Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Về nguồn

Than ôi! Cây có cội, nước có nguồn, chim có tổ, người có tông…”

Tôi thuộc lớp người mới, theo tân học, thuộc nằm lòng câu cảm thán trên đây là nhờ hai lần về quê có công chuyện. Lần thứ nhất cách đây đã hai mươi năm. Từ Huế, tôi nhận tin nhắn về làng dự khai trương bản Tộc phả mới được dịch từ Hán văn qua Quốc ngữ. Thú thực, tuổi ba mươi tráng niên tôi đã có ý nghĩ lầm lỗi: “Vẽ! Dịch xong thì đánh máy cất giữ, lại còn bắt con cháu về hầu…”. Nhưng khi tận mắt, tận tai nhìn, nghe các cụ cất giọng xướng Tộc phả mới thấy lòng chùng xuống. Té ra, con người mới chỉ được phép xếp hàng thứ tư sau cái cây, ngọn nước và chim muông. Con người mà không nhớ tổ tông há chẳng bằng loại thảo mộc, cầm thú. Gần đây, sau bao vất vả đổ mồ hôi, sôi nước mắt các cụ trong dòng họ tôi mới hoàn thành được nhà bổn tộc. Thị xã gần, chúng tôi lũ lượt kéo nhau về, áo quần tím vàng xanh đỏ, xe động cơ gầm rú vang trời, tác phong đầy tự tin. Trong lễ, vẫn thấy các cụ lụm khụm hương đèn trà rượu dâng lên các bậc tiền nhân, lại rưng rưng cái câu: “Than ôi! Cây có cội…”

Làng tôi nghèo nhưng hiếu học. Dòng họ tôi càng nghèo và càng hiếu học hơn. Mấy anh chị đỗ tiến sĩ từ Hà Nội về làm tiệc khao, được các cụ nhắc đội mâm lên thắp hương trình các bậc tiền bối thượng hưởng. Trải chiến tranh bom đạn, chiến tranh quan niệm, thằng lính tôi về làng không mang theo được bằng cấp gì “vinh quy bái tổ”. Chỉ được cái lòng còn thanh sạch, trí còn sáng suốt, chí còn hiên ngang bèn nhớ thời chăn trâu cắt cỏ mà chèo đò ngược nước tìm xem “cái cây có cội, con nước có nguồn, con chim có tổ” ra sao?! Chuyến về nguồn có các nhà nghiên cứu ở Chi hội văn hóa dân gian tham gia. Té ra, nguồn cội là ngọn gió. Ngọn gió mồ côi sau trận lụt thổi qua mênh mang đồng nước châu thổ gần nửa thế kỷ nay vẫn thế: Se se lạnh, thoang thoảng mùi phù sa chưa lắng hết. Ngọn gió thong thả của ngày nông nhàn giỡn đùa với mặt nước, tôi nhìn thấy quen thuộc lạ lùng. Té ra, nguồn cội là con mắt trâu đứng thong thả nhai lại trên các cồn bãi thênh thênh giữa đồng nước, là cây mưng mà văn tự gọi là cây lộc vừng đứng trầm mặc hằng trăm năm bên những ao làng, bên những triền đê như chứng vật, hồn vía của quê hương. Lại nữa là, những đám chim bồng. Sau lụt, nông phu quê tôi gieo mạ, lại gặp trận mưa to nước ngập. Chim bồng kéo đàn về thả bập bềnh trên đám mạ mới gieo mà ăn hạt giống. Rét lắm mà các chú các bác vẫn phải ra ngủ ngoài lều trại trên đồng, mang theo con cúi, cây lá “bốm” đốt lên để tạo tiếng động râm ran hòng đuổi chim. Bốn mươi năm đọc sách, tìm mãi mà không gặp văn tự gọi chim bồng quê tôi là chim gì, cây “bốm” là cây gì? Chỉ biết nó có cội rễ, có tổ, là mảnh hồn tuổi thơ tôi.

Người chèo đò chở chúng tôi ra đồng cũng là một cựu binh thuộc lớp trai làng tòng quân đánh Mỹ, may còn sống sót trở về, gửi lại một chân đâu trên đất Tha Mé, biên giới Việt - Lào. Anh đọc cho nghe mấy câu thơ rất ngộ (mà thực ra là rất hay):

“Ai lên Tha Mé

Cho gửi nén hương

Thắp lên ngôi mộ

Một chân bên đường”.

