Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trong bối cảnh thế giới, khu vực có những thay đổi nhanh chóng và diễn biến phức tạp; tình hình trong nước, trong tỉnh có nhiều khó khăn, thách thức mới. Song được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương, các tổ chức quốc tế, của con em tỉnh nhà xa quê và sự chia sẻ, động viên của các tỉnh, thành phố, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đã đồng lòng, chung sức, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đưa tỉnh nhà tiếp tục vững bước trên con đường phát triển.
Nền kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) bình quân đạt 7,4%/năm, cao hơn mức bình quân chung của cả nước. GRDP bình quân đầu người của tỉnh năm 2015 ước đạt 34 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với năm 2010. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2015 ước đạt 2.450 tỷ đồng, tăng bình quân 16,6%/năm.
Nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, từng bước tạo được sự liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp địa phương. Tốc độ tăng trưởng giá trị ngành nông - lâm - ngư nghiệp đạt 3,7%/năm; sản lượng lương thực có hạt bình quân đạt gần 25 vạn tấn/năm. Diện tích các loại cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu đạt chỉ tiêu đề ra. Công tác “dồn điền đổi thửa” gắn với quy hoạch, tổ chức lại sản xuất, xây dựng cánh đồng mẫu lớn trong nông nghiệp được người dân hưởng ứng tích cực. Nhiều địa phương trong tỉnh đã có các chủ trương, chính sách phát triển các cây, con chủ lực. Đã xuất hiện một số mô hình sản xuất mới đem lại hiệu quả cao được nhân rộng như trồng rừng áp dụng chứng chỉ FSC, nuôi bò lai Brahman, cam và cây ăn quả vùng gò đồi Hải Lăng... Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bước đầu quan trọng; dự kiến đến hết năm có 2015 có khoảng 16,2% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng giá trị công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 đạt 8,9%/năm. Kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp tiếp tục được đầu tư. Trong nhiệm kỳ đã có trên 80 dự án sản xuất công nghiệp hoàn thành và đi vào hoạt động trong đó có những dự án quy mô khá lớn như: Nhà máy bia Hà Nội - Quảng Trị, Nhà máy MDF tại khu công nghiệp Quán Ngang... Hoàn thành quy hoạch chung xây dựng Khu Đông Nam, đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị để sớm khởi công nhà máy nhiệt điện than 1.200MW do Tập đoàn Điện lực EGATI (Thái Lan) đầu tư. Thương mại - dịch vụ phát triển ổn định. Đã đưa vào hoạt động 3 khách sạn 4 sao (Mường Thanh, Sepon Boutique, Sài Gòn - Đông Hà), 3 khách sạn 3 sao, 7 khách sạn 2 sao. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 27%/năm, vượt chỉ tiêu đề ra. Cửa khẩu quốc gia La Lay được nâng cấp trở thành cửa khẩu quốc tế.
Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 28,9% năm 2010 xuống 22,5% năm 2015, công nghiệp - xây dựng tăng từ 35,5% năm 2010 lên 37,9% năm 2015 và thương mại - dịch vụ tăng từ 35,6% năm 2010 lên 39,6% năm 2015. Các loại hình doanh nghiệp phát triển cả về quy mô, số lượng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển; kinh tế tập thể có bước chuyển biến tiến bộ. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng gấp 2,35 lần so với 5 năm 2006 - 2010.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá toàn diện trên tất cả các vùng; nhiều công trình giao thông, thủy lợi được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới. 100% thôn, bản có điện, 99,5% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia. Hạ tầng mạng điện thoại cố định, internet và di động đã phủ khắp toàn tỉnh. Kết cấu hạ tầng thiết yếu khu vực nông thôn, vùng bãi ngang, các xã miền núi, xã đặc biệt khó khăn được tăng cường. Nhiều tiêu chí trong lĩnh vực văn hóa - xã hội cao hơn mức bình quân chung của cả nước.
Sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể thao có bước phát triển. Các hoạt động lễ hội như “Thống nhất non sông (30/4)”, “Nhịp cầu Xuyên Á”, “Hoa đăng trên dòng Thạch Hãn”…, tạo được nét đặc trưng riêng của Quảng Trị, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế. Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao được quan tâm đầu tư xây dựng. Các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được đầu tư bảo tồn và phát huy. Hệ thống thông tin, truyền thông phát huy hiệu quả; quy mô, chất lượng các loại hình báo chí được nâng lên. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có bước phát triển mới; quy mô mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học được tăng cường. Chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân được nâng lên, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai đồng bộ và đạt kết quả khá. Hoạt động khoa học công nghệ có bước đổi mới; quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục cải thiện, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm. Các chế độ, chính sách, nhất là đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, người có công, người nghèo được thực hiện đầy đủ và kịp thời.
Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được củng cố, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và an ninh trật tự được tăng cường.
Nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt kết quả tích cực. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng được nâng lên một bước; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp gắn với quy hoạch cán bộ được chú trọng thực hiện. Từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức các cấp, nhất là người đứng đầu. Công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp có nhiều đổi mới, linh hoạt và hiệu quả hơn; cải cách hành chính được triển khai đồng bộ, mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công và hành chính công được nâng lên. Hệ thống tổ chức của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân được kiện toàn, củng cố; nội dung và phương thức hoạt động có bước đổi mới, thiết thực, hiệu quả hơn.
Bước vào nhiệm kỳ mới 2015 - 2020, dự báo tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi đan xen với không ít khó khăn, thách thức. Đối với Quảng Trị, những thành tựu sau hơn 25 năm tái lập tỉnh và kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 2010 - 2015 sẽ là những yếu tố nền tảng, tạo tiền đề để phát triển nhanh, bền vững hơn trong giai đoạn tiếp theo. Năm năm tới, trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, Việt Nam sẽ tiếp tục ký kết và triển khai các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều nước, trong đó có Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA Việt Nam - EU; Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) ra đời; Hành lang kinh tế Đông Tây đứng trước nhiều cơ hội mới không chỉ là hành lang giao thông, hành lang thương mại hàng hóa mà còn là dòng dịch chuyển vốn đầu tư và lao động trong khu vực; kinh tế trong nước phục hồi và tăng trưởng... là những điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm thị trường cho hàng hóa trong nước, nhưng cũng sẽ đặt ra nhiều thách thức mới cho sản xuất, cho các doanh nghiệp trong tỉnh.
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV đã xác định mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2015 - 2020 trong Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI là: “Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc. Xây dựng chính quyền năng động, hiệu quả, gần dân, phục vụ dân, doanh nghiệp và xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh. Huy động mọi nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh nhằm đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn; thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mức sống dân cư; đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện giảm nghèo bền vững. Từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển mạnh hệ thống đô thị, khu kinh tế, sớm hình thành Khu kinh tế Đông Nam. Khai thác có hiệu quả lợi thế về địa chính trị và địa kinh tế của địa phương, khai thác lợi thế Hành lang kinh tế Đông - Tây nhằm tạo động lực phát triển cho các vùng trong tỉnh. Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2020, Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước”. Trong đó xác định hệ thống chỉ tiêu chủ yếu: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 phấn đấu đạt 7,5 - 8%. Đến năm 2020, cơ cấu ngành kinh tế công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp đạt tỷ trọng tương ứng là 42% - 41% - 17%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 gấp 2 lần năm 2015; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016 - 2020 đạt 18.000 -19.000 tỷ đồng; tốc độ tăng thu nội địa bình quân trong giai đoạn 2016 - 2020 đạt trên 15%/năm; tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt trên 95.000 tỷ đồng; đến năm 2020 có 40 - 50% xã đạt tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; mức giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 đạt 1,5 - 2,0%; bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho trên 9.500 lao động; đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65 - 70%; trong đó, có bằng cấp, chứng chỉ đạt trên 28%. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 80%; tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh ở thành thị đạt 95%, ở nông thôn đạt 93%. Phấn đấu trên 75% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh. Trong nhiệm kỳ kết nạp trên 7.000 đảng viên mới.
Xác định các chương trình, đề án, lĩnh vực mang tính đột phá, gồm:
Các vùng, hành lang, khu kinh tế: Tập trung đầu tư xây dựng và phát triển trục kinh tế kết nối Khu kinh tế Đông - Nam với Hành lang kinh tế Đông - Tây và Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo; Khu kinh tế cửa khẩu La Lay; Khu du lịch biển Cửa Việt - Cửa Tùng - đảo Cồn Cỏ.
Các đề án trọng điểm: Tái cơ cấu nông nghiệp; Nâng cấp thành phố Đông Hà lên đô thị loại II; Cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; Xây dựng nông thôn mới; Xây dựng và phát triển các mô hình tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân; xây dựng một số sản phẩm du lịch mới dựa trên lợi thế của tỉnh (du lịch tâm linh, du lịch hoài niệm, du lịch sinh thái biển...).
Các ngành, lĩnh vực đột phá: Công nghiệp năng lượng, dệt may, chế biến nông, lâm, thủy sản; kinh tế biển; kinh tế đối ngoại.
Với khát vọng và quyết tâm chính trị lớn lao này, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV đề ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mang tính toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thể hiện trong Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh chuẩn bị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI lần này. Trong đó một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện là:
Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các nghị quyết, kế hoạch, chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội. Kịp thời nắm bắt diễn biến tình hình quốc tế, trong nước và bám sát nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực tiễn của tỉnh để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, định hướng lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, có tính đột phá như cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, triển khai các chương trình, dự án động lực... Trước mắt, cần tập trung lãnh đạo để làm tốt việc thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương thành lập Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị; hình thành khu phức hợp năng lượng tại Khu Đông Nam Quảng Trị để kết nối với Lào, Thái Lan qua hành lang đường bộ. Đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật nhằm tăng cường quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả khai thác Hành lang kinh tế Đông - Tây, xây dựng các khu kinh tế trên biên giới Việt - Lào...
Thứ hai, đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tạo lập môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư. Thực hiện đồng bộ các giải pháp khuyến khích, phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh mở rộng quy mô phát triển sản xuất, mở rộng thị trường. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Chỉ đạo quyết liệt nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có 40 - 50% số xã trong toàn tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, coi trọng nguồn lực xã hội hoá. Áp dụng rộng rãi các hình thức đối tác công tư (PPP), nhà nước và nhân dân cùng làm, nhà nước và doanh nghiệp cùng làm. Xã hội hóa mạnh mẽ trong lĩnh vực dịch vụ công. Đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các dự án ODA, NGO.
Thứ ba, chăm lo lĩnh vực văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Đổi mới mạnh mẽ các yếu tố cơ bản của giáo dục, chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học. Đẩy mạnh thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá gắn với xây dựng nông thôn mới. Thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, an sinh xã hội.
Thứ tư, tăng cường công tác quản lý nhà nước, xây dựng các cơ quan hành chính nhà nước thật sự năng động, hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao tính chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm phục vụ và tạo thuận lợi tối đa cho mọi tổ chức và cá nhân khi giải quyết công việc. Nâng cao chất lượng ban hành các chính sách của địa phương, bảo đảm phù hợp với các quy định của Trung ương và tình hình địa phương, đáp ứng tốt yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề thực tế đặt ra. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là an ninh nông thôn.
Thứ năm, kiên quyết, kiên trì cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả 4 giải pháp đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, đưa việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức Đảng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có năng lực, tư duy đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, đủ năng lực và uy tín để lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện có kết quả các nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong tình hình mới.
Với quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác có hiệu quả tiềm năng lợi thế so sánh, nhất là các cơ hội mới mở ra từ hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; với khí thế mới, niềm tin mới, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 sẽ thảo luận, quyết định, thông qua các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, thể hiện nguyện vọng, ý chí của toàn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, là dấu mốc quan trọng đưa Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
L.H.P




