(Nhân kỷ niệm 40 năm 1968-2008; 170 ngày đêm vây hãm Khe Sanh)
Bao năm rời chiến trường xưa
Nay về Hướng Hóa say sưa bồi hồi
Tà Cơn xanh ngắt lại rồi
Cà phê mẩy hạt chen đồi thông reo
Xưa trên đường Chín cheo leo
Giờ lên đường Chín dốc đèo thênh thang
Phố xanh, ngói đỏ, tường vàng
Vườn thơm hoa trái gió ngàn đưa hương
Đất này nghĩa nặng, tình thương
Đất này quyết tử chiến trường – là đây
Động Tri, Hướng Hóa, Làng Vây
“Thủy quân” thây chất, “Ngựa bay” xác chồng
Sông trôi ngẽn nước Ba Lòng
Khói bom – gà bản gáy ong rừng chiều
Gặp em – cô gái Vân Kiều
Bông hoa núi giữa lưng đèo – tỏa hương
Em đi tải đạn, gùi lương
Ngày đêm chia lửa chiến trường cùng anh
Lẫy lừng trận thắng Khe Sanh
Rụng rời xác gió, tan tành hồn mây
Cũng là “lỡ một, lầm hai”
Tâm địa chấn – Ngũ Giác Đài chuyển rung
Xưng danh tướng mạnh, quân hùng
Chìm trong “Khe tử” – đường cùng, lối bi
Tai bay, vạ gió bất kỳ
Mấy ngàn lính trận có đi, không về
Tướng chuồn – bỏ pháo, quăng xe
Thiết xa, không vận – ngựa què tả tơi
Dấu tích neo giữa đất trời
Rạng danh trang sử chói ngời Khe Sanh.
P.M.T