Trên những nẻo đường đời có bao nhiêu chuyện lạ. Có cuộc đời của quan chức bậc cao lại kết thúc bằng cánh cửa nhà tù. Có cuộc đời của kẻ tận cùng lại lóe sáng lúc hậu vận, có lăng tẩm bậc vĩ nhân lại có nắm đất vùi một cẳng chân xấu số. Tôi nhìn mỗi thứ rong rêu cỏ rác lướt qua dưới mạn thuyền mà nhớ thương về những người bạn thuở thiếu thời cùng lớn lên trên mặt nước, từng làm bạn với đám chim le le, chím trích, chim bồng, cùng trèo cây mưng, cây bún rình bắt chim sáo sậu… Bây giờ nằm rải rác nơi đâu trên những nẻo đường Trường Sơn.

Nhớ một câu thơ trong “Thề non nước” của cố thi sĩ Tản Đà:

“Non cao đã biết hay chưa

Nước trôi ra biển lại mưa về nguồn”.

 Cầu mong sao cho chúng tôi chưa kịp trôi ra biển đã được hóa thân thành làn hơi bay lên, nương theo ngọn gió nồm trở lại những cánh rừng Trường Sơn đại ngàn bỗng ớn lạnh mà ngưng đọng thành giọt nước, rơi xuống, tụ lại thành suối, thành lạch, hợp thủy thành sông chảy về đồng.

Một ngày giáp tết, tôi bước chầm chậm dọc đường quê, gặp một đám trai thị thành về làng, áo quần muôn hồng ngàn tía, mặt mũi nhìn lên, phóng xe phân khối lớn, lòng tự nghĩ phải tìm cái dịp chi đây để ngâm lên cái câu cảm thán: “Than ôi! Cây có cội, nước có nguồn…” như bao năm đã vang lên trong trái tim tôi.

 

 

Lâu rồi không thấy một đàn chim

 

 

T

háng mười, tháng mưa lụt. Đồng đất vùng trũng mênh mang nước. Sau lụt là tiết thu phân, trời xanh trong, gió hanh hao, hây hây mát. Cả cánh đồng ngập ngụa cỏ dại, năn lác. Đây đó nổi lên một vài cồn bãi. Lũ trẻ lùa cả đàn trâu thả ra đồng hoang rồi về nhà cắp sách tới lớp, nửa chiều lại rủ nhau đi đón trâu về. Và, khi đàn trâu còn lang thang đâu đó ngoài đồng xa, cả bọn bày ra vô số trò chơi dân gian có gốc gác từ xa xưa. Thảng hoặc có đoạn tơ trời bay xuống, người lớn gọi là bạch lộ. Nước vỗ ì oạp quanh cồn. Những con ốc bươu béo mập dạt vào. Lũ trẻ vơ cỏ khô nổi lửa nướng ốc sủi bọt kêu xèo xèo. Vô tình có đứa nhìn trời bỗng a… lên, tay chỉ thiên. Tất cả ngước nhìn theo: Một đàn chim đang bay qua, đội hình xếp chữ A hướng theo chiều mũi nhọn, con sau nương theo cánh vỗ con trước, nhịp nhàng và lặng lẽ. Cả bọn như nín thở đăm đăm dõi mắt theo, cho mãi tới khi cái hình chữ A nhỏ dần rồi khuất hẳn. Một đứa thảng thốt: - Hắn bay đi mô rứa hè? - Ai biết!. Một đứa ra vẻ thành thạo: - Chim di cư - Răng mi biết? - Anh tau nói. Anh tau học lớp mười trường huyện cái chi cũng biết hết…

Và rồi, chiều nào cũng có đàn chim bay qua. Chiều nào lũ trẻ cũng ngóng theo cho tới khi cái hình chữ A hoa khuất lấp phía chân trời. Cho tới một hôm, khi lũ trẻ đang ngửa cổ hoa mắt nhìn theo đàn chim thì một con bé bỗng ơ ơ chỉ tay lên: Có một con chim đang bay chậm lại, tụt sau đàn, đôi cánh của nó cơ hồ đang yếu đi. Rồi đột nhiên có một con chim nữa cũng tụt lại bay song song như đang dỗ dành khuyến khích con chim kia. Cả bọn nín thở ngoái đầu dõi theo. Nhưng dường như khoảng cách giữa đôi chim và cả đàn đang nới rộng dần ra. Mười giây, hai mươi giây, khi nhưng cái cần cổ trẻ con đã mỏi thì con chim mẹ dần dần bay vượt lên bám theo đàn. Con chim nhỏ tụt lại càng ngày càng xa hơn rồi đôi cánh buông thõng loạng choạng sa xuống như một tờ giấy trắng. Lũ trẻ chăn trâu hè nhau lội băng đồng. Con chim nằm xoải cánh có vẻ mệt mỏi. Một thằng tóm lấy giơ cao lên. Bỗng vang lên một tiếng kêu lảnh lói. Cả bọn quay ngoắt lại. Mặt con Hến trắng bệch. Nó lao đến giằng con chim khỏi tay thằng kia. Mắt nó đẫm nước, chân lội ì oạp về phía cồn nổi…

