Theo lời hẹn, tôi đến gặp Anh hùng LLVTND Trương Thị Khuê2. Nhịp sống ồn ã của thành phố Đông Hà (Quảng Trị) dường như ngưng đọng lại bên ngoài cánh cửa khi tôi bước chân vào căn nhà nhỏ ấm cúng, đầy hoài niệm của một người nữ anh hùng từng ghi những chiến công oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên mảnh đất Vĩnh Linh lũy thép. Khi chúng tôi gợi lại ký ức những lần gặp Bác cách nay gần nửa thế kỷ, bà Khuê vào chuyện chậm rãi, rành mạch, khúc chiết như những trang đời sôi động lần lượt được lật giở bởi những cảm xúc sâu nặng, ân tình, không thể nguôi quên…
* * *
Tháng 8 - 1968, tôi được đi dự Đại hội Thanh niên - Sinh viên thế giới tại Xô-phi-a (Bun-ga-ri). Sau hai tháng xa Tổ quốc, được trở về thủ đô, tôi cảm thấy ấm cúng vô cùng. Đại biểu của Quân khu 4 có ba nữ: Đồng chí Trần Thị Bưởi, quê ở Vĩnh Linh; đồng chí Nguyễn Thị Xuân ở Quảng Bình và tôi. Ba chúng tôi được bố trí ăn, nghỉ tại nhà khách của Bộ Quốc phòng. Chúng tôi sống gắn bó, thân thiết như chị em ruột.
Ngày 11 - 9 năm ấy, chúng tôi được đồng chí Minh, cán bộ Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt
Mùa thu, trời Hà Nội trong sáng, mát mẻ, dễ chịu thế mà trong người chúng tôi cứ nóng ran lên. Tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì sắp được gặp Bác Hồ. Lo vì đây là lần đầu gặp Bác, mình nên thưa với Bác những gì? Nếu Bác hỏi, mình có bình tĩnh để thưa với Bác thật cặn kẽ không...?.
Chín giờ sáng, ô tô đưa chúng tôi đến Phủ Chủ tịch. Chúng tôi đang lúng túng khi gặp Bác nên đứng nghiêm chào theo điều lệnh quân đội hay là vòng tay trước ngực rồi thưa: “Dạ, kính thưa Bác”?. Chưa biết nên như thế nào, thì rất may, chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác bảo: “Các cháu là dân quân, chào Bác theo lối quân sự nhé!”. Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhưng chưa kịp trấn tĩnh, đã thấy Bác ngồi bên cạnh chiếc bàn tròn và đang chăm chú đọc báo. Ba chúng tôi xếp thành hàng, trước thềm nhà.
- Thưa Bác, ba cháu gái dân quân Quân khu 4 được Bác cho vào gặp đã đến - Chú Vũ Kỳ nói. Bác ngẩng lên, chúng tôi đưa tay lên vành mũ chào Bác. Bác cười rất vui và mời chúng tôi ngồi. Trên bàn đã để sẵn một đĩa kẹo và một đĩa bánh. Tôi chăm chú ngắm Bác, thấy Bác khỏe mạnh, nước da hồng hào, mắt Bác sáng và tinh anh, râu tóc bạc phơ như một ông tiên. Bác đội chiếc mũ vải màu xanh công nhân đã bạc, áo cộc tay ba túi, chân đi dép cao su quai to, gót đã mòn. Càng ngắm, tôi càng thấy Bác giản dị, gần gũi và thân thiết lạ lùng.
Chú Vũ Kỳ giới thiệu với Bác về tên tuổi, quê quán... của từng người trong chúng tôi. Nghe xong, Bác cười rất hiền hậu:
- Các cháu ăn kẹo, ăn bánh đi. - Vừa nói, Bác vừa bưng đĩa kẹo lên đưa cho mỗi người chúng tôi. Ăn kẹo chưa hết, Bác lại đưa tiếp cho chúng tôi mỗi người một chiếc bánh. Bác nhìn tôi âu yếm và hỏi:
- Cháu ở Vĩnh Linh có bị máy bay B52 đánh nhiều không?
Câu hỏi của Bác làm tôi rất xúc động. Bác bận trăm công nghìn việc mà vẫn dành thời giờ quan tâm, theo dõi đến một vùng quê nhỏ hẹp của tôi. Rất xúc động, nhưng tôi vẫn cố hết sức bình tĩnh để thưa với Bác:
- Dạ thưa Bác, máy bay B52 đánh xuống Vĩnh Linh nhiều lắm ạ. Riêng xã cháu đã năm lần bị máy bay B52 đánh. Còn bom “tọa độ”, pháo địch từ bờ
Một nét buồn hiện lên trong cặp mắt hiền từ của Bác. Tôi băn khoăn tự trách mình sao lại kể cái ác liệt ra để làm Bác phải đau lòng. Bác hỏi tiếp:
- Địch đánh như thế, bà con ta ăn ở ra sao?
- Thưa Bác, bà con ta vẫn tìm cách ăn ở được ạ. Ăn ở đều dưới hầm. Đi lại từ nhà này sang nhà khác, xóm này sang xóm khác đều có giao thông hào ạ.
- Ăn ở dưới hầm như vậy, sức khỏe của bà con có bảo đảm không?
- Dạ thưa Bác, hầm rộng rãi. Tối ngủ vẫn mắc được màn. Nhà nào cũng có hầm ngủ, hầm nấu ăn, hầm chăn nuôi gia súc. Đội sản xuất và hợp tác xã có hầm để hội họp và thỉnh thoảng có tổ chức chiếu phim, diễn văn nghệ cho bà con xem.
- Thế có sản xuất được không? Bà con ăn có no không?
- Thưa Bác, bà con làm hầm ở ngoài đồng ruộng để cày cấy, gặt hái, sản xuất được nên ăn no. Bình quân đầu người ăn mười sáu cân thóc một tháng, còn khoai, sắn muốn ăn lúc nào cũng có ạ.
Bác cười rất vui và gật đầu: “Bà con ta ăn no, đánh Mỹ giỏi, sản xuất được là tốt”. Nói xong, Bác lại cười vui hơn. Thấy Bác vui, Bác cười thoải mái, chúng tôi mừng lắm.
Riêng tôi cảm thấy mình thưa với Bác chưa đầy đủ. Tôi tự trách tại sao lúc nãy mình lại không thưa với Bác rằng: Hầm ở Vĩnh Linh rất chắc chắn, thành một thế trận liên hoàn, nhiều khi bom nổ trên hầm, bà con trong hầm vẫn an toàn. Rằng có những hợp tác xã như Vĩnh Kim, là vùng bị đánh phá ác liệt nhất, năng suất lúa vẫn đạt 5 tấn/ha. Có cả bộ đội pháo binh của ta thường xuyên đánh trả máy bay, tàu chiến Mỹ để bảo vệ nhân dân gặt mùa...
Sau khi đồng chí Xuân thưa chuyện với Bác xong, Bác đưa kẹo tiếp cho mỗi chúng tôi và Bác khen: “Các cháu giỏi lắm!”. Số kẹo còn lại Bác chia ba và lấy giấy báo gói lại, phát cho mỗi chúng tôi. Bác dặn: “Các cháu ăn không hết thì đưa về nhà mà ăn”. Tôi cầm gói kẹo Bác cho mà cảm động muốn khóc. Bác hỏi:
- Ra Hà Nội, các cháu đã được tham quan ở đâu chưa? Đến Hà Nội, các cháu nhớ được những tên phố nào, kể Bác nghe?
Tôi thưa với Bác:
- Chúng cháu chưa đi đâu cả ạ.
Bác cười:
- Bác sẽ nói với các chú bên Tổng cục Chính trị đưa các cháu đi xem để sau này còn về kể lại cho bà con, cô bác nghe nữa chứ!
Nói xong, Bác đứng dậy, dẫn chúng tôi ra sân chụp ảnh. Ra đến sân, Bác bảo: “Nghe nói dân quân Quảng Bình, Vĩnh Linh hát hay lắm. Ba cháu hát cho Bác nghe ba bài nhé!”.
Chúng tôi bẽn lẽn nhìn nhau nhưng rồi tôi mạnh dạn xung phong trước. Khi tôi vừa cất giọng thì Bác khoát tay với các chú đang đứng quanh sân, gọi: “Đến nhanh để nghe các cháu hát”. Tôi hò một câu mái nhì do đội văn nghệ xã Vĩnh Thủy sáng tác:
Rừng Thủy Ba nhiều cây gỗ quý
Người Vĩnh Thủy ý chí kiên cường
Quê hương ơi vời vợi mến thương
Càng qua lửa đạn càng thêm trưởng thành
Tiếp đó, đồng chí Xuân ngâm bài thơ “Về Quảng Bình”, đồng chí Bưởi hát bài hát có câu: “Ai đã tới miền quê em Quảng Trị, Thừa Thiên...”.
Bác khen:
- Các cháu hát hay lắm! Các cháu gái hát rồi, giờ đến lượt các chú hát cho các cháu nghe.
Các chú nhìn nhau cười.
- Sao lại cười, hát đi chứ!
Một chú thưa:
- Thưa Bác, các cháu không biết hát. Xin nghe các cháu gái hát thôi ạ.
Cả mấy Bác cháu cùng cười to, rất vui. Lúc này, đồng chí nhiếp ảnh đang tìm chọn một vị trí đứng chụp ảnh cho thích hợp. Bác thân mật hỏi:
- Cháu nào muốn đứng gần Bác?
Cả ba chúng tôi reo lên:
- Cháu ạ!
- Cháu!
- Cháu ạ!
- Vậy thì cho mỗi cháu đứng gần Bác một lần, ta chụp ba lần.
Chụp ảnh xong, Bác dẫn chúng tôi đến trước nhà Bác. Cây phong lan nở những chùm hoa trắng mịn tỏa một mùi thơm dịu dàng. Bác đưa tay ngắt ba chùm phong lan tặng cho mỗi chúng tôi. Bác ân cần bảo:
- Hoa phong lan của Bác rất đẹp, nhưng thành tích của các cháu còn đẹp hơn hoa. Các cháu hãy giữ gìn và phát huy thành tích để tươi mãi như hoa. Trở về Quảng Bình, Vĩnh Linh, Bác gửi lời thăm bà con, cô bác trong đó. Bác chúc bà con, cô bác chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi. Riêng ba cháu phải chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi hơn nữa, phải khiêm tốn học tập nhiều hơn nữa...
Bác khoan thai bước vào nhà. Chúng tôi tần ngần ngắm theo. Mãi đến khi bóng Bác khuất sau khung cửa, ba chúng tôi mới theo chú Vũ Kỳ ra xe...
Mấy ngày hôm sau, chúng tôi được đi tham quan một số danh lam, thắng cảnh ở Hà Nội.
Ngày 16 - 9 - 1968, một tin vui bất ngờ nữa lại đến với chúng tôi: Bác cho gọi ba chúng tôi được vào ăn cơm với Bác.
Xe chở chúng tôi đến Phủ Chủ tịch vừa dừng lại, tôi đã thấy Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng đợi trước cửa. Thủ tướng ân cần hỏi thăm chúng tôi rồi dẫn vào nhà. Thấy chúng tôi đang lúng túng cởi giày, Bác hỏi:
- Ở nhà các cháu đi giày à?
- Thưa Bác, ở nhà chúng cháu đi dép cao su ạ!
- Ừ, đi dép cao su tiện lắm, đi giày không tiện bằng đi dép cao su đâu.
Bác mời chúng tôi ngồi vào bàn ăn và Bác giới thiệu:
- Hôm nay chú Đồng đãi cơm các cháu đó!
Thủ tướng nói:
- Không phải cơm của chú đâu, của Bác đó. Bác có cho chú mới đãi, Bác không cho thì chú không dám.
Cả mấy Bác cháu cười vui ấm cúng.
Bữa cơm trưa hôm đó có những món ăn thật bình dị và đều là những “món ăn Khu 4”: Cá trê kho, rau muống luộc chấm nước mắm ớt, cà “pháo” muối, khoai sọ nấu canh, thịt gà luộc.
Bác tự tay xới cơm cho mỗi chúng tôi, rồi Bác gắp đầu gà lên và hỏi:
- Cháu nào nhỏ nhất?
- Đồng chí Bưởi đứng dậy. Bác cho đầu gà vào bát cơm của đồng chí Bưởi.
- Cháu nào lớn nhất?
Tôi đứng dậy:
- Dạ thưa Bác, cháu ạ!
Bác gắp lên bát tôi một cái phao câu và Bác gắp tiếp vào bát của đồng chí Xuân cái cánh. Bác cười, giọng nhỏ nhẹ trìu mến:
- Các cháu ăn đi, hồi còn trẻ, cả liễn cơm này, Bác ăn một lúc là xong. Bây giờ các cháu phải ăn thật khỏe để còn chiến đấu chứ!
Sau bữa cơm, không dám làm mất nhiều thời giờ của Bác, chúng tôi luyến tiếc đứng dậy xin phép Bác và Thủ tướng ra về.
Bác và Thủ tướng gật đầu và Bác dặn:
- Nếu các cháu còn ở đây, khi nào Bác và chú gọi thì vào kể chuyện cho Bác và chú nghe. Nếu ngày mai các cháu về, Bác gửi lời thăm quân và dân Khu 4 nói chung, Quảng Bình và Vĩnh Linh nói riêng chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, nhất là đảm bảo giao thông vận tải thông suốt là Bác khỏe, Bác vui…
* * *
Vẫn chưa dứt ra khỏi dòng hồi tưởng xúc động, đăm đắm, sâu nặng và trìu mến, bà Trương Thị Khuê bộc bạch: Vậy là đã hơn 45 năm ngày Bác kính yêu của chúng ta đi xa, nhưng mỗi khi nhìn vào bức ảnh chúng tôi quây quần bên Bác treo trang trọng trong phòng khách nhà mình, tôi như thấy Bác vẫn còn đó với phong thái giản dị, nụ cười ấm áp, ánh mắt đôn hậu, luôn nhìn chúng tôi trìu mến, nâng bước tôi lên, dẫn dắt tôi đi trên mỗi chặng đường công tác. Nhà thơ Tố Hữu đã có lần nói hộ chúng tôi sự cộng hưởng tình cảm thiêng liêng như chân lý cuộc đời: “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”. Giờ đây, khi đã hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, tôi trở về đời thường và luôn tâm nguyện sống sao cho thật xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, học tập, làm theo Bác trọn đời…
Đ.T.T
(Chép lại theo hồi ức của bà Trương Thị Khuê)
_________________
1 Thơ Tố Hữu
2 Bà Trương Thị Khuê, quê quán: Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh, Quảng Trị; được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1969; nguyên Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Bình Trị Thiên (cũ), Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Quảng Trị, đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN Việt Nam.





