòng ôm thật lâu, thật sâu, thật nồng nàn, tha thiết. Đoàn cùng cán bộ, chiến sĩ quây quần bên nhau trao đổi, trò chuyện công việc. Ai cũng mừng vui khi thấy đảo chìm đã thể hiện rõ vai trò phên dậu của Tổ quốc giữa trùng dương. Ai cũng cảm động khi biết rằng, đảo chính là chỗ dựa cho ngư dân bám biển, mở rộng ngư trường đánh bắt hải sản. Trong niềm xúc động dạt dào và cả niềm tri ân sâu sắc, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng và đại diện các ban, ngành, cơ quan, đơn vị trong đoàn đã trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ trên đảo những món quà của đất liền gửi ra, thể hiện tấm lòng gắn kết với những “trái tim của biển”. Thế rồi, “từ đảo chìm (i) đảo nổi, từ đảo gần đến đảo xa, ôi Trường Sa, quê hương ta, Tổ quốc ta” (Huyền tích Trường Sa - Nhạc của Đức Trịnh, lời của Thượng tướng Bùi Văn Huấn), đoàn rời đảo Đá Lớn, tiếp tục hành trình đến với các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Cô Lin, Trường Sa Đông, Đá Tây, Trường Sa, Đá Lát và hai nhà dàn thuộc khu vực Phúc Tần là nhà dàn DK1/17 và nhà dàn DK1/18.
Đến các đảo, điều tôi quan tâm nhất là về điều kiện sống thiết yếu như rau xanh, nước uống, tắm giặt… Đảo chìm không có đất nên chiến sĩ ta phải trồng rau xanh trong các chậu cây, các khay đất. Tôi hỏi trung tá Nguyễn Hữu Hòa, Chính trị viên đảo Đá Lớn về “chất xanh” trong bữa ăn của lính. Anh cho biết: “Đảo được tiếp phẩm nhiều đợt hàng năm từ đất liền. Thực phẩm được cung cấp là các loại để lâu được như bầu, bí, khoai tây, còn rau xanh mau hư nên không cung cấp được. Rau xanh trên đảo có trồng để ăn “thoang thoảng” vậy”. Ở đảo chìm Cô Lin cũng tương tự, rau không nhiều nhưng cũng đủ “tươi đời” qua lời kể của Thượng úy Nguyễn Văn Ba, Chính trị viên đảo Cô Lin: “Rau xanh trên đảo nấu canh ăn được 3 bữa mỗi ngày, còn luộc ăn thì thi thoảng”. Ở các đảo nổi, có điều kiện về đất đai, chăm bón, vườn rau tăng gia của chiến sĩ xanh tốt hơn, phong phú hơn với nhiều loại như rau cải, rau muống, rau dền… Tản bộ trên đảo Sơn Ca, tôi như được sống với khung cảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, khi tần ngần đứng bên giàn bầu đã đơm quả ngọt. Thân bầu vươn ra cả ngoài giàn, ngoài hàng rào như thể “ngóng cổ” sang chuồng nuôi vịt, gà cạnh đó để chia sẻ cùng nhau nỗi xôn xao về sự cựa mình lớn dậy từng ngày. Nước uống trên đảo dùng nước mưa, khi khô hạn phải chở nước từ đất liền ra. Để tiết kiệm nước ngọt, có những nơi, chiến sĩ ta phải giặt quần áo bằng nước mặn, biết là giặt như thế, quần áo sẽ mau hư nhưng đành vậy. Nước ngọt ở đảo quý là thế nhưng khi đón khách từ đất liền ra thăm, các cán bộ, chiến sĩ trên đảo vẫn “hào phóng” đặt một dãy thau nước ngọt cho khách rửa tay, rửa mặt. Điều này làm ai cũng xúc động đến nghẹn lòng.
Khác với đảo chìm, đảo nổi, cuộc sống của những người lính ở nhà dàn DK1/17 (thuộc Cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ trên thềm lục địa phía Đông Nam) là sống trên… trời. Nhà dàn được dựng trên những trụ sắt, một đằng cắm sâu vào lòng biển, một đằng vươn cao lên trời xanh, đứng ngạo nghễ trước thử thách của biển cả, bão táp. Bám vào từng bậc, từng bậc chiếc thang sắt, chúng tôi lần lượt leo lên với nhà dàn. Leo lên, leo lên để thấy thấm thía, để cảm nhận đủ đầy về hai tiếng “thiêng liêng” của chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Leo lên, leo lên để thấy lòng mình dâng đầy những niềm hướng thượng. Leo lên, leo lên để nuôi dưỡng chí khí. Giữa trời nước mênh mông, trên nhà dàn vẫn trồng được nhiều loại rau xanh lên mơn mởn, vẫn nuôi được những con heo béo mông đỏ da. Trên mặt biển dưới chân nhà dàn, nổi lên từng đàn cá lấp lánh trong nắng mai, tung tăng với sóng biển, những đàn cá đã quen quần tụ với nhà dàn. Cuộc sống của những người lính giữa trùng dương xa xôi dẫu còn bao gian lao, vất vả, thiếu thốn nhưng các anh vẫn vượt lên tất cả để giữ vững biển trời Tổ quốc. Vì tình yêu Tổ quốc, các anh đã xếp lại mối riêng tư. Anh Chu Văn Hùng, Chính trị viên nhà dàn DK1/17 là người chiến sĩ trẻ, chưa lấy vợ nhưng rất thấu tỏ và chia sẻ với những niềm riêng của lính. Anh tâm sự: “Có những trường hợp anh em gặp lúc vợ yếu, con đau, người thân từ trần, người yêu đi lấy chồng, mình đều động viên anh em vượt qua khó khăn. Mình còn xin số điện thoại người yêu của chiến sĩ để động viên”. Tình yêu Tổ quốc đã thắp sáng trong các anh niềm lạc quan, yêu đời cháy bỏng. Tôi đã thấy trên giường nằm của một chiến sĩ ở đảo Đá Tây có một cuốn sách “gối đầu giường”, đó là tập ca khúc “Miền xa thẳm” của Đức Trịnh, do Nhà xuất bản Âm nhạc xuất bản năm 2014. Lần giở tập ca khúc, các khúc thức, giai điệu nồng nàn, thiết tha về biển đảo quê hương trong đó như “Huyền tích Trường Sa”, “Ánh mắt Song Tử Tây”… cứ ngân vọng trong tôi. Lính đảo thích hát và hát với cả hồn mình. Và vì thế, tiếng hát của các ca sĩ Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Hậu Giang, tiếng hát của các thành viên trong đoàn, của các chiến sĩ hải quân đã vang vọng trên boong tàu HQ 561, trên đảo Sơn Ca, Nam Yết, Cô Lin, Trường Sa, nhà dàn… ngân lên những giai điệu bỏng cháy vì biển đảo Tổ quốc như “Nơi đảo xa”, “Huyền tích Trường Sa”, “Tổ quốc gọi tên mình”…
Những người lính giữ đảo, giữ biển trời Tổ quốc cũng chính là những người góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, trong đó có kinh tế biển đảo. Trò chuyện với anh Nguyễn Hồng Vân, Trạm trưởng Trạm ra đa 57, Quân chủng Phòng không Không quân ở đảo Nam Yết, anh nhắc đến “vùng thông báo bay” (Flight Information Region - viết tắt là FIR), tức là một vùng trời có giới hạn xác định trong đó có cung cấp dịch vụ thông báo bay và dịch vụ báo động. Anh cho biết, có những FIR nay đã thuộc quyền quản lý của Việt Nam và máy bay các nước bay quá cảnh qua FIR Việt Nam phải trả tiền cho Việt Nam. Đến thăm đảo chìm Đá Tây, đoàn đã được nghe anh Đặng Văn Bình ở Hải đoàn 129 giới thiệu về mô hình nuôi cá lồng bè ở đảo này. Việc nuôi cá lồng bè thực hiện ở đây đã được 8 năm, theo công nghệ nuôi của Na Uy. Cá chim trắng là loại được nuôi thích nghi tốt nhất.
Cũng như những loài cá biển, những loài cây đảo như cây phong ba, cây bão táp, để trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, những người lính đảo vừa biết thích nghi với hoàn cảnh sống đặc thù ở đảo, vừa tôi luyện bản lĩnh dạn dày qua thử thách. Điều đặc biệt là các anh được tiếp nhận cội nguồn sức mạnh từ truyền thống lịch sử của cha ông hàng nghìn năm giữ nước và dựng nước. Trong phòng truyền thống của Trung tâm Văn hóa đảo Nam Yết còn trưng bày tư liệu về “những chiến thắng tiêu biểu của quân thủy Việt Nam trong lịch sử chống giặc ngoại xâm”, cạnh đó là hình ảnh những cọc nhọn Bạch Đằng của đội quân Trần Hưng Đạo vút lên trong sóng nước, đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược năm 1288. Nhằm cùng quân dân trên các đảo vun bồi, phát huy sức mạnh từ cội nguồn, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức lễ trao tặng bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử” tại đảo Nam Yết, lễ khai mạc triển lãm bản đồ và tư liệu về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam tại đảo Trường Sa. Nguồn bản đồ, tư liệu được triển lãm khá phong phú, dựng kín không gian xung quanh bia chủ quyền đảo Trường Sa như ôm lấy tấm bia thiêng liêng đứng hiên ngang, vững chãi trước sóng gió, bão táp. Nguồn bản đồ, tư liệu này được sưu tầm, tập hợp từ nhiều nguồn, trong đó có cả nguồn của Trung Hoa chứng minh rõ ràng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Những khúc tưởng niệm trên biển
Đến với đảo Sinh Tồn, tên đảo thể hiện khát vọng hòa bình và sự trường tồn bất diệt của người Việt Nam, tôi đến thăm và dâng hương tại chùa Sinh Tồn. Từ cổng chùa vào, phía bên phải chùa có dựng bia ghi danh 64 liệt sĩ hy sinh tại đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988, với họ tên, năm sinh và quê quán khắc trên bia như sau:
1. Trần Đức Thông, 1944, Thái Bình; 2. Trần Văn Phương, 1965, Quảng Bình; 3. Nguyễn Mậu Phong, 1959, Quảng Bình; 4. Đinh Ngọc Doanh, 1964, Khánh Hòa; 5. Hồ Công Đệ, 1958, Thanh Hóa; 6. Phạm Huy Sơn, 1963, Nghệ An; 7. Nguyễn Văn Phương, 1969, Thái Bình; 8. Bùi Bá Kiên, 1967, Hải Phòng; 9. Đào Kim Cương, 1967, Hà Tĩnh; 10. Nguyễn Văn Thành, 1967, Hà Tĩnh; 11. Đậu Xuân Tứ, 1964, Hà Tĩnh; 12. Lê Bá Giang, 1968, Nghệ An; 13. Nguyễn Thanh Hải, 1967, Hà Tĩnh; 14. Phạm Văn Dương, 1967, Nghệ An; 15. Hồ Văn Nuôi, 1967, Nghệ An; 16. Cao Đình Lương, 1967, Nghệ An; 17. Trương Văn Thịnh, 1966, Phú Yên; 18. Võ Văn Tuấn, 1968, Khánh Hòa; 19. Phan Tấn Dư, 1966, Phú Yên; 20. Vũ Phi Trừ, 1955, Thanh Hóa; 21. Vũ Văn Thắng, 1962, Thái Bình; 22. Phạm Gia Thiều, 1956, Nam Định; 23. Lê Đức Hoàng, 1959, Thanh Hóa; 24. Trần Văn Minh, 1963, Nghệ An; 25. Đoàn Khắc Hoành, 1963, Hải Phòng; 26. Trần Văn Chức, 1965, Thái Bình; 27. Hán Văn Khoa, 1962, Phú Thọ; 28. Nguyễn Thanh Hải, 1968, Hải Phòng; 29. Nguyễn Tất Nam, 1966, Nghệ An; 30. Trần Khắc Bảy, 1967, Hà Nam; 31. Đỗ Viết Thành, 1966, Thanh Hóa; 32. Nguyễn Xuân Thủy, 1967, Nam Định; 33. Nguyễn Minh Tân, 1965, Thái Bình; 34. Võ Minh Đức, 1966, Quảng Bình; 35. Trương Văn Hướng, 1966, Quảng Bình; 36. Nguyễn Tiến Doãn, 1966, Quảng Bình; 37. Phan Hữu Tý, 1966, Quảng Bình; 38. Nguyễn Hữu Lộc, 1968, Đà Nẵng; 39. Trương Quốc Hùng, 1967, Đà Nẵng; 40. Nguyễn Phú Đoàn, 1968, Đà Nẵng; 41. Nguyễn Trung Kiên, 1968, Nam Định; 42. Phạm Văn Lợi, 1968, Đà Nẵng; 43. Trần Văn Quyết, 1967, Quảng Bình; 44. Phạm Văn Sỹ, 1968, Đà Nẵng; 45. Trần Tài, 1969, Đà Nẵng; 46. Lê Văn Xanh, 1967, Đà Nẵng; 47. Lê Thể, 1967, Đà Nẵng; 48. Trần Mạnh Việt, 1968, Đà Nẵng; 49. Trần Văn Phòng, 1960, Thái Bình; 50. Trần Quốc Trị, 1965, Quảng Bình; 51. Mai Văn Tuyến, 1968, Thái Bình; 52. Trần Đức Hóa, 1966, Quảng Bình; 53. Phạm Văn Thiềng, 1967, Quảng Bình; 54. Tống Sỹ Bái, 1967, Quảng Trị; 55. Hoàng Anh Đông (bia không ghi năm sinh), Quảng Trị; 56. Trương Minh Phương, 1963, Quảng Bình; 57. Hoàng Văn Thúy, 1966, Quảng Bình; 58. Võ Văn Tứ, 1968, Quảng Bình; 59. Phan Hữu Doan, 1960, Phú Thọ; 60. Bùi Duy Hiển, 1966, Thái Bình; 61. Nguyễn Bá Cường, 1962, Quảng Nam; 62. Hiền Văn Lập, 1963, Hà Tây; 63. Lê Đình Thơ, 1957, Thanh Hóa; 64. Cao Xuân Minh, 1966, Thanh Hóa.
Tôi thắp hương, kính cẩn nghiêng mình trước tấm bia ghi công các liệt sĩ. Tên các anh ghi danh ở đây, còn hình hài các anh đã hòa cùng biển cả của Tổ quốc. Rời đảo Sinh Tồn, trên đường đến với đảo Cô Lin, một đảo chìm cách không xa đảo Gạc Ma, nơi xảy ra trận chiến bi hùng của hải quân Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm chiếm đảo này năm 1988, đoàn đã tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh tại quần đảo Trường Sa. Đoàn đã cùng nhau ôn lại câu chuyện cảm tử của những người lính hải quân Việt Nam trong nỗi nghẹn ngào thống thiết và trong niềm tự hào chất ngất. Đoàn đã dâng hương, thả vòng hoa rồi từng người lần lượt thả từng cành hoa tưởng niệm xuống biển. Hoa như máu thắm của các anh ngày nào đã quyện đỏ lòng son cùng biển đảo đất nước. Ngày 14/3/1988, trên vùng biển đảo Gạc Ma đã diễn ra trận chiến ác liệt, không cân sức giữa một bên là những cán bộ, chiến sĩ hải quân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng đảo, trong tay chỉ có cuốc, xẻng, xà beng và súng bộ binh với quân Trung Quốc gồm những tàu chiến hiện đại, vũ khí tối tân. Trước sự hung bạo của địch, nhiều tấm gương mưu trí, quả cảm, kiên cường của quân ta đã xuất hiện. Đó là Trung tá Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146, Đại úy Vũ Phi Trừ, Thuyền trưởng tàu HQ-604 đã bình tĩnh chỉ huy các chiến sĩ kiên cường chiến đấu, sẵn sàng xả thân vì chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Đó là Thiếu úy Trần Văn Phương, Phó Chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma trước lúc hy sinh đã quấn cờ Tổ quốc quanh thân mình và động viên đồng đội: “Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của Quân chủng”. Đó là anh hùng Nguyễn Văn Lanh bị thương nặng vẫn không rời vị trí chiến đấu, quyết giữ đảo đến cùng. Đó là Thiếu tá Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ, chỉ huy tàu HQ-505 đã có một quyết định táo bạo, mưu trí, sáng suốt. Lúc đó, tàu HQ-505 bị quân Trung Quốc bắn hỏng máy, trôi ra xa đảo Cô Lin (đảo Cô Lin cách không xa đảo Gạc Ma) và có nguy cơ bị chìm. Nếu tàu HQ-505 không nhanh chóng trở lại với đảo Cô Lin, tàu sẽ chìm, các chiến sĩ trên tàu sẽ hy sinh và đảo Cô Lin sẽ bị địch chiếm mất. Trước tình thế nguy kịch, ngàn cân treo sợi tóc, Thiếu tá Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã chỉ huy tàu HQ-505 vừa đánh trả địch, vừa tiến về phía đảo Cô Lin, rồi nhanh chóng cho tàu lao lên bãi ngầm đảo này, biến con tàu thành pháo đài vững chắc để giữ đảo Cô Lin. Do lập nên chiến công tuyệt vời này, Thiếu tá Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong số 64 liệt sĩ đã ngã xuống tại vùng biển đảo Gạc Ma, có 2 liệt sĩ ở Quảng Trị. Trong số 2 liệt sĩ ở Quảng Trị, liệt sĩ Tống Sỹ Bái là chú ruột của Tống Văn Cường, nhân viên Trung tâm Công nghệ Thông tin và Truyền thông Quảng Trị. Sau “khúc tưởng niệm trên biển” cùng với đoàn, khi trở về đất liền, nhờ Cường, tôi đã có riêng “khúc tưởng niệm liệt sĩ Tống Sỹ Bái”. Cường dẫn tôi đi thăm mộ liệt sĩ Tống Sỹ Bái đặt trên đất làng Phổ Lại, Phường Cam An, Cam Lộ, Quảng Trị. Anh Bái ngã xuống khi chỉ mới 21 tuổi. Mộ anh đặt cạnh mộ của người cha và mộ của những người thân. Anh đã hiến thân mình cho đảo Gạc Ma nên mộ anh không có thi hài mà chỉ có hình nhân được táng vào đó, thay cho anh. Viếng mộ anh Bái về, tôi đến thăm gia đình bố mẹ Cường, bà nội Cường (tức mẹ của anh Bái). Anh Tống Sỹ Kỳ, 63 tuổi, bố Cường, bùi ngùi kể: “Năm 1988, gia đình nhận được giấy báo tử, nhưng phải 5 năm sau, gia đình mới dựng mộ cho chú Bái, do có người nói chú chưa mất hoặc chú đang bị Trung Quốc bắt. Năm 1993, gia đình mới mời thầy pháp về để luyện cốt, chiêu hồn cho chú. Cốt là hình nhân, lấy sọ dừa làm đầu, lấy sáp làm thân, lấy cây dâu làm đốt xương, lấy máu từng người trong nhà giọt vào cây dâu, táng vào tiểu ván. Áo quần của chú còn lại cho vào trong tiểu luôn”. Bà Hoàng Thị Giỏ, 85 tuổi, người đã chịu đựng nỗi đau tột cùng mất con, mất cả hình hài con, nghẹn ngào nhớ lại buổi anh Bái lên đường tòng quân: “Hắn nói mạ để cho con đi. Trước sau, con cũng đi nghĩa vụ. Lúc đó, tên hắn chưa đến lượt gọi đi”. Anh Kỳ nhớ như in về dáng vóc, tâm tính đứa em liệt sĩ: “Chú Bái người cao, đẹp trai. Tính tình dễ thương, không làm mất lòng ai. Trước khi vào hải quân, chú đã có người yêu. Chú nói, em đi nghĩa vụ đợt này về rồi tính chuyện vợ con”. Anh Kỳ kể thêm rằng, cách đây ba năm, bên quân đội đã cử người đến lấy mẫu máu của anh Kỳ, mẹ anh Kỳ và một người em gái anh Kỳ để đối chiếu với những mẫu hài cốt liệt sĩ đã tìm được. Sau đó, anh được báo tin mẫu máu của anh và những người thân trong gia đình anh không khớp với mẫu hài cốt nào cả. Ôi! Gạc Ma đau thương, Gạc Ma bi hùng, Gạc Ma phẫn hận!
Sau khi Trung Quốc xâm chiếm một số bãi đá ngầm và đảo Gạc Ma của Việt Nam năm 1988, việc tăng cường bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo Tổ quốc, trong đó có thềm lục địa đặt ra bức bách. Ngày 5/7/1989, Hội đồng Bộ trưởng chính thức tuyên bố thành lập Cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ (DK1) tại thềm lục địa phía Đông Nam nhằm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền vùng biển Việt Nam. Nhiều nhà dàn đã được dựng nên trên biển cả. Do bão táp hung dữ hoành hành, một số nhà dàn đã bị đổ trong những năm từ năm 2000 trở về trước. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã kiên cường chống chọi cùng sóng gió bão táp, sống chết với nhà dàn đến hơi thở cuối cùng. Trên hành trình đến với các nhà dàn, đoàn đã tổ chức lễ tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trên thềm lục địa phía Nam. Trong hương hoa tưởng niệm ngát thơm mặt biển, lời tri ân của đoàn đối với các liệt sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp nhà dàn được xướng lên thiết tha, vang vọng như thấu tận thẳm sâu lòng biển: “Một cái chết để muôn ngàn lần sống, một cái chết rực khí phách kiên cường, sáng lên lòng quả cảm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội, trong trắng, thủy chung, sáng ngời”. Trong nỗi ngậm ngùi tiếc thương và niềm cảm khái dâng đầy, đoàn đã cùng nhau ôn lại những tấm gương xả thân vì đồng đội, vì Tổ quốc. Trong bão táp nguy kịch, Thượng úy Nguyễn Hữu Quảng, Bí thư Chi bộ Nhà dàn DK1/3 Phúc Tần vẫn nhường miếng lương khô cuối cùng và chiếc phao cá nhân của mình cho người chiến sĩ yếu nhất, nhường sự sống cho đồng đội để rồi thanh thản chìm vào lòng biển khơi. Đại úy, Trạm trưởng Vũ Quang Chương, Chuẩn úy Lê Đức Hồng, Chuẩn úy Nguyễn Văn An của Nhà dàn DK1/16 Phúc Nguyên đã anh dũng hy sinh. Khi nhà giàn đổ, Chuẩn úy Lê Đức Hồng chỉ kịp gửi lời chào “vĩnh biệt đất liền” rồi chìm vào sóng biển. Chuẩn úy Nguyễn Văn An để lại người vợ trẻ và đứa con đỏ hỏn mới chào đời mà anh chưa kịp biết mặt. Thượng úy Phạm Tảo, Thượng úy Trần Văn Là, Chuẩn úy Lê Tiến Cường, các chiến sĩ Tạ Ngọc Tú, Hồ Văn Hiền đã chấp hành mệnh lệnh, dũng cảm hy sinh để tìm kiếm, cứu vớt đồng đội bị nạn.
Qua thử thách, trải nghiệm với thời gian, những nhà dàn bị đổ đã được dựng lại, gia cố trụ dàn chắc chắn hơn, vững chải hơn. Ngồi trên nhà dàn DK1/17 lộng gió, Chuẩn đô đốc Nguyễn Ngọc Tương, Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân, Phó đoàn công tác chạnh niềm nhớ lại lúc anh đến với những nhà dàn đã bị đổ. Năm 1997, lúc đó anh đang là Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 171, Quân chủng Hải quân ở Vũng Tàu, khi đến nơi một nhà dàn bị đổ, bao cảm xúc nghẹn ngào, nhớ tiếc trào dâng trong anh, khiến anh động bút làm bài thơ “Những cánh thư màu tím” để tưởng niệm những người đã ngã xuống vì biển đảo Tổ quốc. Tứ thơ của bài thơ này sau đó được dựa vào để dựng nên một tiết mục hoạt cảnh và tiết mục này đã nhận được Huy chương Vàng tại hội diễn của Quân chủng Hải quân năm 1998. Anh khẽ đọc bài thơ, đúng hơn là anh đang đọc lại lòng mình quặn thắt cho tôi nghe, với giọng đọc trầm lắng, giàu suy tưởng:
Tàu đi đảo thư vẫn nhiều hơn cả
Những cánh thư mực tím tựa hoa đào
Hơi biển ấm xuân về hương cỏ mật
Thơm góc trời nơi anh ở xôn xao
Các anh sống gần mây hơn gần đất
Sóng mênh mông nửa nước với nửa trời
Trời với nước chia đôi nhà ở giữa
Thành chiến hào đảo thép giữ giàn khoan
Nhà dàn trong mây canh một hướng tây nam
Khi nước triều lên nằm ngang mặt sóng
Biển có bao giờ im lặng
Để lòng thu xếp chút riêng tư
Tàu đến dần tọa độ hiểm nguy
Thuyền trưởng không tin ngỡ mình đi chệch hướng
Nhà dàn đâu rồi chỉ một trời gió biển
Các anh về đâu các anh ở đâu
Người chiến sĩ thả chồng thư xuống biển
Gửi theo sóng những lời đưa tiễn
Nước mắt nhòa trong sóng vấn vương
Nước mắt nhòa trong sóng biển quê hương
Anh bỗng thấy ngàn cánh thư màu tím
Rơi tím chiều Tổ quốc phía đường biên...
(Còn tiếp)
N.H