Cũng phải mấy chục năm sau, khi đã đến tuổi trưởng thành, đọc ít sách vở tôi mới lý giải được tiếng kêu thương của con Hến. Nghe nói nó mồ côi mẹ. Cha nó là một gã lính tẩy, gặp mẹ nó trong một lần nào đó. Con Hến ở với dì ruột, cũng neo đơn lắm. Bọn trẻ “ra nghị quyết” nhất trí giao cho Hến chăm sóc con chim lạc đàn. Con bé hớn hở ra mặt. Chiều ấy, lùa trâu về chuồng, nó cứ thu lu con chim nhỏ trong vạt áo. Hoàng hôn, gió thu hây hẩy trên đồng, đã thấy se se lạnh.

Ba hôm sau, buổi chiều đi đón trâu, con Hến mang theo một cái bọc vải nhỏ. Ra tới cồn nổi, nó xổ xuống một vật gì trắng trắng. Cả bọn bu lại xem, hóa ra là con chim nhỏ đã chết từ bao giờ, cứng đơ. Lần này, con Hến không khóc. Nó kiếm một cái que, đi ra một góc hì hụi đào một cái lỗ, đặt con chim xuống, lấp đất cẩn thận. Cử chỉ của nó chậm rãi, bình thản. Gương mặt nó có gì lạ lạ không giống thường ngày khiến bọn trẻ trở nên cẩn trọng im lặng theo dõi, nghe rõ cả tiếng gió thổi mướt mát trên cánh đồng. Rồi, như có linh tính, cả bọn lại nhìn lên trời. Không phải chờ lâu, trên nền trời thu trong vắt lại một đàn chim bay qua, đội hình xếp chữ A, cánh vỗ thong thả nhịp nhàng và lặng lẽ. Vậy là, bắt đầu từ hôm ấy, cái việc chúng tôi chiều chiều tụ tập ra cồn bãi không chỉ để đón trâu về mà còn háo hức đón tiễn những đàn chim di cư.

Ngày tháng bay như cánh chim trời, khác chăng là một đi không trở lại. Gạo mùa, khoai sắn, cá đồng nuôi chúng tôi lớn dần lên. Đứa vào các trường chuyên nghiệp, đứa cầm súng ra chiến trường “một đi không trở lại”. Ba mươi, bốn mươi năm trôi vèo. Mỗi lần về thăm quê tôi những muốn lang thang ra những cồn nổi có nhiều cỏ may, cỏ mật, nghe lại tiếng gió râm ran mướt mát trên đồng. Rồi bỗng gặp một đoạn tơ trời sa xuống mà tự vấn rằng người quê gọi là “bạch lộ” liệu có đúng chăng, và như có điều gì sâu đằm lắm trong ký ức mà chưa nhớ ra. Những trò chơi dân gian thuở trước? Bóng dáng những người bạn thiếu thời?... Phải thôi, nhưng không hoàn toàn đúng. Có lẽ là chân dung gầy guộc lẩy bẩy trong gió rét của một người bạn gái với tiếng kêu lảnh lói trong một chiều mùa thu đã xa lắm, nhưng vẫn tự lừa dối mình rằng: vì lâu rồi không thấy một đàn chim.

 

Thạch thảo

 

 

“Một mớ hành ta

Một mớ ngò tây

Tập tàng một mớ

Mỗi thứ dăm cây

Rau xanh như chị

Chị như rau gầy...

 

L

à cái sự đa cảm ẩn náu trong tôi bỗng động cựa khi những câu thơ của Th.H. bỗng ngân lên trong một buổi chiều áp tết mưa lay phay và gió, lạnh. Chiều rồi, chim bay về núi, chợ đã vãn sao mẹ còn ngồi bên mẹt rau tập tàng, tay lại nắm khư khư một dúm cây gì trông như rau mà không phải rau, cây giống mà không phải cây giống. Đã hơn một lần tôi lướt qua những chân dung như vậy, lòng tự an ủi: Làm sao lo được cho hòa bình cả thế giới bằng khoản lương còm của mình, để nhiều tháng sau nữa cứ bị ám ảnh giày vò. Và lần này thì quán tính xe cũng đã kéo tôi trượt qua. Không được, sao bà này ốm ốm, xanh xanh giống... ai. Vẫn trên yên xe khá trịch thượng:

- Rau chi nơi tay rứa mệ?

- Khôông phải rau mô con! Cây bông ni đẹp lắm, hồi hắn nở mệ chộ, chừ mệ nhổ đi bán mà khôông ai biết cả.

- Hoa màu chi, mệ nhớ không?

- Màu... như cái áo của con đó.

Màu tím tươi, đẹp rồi.

- Rứa mệ bán bao nhiêu?

- Hai bó hai nghìn.

Trời đất! Tôi đưa mệ năm nghìn. Mệ mừng lẩy bẩy tìm tiền lẻ thối lui. Tôi vội: “Thôi thôi, khỏi trả lại”. Mệ: “Có đây rồi, con!” Người già dễ tự ái, tôi phải cầm lại ba nghìn đồng mà thấy trong cổ như thiếu nước bọt.

Sương muối, từng cái cây nhỏ yếu ớt cứ xỉu dần trong chậu. Thôi, chưa đáng một mớ rau muống, mua được cho người già là vui rồi. Bẵng đi qua hết tháng giêng. Một ngày, lại đúng ngày quốc tế phụ nữ, đi làm về thấy hai cây nở hoa màu đỏ tím trong chậu. Trong bữa cơm tôi ngỏ lời đồng tình với “ông xã” về chuyện mua hoa về trồng vừa quà kỷ niệm vừa lưu lại cho mùa sau. Chồng tôi ngơ ngác. Cả hai bỏ đũa chạy ra: Là cây trong mớ “không phải rau, không phải cây giống” của người mẹ già gầy gò xanh xao hôm ấy.

- Hoa gì đây anh?

- Ủa, em mua em trồng mà sao hỏi anh?...

Phải mất một tuần bia giải khát để các bạn đồng nghiệp đến làm chuyên gia. Thì ra, đã hai chục năm nay, bài thơ từng gây scandal một thời mà “nhân vật chính” bây giờ mới mục sở thị:

“Anh tặng em một bông hoa thạch thảo

Chiều trung du chưa tím thế bao giờ...”

Hoa còn có tên violet, tiếng Pháp là “tím”. Tím đồng cảm với thủy chung. Tác giả hai câu thơ trên đã phải khốn khổ vì những “điệu vũ Lambada” bất đắc dĩ của “sư tử Hà Đông” khi dám đề tặng một phụ nữ xinh đẹp trong cơ quan.

Vâng, là những cây hoa thạch thảo tươi tắn ngỡ ngàng đón những làn mưa xuân tưới tắm và nở hoa. Hẳn người mẹ già nghèo khó đã nhìn thấy một lần hoa nở nên mang về chợ may ra có người hiểu, mua, trồng. Cảm ơn mệ, cảm ơn cuộc đời, hay tự bằng lòng với mình đã dừng xe trong buổi chiều muộn áp tết mưa lay phay, và gió lạnh, người đàn bà già nua gầy guộc vẫn kiên nhẫn ngồi bên cái mẹt: “Một mớ hành ta/ Một mớ ngò tây...” và trong tay lại có nắm cây nhỏ. Ôi, sao mệ không để chung cái mớ cây nhỏ vào mẹt rau? Và nếu thế thì cả vợ chồng tôi đã không có cái hạnh phúc cùng được ngắm màu tím đậm đà mà tươi tắn của những bông hoa thạch thảo. Bây giờ thì tôi đã nhớ ra người đàn bà già nua gầy guộc ấy giống ai rồi. Và tôi còn nhớ những câu kết trong bài thơ  “Ngư?i b?n rau t?p t?ng? ?? d?n:

ời bán rau tập tàng” đã dẫn:

Dăm ngàn bạc lẻ

Chợ tan lúc nào

Bước thấp bước cao

Chị về sắm tết.

Những ngày qua, tôi đã hơn một lần ra chợ tha thẩn hỏi tìm lại mệ nhưng tuyệt nhiên không thấy nữa.

N.T.T

Nguyễn Thế Tường
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 267

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground