Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Trường Sa - Nơi đầu sóng ngọn gió

 (Tiếp theo Cửa Việt số 246)

Lắng tiếng chuông chùa

Nhiều đảo ở quần đảo Trường Sa mà tôi được đến thăm như Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa… đều có chùa. Giữa mênh mông trùng dương, giữa sóng gió, bão táp, những ngôi chùa Việt đứng đó với phong thái cổ kính, thanh thoát, an nhiên tự tại. Đến với chùa Trường Sa trên đảo Trường Sa, tôi đã được thấy tượng Phật ngọc màu xanh biếc do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tặng cho chùa. Đây là tượng Phật ngọc do Liên đoàn Phật giáo Thế giới tặng Thủ tướng tại chùa Vàng Shwedagon, thủ đô Yangon, Myanmar, trong dịp Thủ tướng thăm chính thức Myanmar. Tôi đã gặp đại đức Thích Giác Nghĩa, người đã từng trụ trì hai năm ở chùa Trường Sa, dù đã hết thời gian trụ trì ở chùa này, đại đức vẫn ra lại với Trường Sa vì còn lo một số công việc nhưng cái chính hẳn là vì duyên nợ không dứt được. Nhân thầy Thích Giác Nghĩa ra trụ trì ở chùa Trường Sa, thầy Thích Tâm Trí ở chùa An Dưỡng, tỉnh Khánh Hòa đã làm thơ tiễn. Bài thơ với từng câu không dài, chỉ một, hai, ba chữ, chắc nịch, ngắn gọn, như lời niệm câu thần chú, như lệnh truyền từ tâm qua tâm, chất chứa bao niềm thiết tha, gửi gắm, niềm thúc giục lên đường vì sứ mệnh thiêng liêng:

Đi

Hãy ra đi

vì biên cương

biển đảo

Đi

ra đi

Cỡi sóng

Vượt trùng dương

 

Đi

Đi đi

Cho yên bình

hiện hữu           

 

Đi

bước đi

để ổn cố sơn hà

Chùa Trường Sa luôn gắn liền với mạch nguồn truyền thống, với linh khí của đất nước đã hun đúc và trao truyền. Năm 2013, thầy Thích Giác Nghĩa đã rước tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông ra thờ ở chùa này. Năm 2014, gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trao di ảnh Đại tướng cho chùa để thờ.

Sau khi thầy Thích Giác Nghĩa thôi trụ trì ở chùa Trường Sa, đại đức Thích Pháp Đạt, Ủy viên Ban Hoằng pháp, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hòa đã đến trụ trì ở chùa này. Cùng với thầy Đạt, còn có đại đức Thích Như Đạo, phó trụ trì. Một sớm thong thả, thư thái, tôi ngồi đàm đạo việc đời, việc đạo với đại đức Thích Pháp Đạt bên chén trà tỏa hương ngào ngạt, trong sân chùa Trường Sa, dưới tán cây rợp mát. Đại đức tâm sự: 

- So với đất liền, ở đây thiếu thốn nhiều thứ. Nhưng chúng tôi khắc phục khó khăn. Tùy duyên mà làm việc. Hai anh em chúng tôi ra đây là phát nguyện đi vùng sâu, vùng xa. Nơi nào cần, nơi nào khó khăn, mình đến. Sau này, mình đến với những nơi khác sẽ cảm thấy dễ hơn. Khó khăn lớn vượt qua được thì những khó khăn khác cũng sẽ nhẹ nhàng hơn.   

Đại đức Thích Pháp Đạt quê ở Phan Thiết, từng tu học ở thành phố Hồ Chí Minh, hành đạo ở Nha Trang, Khánh Hòa. Theo đại đức cho biết, đại đức có hướng sẽ ra tu ở miền Bắc, sau này. Nhân chuyện thầy Nghĩa rước tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông ra thờ ở chùa Trường Sa, chuyện thầy Đạt dự định mai kia sẽ ra đất Bắc, tôi và thầy Đạt cùng nhớ về truyền thống giúp đời, góp phần dựng nước của Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo thời Trần nói riêng, nhớ về công lao to lớn của vua Trần Nhân Tông, người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba thắng lợi, cũng là vị Phật hoàng đã lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thầy Đạt như thăng hoa trong dòng mạch cảm khái, giọng tha thiết:

- Yêu nước là niềm tự hào của người con Phật. Đạo pháp luôn đi cùng dân tộc, đồng hành cùng dân tộc.

Mỗi sáng, mỗi chiều và khi đêm xuống, tôi nghe tiếng chuông chùa Trường Sa ngân nga, thao thức, đồng vọng cùng tâm nguyện của quân dân Trường Sa một lòng son sắt với Tổ quốc, gìn giữ hòa bình, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Một trong những biểu hiện đặc biệt, đầy cảm động của tâm nguyện đó thể hiện qua nghĩa cử cao đẹp của ông Hoàng Văn Sáu, quê ở làng Nam Thượng, xã Tây Hồ, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, trú tại quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Ông Sáu đã cung tiến xây dựng trên đảo Trường Sa công trình Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, với tổng số tiền là 9.986.681.000 đồng, khánh thành ngày 28/6/2010. Đài xây hình tháp thanh thoát, vút cao trên nền trời hòa bình xanh ngắt của đảo Trường Sa. Ở bên ngoài khuôn viên, phía trước Đài tưởng niệm, một tượng Phật Quan Âm được dựng lên để chung niềm sẻ chia, thấu tỏ và đồng vọng với cõi yên nghỉ vĩnh hằng của Đài tưởng niệm. Nét đặc biệt ấn tượng của kiến trúc tượng Phật này là, khác với các bức tượng Phật thường tạc tay Phật cầm bình nước cam lồ, Phật Quan Âm ở đảo Trường Sa không cầm bình nước cam lồ mà cầm, chính xác hơn là nâng trên tay cánh chim bồ câu như nâng niu, gìn giữ niềm vui hòa bình. Đứng trước tượng Phật Quan Âm mang hình ảnh biểu trưng cho hòa bình này, nghe tiếng chuông chùa gióng giả vì quốc thái dân an, thiết tha cùng vận nước ở Trường Sa, tôi nhớ đến hình ảnh tượng Phật Quan Âm ở quần đảo Hoàng Sa mà tôi đã xem trong một tài liệu về Hoàng Sa, xuất bản tại Sài Gòn, tháng 3/1974. Theo tài liệu này, khoảng cuối năm 1938, ông André Faucheux, Trưởng Ty Công chánh tỉnh Quảng Nam và thị xã Đà Nẵng cùng một phái bộ của chính quyền Pháp đã đến dựng bia chủ quyền của triều đình Huế trên quần đảo Hoàng Sa. Ông André Faucheux cho biết: “Chúng tôi lại nhận thấy có một tượng Phật Quan Âm bằng đá cao lối 4 tấc. Sau đó chúng tôi được biết tượng Phật Quan Âm do các ngư phủ Việt Nam thường đến quần đảo để săn rùa dựng lên”. Ông khẳng định: “Chúng tôi không hề thấy một người Tàu nào trên quần đảo cả. Vả lại, sau khi trồng bia chủ quyền xong, tôi cũng không hề nghe có chính phủ Trung Hoa hoặc bất cứ chính phủ nào khác phản đối. Như thế, theo tôi nghĩ Hoàng Sa phải là một phần đất của Việt Nam”. Ông nói rằng ông sẵn sàng nêu sự thật như trên trước một tham cấp (instance) quốc tế, nếu được yêu cầu. Vậy đó, những câu chuyện, những kỷ niệm, những hình ảnh về chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ nằm sâu trong tâm thức của người Việt mà còn nằm sâu trong ký ức và lương tri của cả nhiều người nước ngoài.

Thắm tình quân dân

Trong những ngày ra khơi, đánh vật cùng sóng gió và bao bất trắc khôn lường của biển cả, những người ngư dân đã có đảo làm chỗ dựa vững chắc để bền lòng, miệt mài bám biển. Các đảo là cơ sở “hậu cần” cho ngư dân trong khai thác, đánh bắt hải sản như sửa chữa tàu cho ngư dân, san sẻ nhu yếu phẩm..., đặc biệt, các đảo còn là nơi khám, điều trị, cấp thuốc, kể cả cấp cứu cho ngư dân khi bị ốm đau hoặc thương tích, tai nạn trên biển. Đến đảo Trường Sa Đông, tôi đã tỉ tê chuyện trò khá lâu với anh Ngô Công Tuấn, Bác sĩ Chuyên khoa 1, Bệnh xá trưởng Bệnh xá Trường Sa Đông và vì vậy ít nhiều hiểu thêm chuyên môn sâu về cấp cứu ngư dân của quân y trên đảo. Anh kể: “Trong năm qua, chúng tôi đã cấp cứu các trường hợp ngư dân bị giảm áp do lặn sâu, bị quặn thận do sỏi, bị ruột thừa. Nặng nhất là ngư dân bị giảm áp, sau khi cấp cứu, các ngư dân đều ổn định sức khỏe và trở lại tàu”. Phần vì say với chuyện nghề, phần do xúc động nhớ lại những lúc chứng kiến cơn nguy kịch của ngư dân, phần do tôi hỏi tỉ mẩn, anh Tuấn nói với tôi mà như thể nói với người có chuyên môn sâu về cấp cứu trong nghề y vậy: “Khi lặn sâu cứ 10 m thì làm tăng thêm 1 lít khí ni tơ ứ đọng trong cơ thể. Có người lặn đến 80 m. Có những trường hợp bị liệt nửa người, đau đầu dữ dội do khí ni tơ ứ đọng, không thoát ra được, chèn mạch máu. Tùy triệu chứng mà xử lý”. Anh cho biết, trên đảo có máy ô xy cho bệnh nhân thở. Máy này hút khí trời, lọc ra ô xy nguyên chất truyền qua ống thở cho bệnh nhân có dưỡng khí mà hồi phục sức khỏe. Đến đảo Đá Tây, ở điểm B, trong một gian phòng của đảo, tôi đọc thấy trên tường có ghi các “phác đồ cấp cứu đuối nước”, “phác đồ cấp cứu sốc phản vệ” để chiến sĩ ta thuộc nằm lòng mà áp dụng cho ngư dân, lúc gặp bất trắc.

Ở đảo Trường Sa, đảo có bệnh xá với phòng mổ khá tốt, được trang bị các thiết bị X-quang, siêu âm, gây mê, máy xét nghiệm máu... Tôi hỏi anh Lê Minh Phong, Bệnh xá trưởng Bệnh xá đảo Trường Sa về chuyện khám chữa bệnh cho dân. Anh vừa trả lời bằng trí nhớ rõ mồn một về từng loại ca bệnh đã chữa khỏi cho dân, vừa in từ máy vi tính ra cho tôi những trang dữ liệu theo kiểu “nói có sách mách có chứng”. Từ đó, tôi biết rõ được vừa tổng quan, vừa cụ thể về các trường hợp khám, điều trị, cấp cứu, phẫu thuật... trên đảo. Trong năm 2013, quân y đảo đã khám và điều trị cho dân 361 trường hợp, ngư dân 334 trường hợp; cấp cứu 64 trường hợp, trong đó dân 12 trường hợp sốt cao, hạ canxi huyết, rối loạn thần kinh phân ly, viêm dạ dày cấp, vết thương rách da đầu do tai nạn lao động, ngư dân 18 trường hợp, chủ yếu là viêm phúc mạc ruột thừa, cơn đau quặn gan, chấn thương sọ não có lún sọ hôn mê độ II, chấn thương gối, chấn thương bàn tay, loạn thần sau tai nạn, nhiễm trùng uốn ván, loạn thần do sét đánh gần, áp xe ổ bụng, gãy xương cánh tay; phẫu thuật thành công 54 trường hợp, trong đó có 4 trường hợp đại phẫu (1 ngư dân viêm phúc mạc do ruột thừa hoại tử, 1 ngư dân do tai nạn lao động bị dập nát nửa trước ngoài bàn tay trái và các trường hợp ghép da, chuyển vạt da), 10 trung phẫu (dập nát bàn tay trái do tai nạn lao động ở tàu cá, cụt đốt 3 ngón 3 bàn tay phải do tai nạn lao động, áp xe mu chân do gai cá đâm vào, khâu nối gân duỗi ngón tay... ). Quân y đảo Trường Sa đã thu dung cấp cứu, điều trị đảm bảo an toàn và chuyển vào bờ đúng quy định cho các trường hợp cần cứu chữa.

Những nụ mầm mới

Đến các đảo ở quần đảo Trường Sa, vui nhất là được thấy trẻ con xúng xính áo mới, có những cháu nhỏ mang sắc phục hải quân lon ton theo bóng áo dài truyền thống thướt tha của mẹ, hớn hở đi đón đoàn từ đất liền ra thăm đảo. Trong số các cháu, có những cháu sinh ra ở đất liền rồi theo cha mẹ ra đảo, đặc biệt, có những cháu được sinh ra trên đảo. Hay tin trên đảo Sinh Tồn vừa có một cháu gái mới chào đời cách lúc tôi đến đảo này chỉ mới hơn hai mươi ngày, tôi đã đến thăm cháu với niềm mừng rỡ như bắt được vàng, không một chút e ngại hay kiêng cữ rằng đi thăm như thế là dễ bị mắc “phong long”, nghĩa là mắc cái hơi xấu, vía xấu của người phụ nữ mới sinh, theo cách nghĩ dân gian xưa nay. Chị Phan Thị Thương, vợ anh Nguyễn Minh Châu đã sinh bé gái Nguyễn Phan Ngọc Hân ngày 2/4/2014 tại Bệnh xá đảo Sinh Tồn. Bồng trên tay cháu bé còn đỏ hỏn, chị Thương ngồi tiếp chúng tôi với nét vẻ tươi cười, niềm nở, dường như không còn chút gì là dấu hiệu mệt mỏi của một sản phụ chỉ vừa mới qua cơn “vượt cạn”, mang nặng đẻ đau. Cầm trên tay nâng niu và ngắm nghía tấm giấy khai sinh của cháu Hân đỏ chót màu quốc huy và tươi rói màu con dấu thị thực, tôi như được cảm nhận sâu hơn về sức sống và vẻ đẹp của những đóa hoa phong ba nở giữa lòng biển cả. Tôi tỉ tê hỏi anh Châu đôi điều về chuyện nghề, chuyện đời của vợ chồng anh. Anh kể chuyện nghề: “Ra sống ở đảo, mình làm nghề đánh cá, đi mủng. Mình đánh các loại cá thu, cá mó, cá bè, bạch tuộc, mực... ”. Tôi hỏi về việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống trên đảo như nước uống, rau xanh, những nhu cầu mà việc giải quyết gặp khó khăn bội lần so với nơi đất liền, anh vẫn trả lời vui vẻ như không có chuyện gì: “Nước ngọt thì xài nước mưa. Rau xanh tự trồng được”. Tôi không hỏi về các nhu cầu vật chất nữa, mà xoay sang hỏi về “lĩnh vực tinh thần”: “Xa người thân, xa quê hương, ra lập nghiệp ở đảo, vợ chồng anh cảm thấy thế nào?”. Câu hỏi đã ướm và ra khỏi lòng rồi, tôi còn e làm anh Châu chạnh niềm. Nhưng tôi bỗng vui và thấy yên lòng, khi anh Châu giải tỏ: “Vợ chồng tôi đã quen dần với cuộc sống ở đảo. Sống đâu quen đó mà!”.

Đến thăm Trường Tiểu học Trường Sa, gặp các em học sinh tiểu học ở đây, tôi được sống với những cảm giác vừa quen thuộc, vừa mới mẻ. Quen thuộc là được sống lại với thế giới tuổi thơ êm đềm của đời người ai cũng có. Mới mẻ là được chứng kiến một tuổi thơ Trường Sa lớn lên giữa trùng dương, biển cả. Nhìn các em đang gò lưng trên bàn để làm bài, trên mình mặc áo quần mang sắc phục hải quân, tôi hiểu về sứ mệnh bảo vệ biển đảo thiêng liêng mà các em sẽ mang vác, ngày mai. Thầy giáo Đồng Minh Hiệp quê ở huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, 24 tuổi, ra đảo làm giáo viên dạy lớp 1, Trường Tiểu học Trường Sa “khoe” với tôi rằng học sinh của thầy sớm có những kiến thức, hiểu biết về biển: “Gia đình các em là ngư dân. Các em biết về các loại cá rất nhanh: cá bò, cá dìa... Các em phân biệt được những con cá thuộc loại cá gì, biết được từng loại cá khi đánh lưới lên”. Khi tôi hỏi thầy rằng làm một thầy giáo ở đảo thì có gì khác với ở đất liền, thầy liền bộc bạch về tâm nguyện của mình với đảo Trường Sa: “Ra với đảo, trách nhiệm của mình nặng hơn, vì ở nơi đầu sóng ngọn gió mà. Nhưng mình thấy phấn khởi, vinh dự vì được công tác ở Trường Sa”. Tôi gợi chuyện tiếp: “Cho dẫu xa nhà nhưng chắc thầy nhận được những niềm vui, niềm động viên từ phía các em học sinh và phụ huynh học sinh ở đảo chứ?”. Đôi mắt thầy chớp chớp ánh lên niềm vui, thầy nói cả bằng mắt lẫn bằng lời tha thiết: “Các em có tinh thần học tập, nhạy và sáng ý, như chuyện phân biệt nhanh từng loại cá mà tôi vừa kể đó. Phụ huynh ở đây thường quan tâm đến nhà trường. Đánh cá lên, phụ huynh thường tặng cho các thầy, mà toàn là những loại cá ngon như cá thu bè, cá hồng, cá đỏ... ”. Vui gặp những công dân tý hon của Trường Sa sớm mang sắc phục hải quân, biết thuộc từng loại cá biển như thuộc từng bài tập đọc, thuộc từng phép toán thầy giảng mỗi ngày, ôi thật đáng cảm mến và yêu thương quá đỗi, ôi thật đầy ước hẹn và tin tưởng cho ngày mai, hỡi những nụ mầm mới!

Rồi cũng đến lúc con tàu chở chúng tôi ra quần đảo Trường Sa phải nhả từng bờm sóng đuôi tàu quẫy đạp trào dâng một nỗi gì da diết lắm để tạm biệt Trường Sa, trở về đất liền. Ở Trường Sa, tôi thấu hiểu nỗi lòng của những người lính, người dân đảo luôn hướng về đất liền. Những ngày Bưu điện tỉnh Khánh Hòa tổ chức khai trương các điểm bưu điện văn hóa đảo Sinh Tồn, đảo Trường Sa, mọi người trên các đảo cùng nô nức quây quần bên nhân viên bưu điện để mừng phiên giao dịch đầu tiên của bưu điện, để hân hoan gửi những cánh thư đầu tiên về đất liền. Ai cũng mừng rỡ khi tự tay mình được nắn nót lên bì thư những dòng tên và địa chỉ người thân ở đất liền, chắc trong đó có những người mang cảm giác ngỡ ngàng pha lẫn mơ mộng, bồi hồi như khi được đề tên người thương lên cánh thiếp hồng. Anh Trịnh Công Lý, Chủ tịch UBND xã đảo Sinh Tồn xúc động nói: “Nhân khai trương Bưu điện Văn hóa xã đảo Sinh Tồn, đề nghị ngành bưu điện chuyển thư ngay vào đất liền cho thỏa niềm mong đợi của mọi người”. Về với đất liền, đi bằng “đôi chân trần” trên mặt đất, trong tôi vẫn sống với cảm giác bồng bềnh như khi đang còn ở trên con tàu lướt sóng vạn lý Trường Sa. Tôi nhớ hoài câu nhắc của anh phát thanh viên trên tàu, nhắc chúng tôi qua hệ thống loa tàu, mỗi sớm mai khi mọi người còn chìm trong giấc ngủ: “Toàn tàu báo thức! Báo thức toàn tàu!”.  Vâng! “Tổ quốc tôi như một con tàu” (Xuân Diệu). Đất nước Việt Nam là một con tàu vươn ra biển lớn trong bối cảnh tình hình biển Đông có những tranh chấp, diễn biến phức tạp, trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhiều thời cơ nhưng cũng đầy thách thức càng phải luôn luôn ở trong trạng thái “báo thức” vậy.

 

N.H

 

_________

(1) Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 119, 120.

(2) Lê Quý Đôn toàn tập, sđd, tr. 120. 

NGUYỄN HOÀN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 247

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground