|
X |
u thế toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI đưa lại sự phát triển tăng tốc về kinh tế, tăng cường về ý thức một thế giới hoàn chỉnh và tư duy con người càng được mở rộng về không gian, văn hóa toàn cầu càng có những dấu hiệu dung hòa hơn. Nhưng toàn cầu là con dao hai lưỡi: những hiện tượng bất bình đẳng sẽ gia tăng, khoảng cách giàu – nghèo sẽ dãn rộng, sự xung đột văn hóa đang diễn ra, nguy cơ hòa tan bản sắc dân tộc có đất nãy nở. Vì vậy, lúc này bàn về bản sắc dân tộc trong văn học là có nhiều ý nghĩa, trước hết là ý nghĩa sáng tạo văn chương.
I. Những lưu ý cần thiết khi bàn đến bản sắc văn hóa dân tộc.
- Bản sắc dân tộc (BSDT) là một đại lượng tinh thần, một hệ phẩm chất của cộng đồng người sống chan hòa với cộng đồng dân tộc khác. Cho nên khi xét BSDT không nên đi tìm cái nguyên nhất, cái thuần chủng, cái đơn nhất chỉ có ở nước mình. Nhà thơ Tố Hữu đã co lần tâm sự, nhân chuyện cải tiến đàn bầu ở ta: “Chúng ta từ đâu mà có? Đôi khi chúng ta thường tự hỏi thế. Đừng đi tìm một dòng máu nguyên chất. Đâu có! Tôi nghĩ có lẽ tôi có dòng máu Việt thuần chủng cộng với dòng máu chàm… mà nếu có nói tôi là thuần chất Việt
- BSDT có mặt tích cực, những phẩm chất bền vững như lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết cộng đồng, tình nhân nghĩa .v.v… nhưng cũng có mặt phản diện, những yếu tố tích cực do những sự kiện lịch sử, các yếu tố địa lý, tâm - sinh lý của con người rơi rớt lại trong nhiều mặt của cuộc sống - nó chịu sự tác động của chiều dài lịch sử (lịch đại) về chiều ngang thời đại (đồng đại). Quá trình phát triển đi lên của dân tộc, BSDT kế thừa những cái hay, cái đẹp của truyền thống, hấp thụ tinh hoa thế giới phù hợp với tâm - sinh lý của con người mình, nếp sống, tập quán của dân tộc mình. Ví dụ như ý thức sớm lập thân, lập nghiệp ở bộ phận thanh niên, truyền thống hiếu học, trọng tài, sống bằng lao động chính đáng, không cam chịu đói nghèo… Đồng thời gạt bỏ những cái dở, cái không phù hợp với dân tộc mình, thời đại mình. (Ví dụ như tầm nhìn khép kín, ý thức gia trưởng, tâm lý tiểu nông, sự an phận của người sản xuất nhỏ…).
- BSDT được thể hiện hầu hết ở các lĩnh vực đời sống nhưng khu trú đậm đặc nhất là ở lĩnh vực tinh thần, nơi hội tụ những giá trị bền vững của lịch sử - văn hóa, có thể khái quát thành năm bình diện sau:
- Tư tưởng, đạo đức, lối sống, tập quán trong đời sống thể hiện rõ rệt hơn cả.
- Lĩnh vực văn hóa giao tiếp (bao gồm cả giao tiếp vĩ mô của một dân tộc vừa giao tiếp ứng xử của từng cá nhân);
- Chủ nghĩa nhân văn với lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ tôn thờ cái đẹp, cái cao thượng.
- Tiếng Việt gồm sáu dấu giọng (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, ngang) là thứ tiếng giàu nhạc tính và tính hình tượng;
- Cái xinh, cái gọn, kích thước vừa phải trong các di tích vật thể và cái hài hòa, cái có mức độ trong các di tích phi vật thể cũng là biểu hiện của BSDT.
II. Bản sắc dân tộc được thể hiện trong văn học như thế nào?
Trong một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ, BSDT được thể hiện trong nhiều bình diện, tinh mắt là thấy ngay. Đó là những trang miêu tả phong cảnh quê hương, những nét dáng dân tộc của ngoại hình nhân vật, những trang miêu tả, những đoạn ngôn ngữ hội thoại giữa các nhân vật. Những điểm quy tâm là ở tính cách nhân vật điển hình hòa quyện trong hoàn cảnh điển hình. Lấy bài thơ nhớ của Nguyên Hồng làm ví dụ:
Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ/ Gặp nhau hồi chưa biết chữ/ Quen nhau từ thưở “một hai”/ Súng bắn chưa quen/ Quân sự mươi bài/ Lòng vẫn cười vui kháng chiến… lột sắt đường tàu/ Rèn thêm đao kiếm/ Áo vải chân không/ Đi lùng giặc đánh/ Ba năm rồi trở lại quê hương/ Mái lều tranh/ Tiếng mỏ đêm trường/ Luống cày đất đỏ, ít nhiều người vợ trẻ/ Mòn chân bên cối gạo canh khuya…Thì rõ ràng đây không ai khác là hình tượng anh Vệ quốc đoàn thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp: áo rách sờn vai, chân không giày dép, trình độ học vấn thấp kém thậm chí không biết chữ; anh cũng có thể là lính địa phương quân Thanh Hóa, mà cũng có thể là anh Vệ quốc đoàn ở chiến trường Bình Trị Thiên, ở miền Đông Nam Bộ hay ở đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng tình yêu nước, chủ nghĩa anh hùng của các anh thì mênh mông như biển, cao cả như núi. Còn đoạn thơ năm câu sau nói gì? Đó là mối quan hệc của những người ra trận và những người vợ ở làng quê, hoàn cảnh điển hình cho mối quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương, mà thiếu đi sự hậu thuẫn to lớn, cuộc khánh chiến không dễ thành công. Hình tượng này, người đọc thường gặp trong thơ Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Quang Dũng, Hoàng Trung Thông. v.v…
Trong thơ Hồ Chủ Tịch, BSDT được thể hiện minh bạch và thấm đượm trong hẹ thống thi pháp của Người mà một trong những đặc trưng là tinh thần yêu thiên nhiên lai láng. Tôi có làm một cuộc khảo nhát nhỏ ở một tập thơ Hồ Chí Minh (xuất bản năm 1975) trong số 84 bài thơ thì có hơn nửa nói về thiên nhiên. Cảm hứng khi đứng trước thiên nhiên của Người bắt nguồn từ triết lý phương Đông: Thiên, địa, nhân. Con người sống, hành động, phát triển không thể gắn bó với thiên nhiên. Suốt đời Người đeo đuổi một triết lý sống cao thượng, không mang danh lợi và của cải vật chất, sống gần gũi với thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm cảm hứng sáng tạo. Trong thơ Người có mặt nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên Việt
Hòn đá to/ Hòn đá nặng/ Nhiều người nhắc/ Nhắc lên đặng/ Biết đồng sức/ Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Cũng làm xong.
Nhân bàn chuyện tình yêu thiên nhiên, một biểu hiện BSDT, tôi nghĩ ngay đến bài thơ Cảm tượng đọc “Thiên Gia thi” của Bác Hồ có 4 câu:
Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp/ Mây gió, trăng hoa, tuyết núi sông/ Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Bài thơ dễ hiểu nhưng có mấy chổ cần nói rõ hơn, để tránh sự ngộ nhận. Chuộng thiên nhiên đẹp không phải không cần thiết, nhưng chỉ có cảnh đẹp thôi không đủ. Nhà thơ cách mạng, nhà thơ dân tộc còn có tính chiến đấu, chất thép, một phẩm chất của văn học cách mạng. Bác không dùng chử nên, đó là lời khuyên, nhưng là lời khuyên chân lý bởi vì trong nghệ thuật, điều kiêng nhất là sự áp đặt, sự cưỡng bức dễ phương hại đến tính năng và cá tính sáng tạo. Chất thép không nói lên toàn bộ tuyên ngôn nghệ thuật cách mạng của Người. Trong thơ của Người có chất thép và chất trữ tình, có anh hùng ca và chất liệu đời thường: Cảnh người vợ đi thăm chồng, Người bạn tù thổi sáo; Cô em xóm nói xay ngô tối. Nửa đêm, nghe tiếng khóc chồng, gia quyến người bị bắt lính và hàng chục cảnh đời, số phận khác nhau dưới chế độ cũ ở Việt
Trong thơ Tố Hữu, BSDT được thấm đượm, lan tỏa trên nhiều bình diện: từ đề tàic ho đến hình tượng, từ chủ đề tư tưởng cho đến thi pháp, phong cách ngôn ngữ miêu tả. Ở đây tiềm ẩn nhiều giá trị lịch sử hăn hóa dân tộc như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, phẩm chất anh hùng, cuộc sống bình dị, lạc quan trong chiến đấu, sự tự hào chính đáng trong chiến thắng. Chỉ riêng đề tài con người Việt
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà không dại một lần
(Dậy mà đi)
Hoặc:
Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
Chọn một dòng hay để nước trôi?
(Dậy lên thanh niên)
Bên trên, chúng tôi có nói đến cái hài hòa, cái có mực thước cũng là nét đẹp của BSDT. Tôi nhớ có lần Hồ Chủ tịch nói:”Phát triển hết cái hay, cái đẹp của dân tộc là ta cùng nhau đi tới chổ nhân loại” (2). Vì sao vậy? Vì trong kho tàng di sản phi vật thể của cha ông chúng ta, chừng nào không bị đốt sạch qua những cơn binh lửa, chừng nào không bị kẻ thù lấy mất, chừng nào cái còn lại trong thư tịch và trong dân gian thì ta có thể duy danh nền văn hóa ấy gói gọn trong bốn chữ: Trí tuệ, nhân văn, tân kỳ, hiện đại. Bốn thành tố này quyện với nhau mà sống, mà lấp lánh. Chỉ một câu ca dao dung dị: Ước gì sông hẹp bằng ao, bắc cầu dải yếm qua trao ân tình… hoặc Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Ta đã thấy sức tưởng tượng xán lạn biết chừng nào của người xưa!? Ngay cả lúc trách móc, cười cợt, tự hào, thì đằng sau những câu thơ trào lộng kia của Hồ Xuân Hương, của Tú Xương, người đọc thấy cả một tấm lòng nhân hậu mênh mông, rất người…
Chuyến đò nhân nghĩa sao không nhớ
Sang nữa hay là một chuyến thôi?
(Qua sông phụ sóng)
Hoặc:
Sợ khi rày gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình
(Đi hát mất ô)
Còn yếu tố tân kỳ trong truyền thống thơ văn dân tộc nên hiểu như thế nào để phát huy bản sắc? Không chỉ văn học ta mới có tính kỳ. Trong nhiều nền văn học các dân tộc khác đều có tính kỳ, chỉ cách thể hiện là khác nhau. Văn học, thơ ca cũng như các loại hình nghệ thuật khác qua tay nhà văn, nghệ sĩ để phản ánh hiện thực có thể trăn nghìn cách nói, cách diễn đạt. Nghệ thuật thời nào cũng chấp nhận sự phóng to thu nhỏ, mượn cái hư để nói cái thực, lấy cái phi lý để nói cái có lý v.v… Vấn đề là cách nói như thế nào rất quan trọng để chuyển tải được chủ đề tư tưởng của truyện, của bài thơ. Trong kho tàng truyện Nôm khuyết danh của ta như các truyện: Lưu Binhb Dương Lễ, Trương Viên, Trầu cau.v.v… đều có yếu tố kỳ. Ở đây ta gặp nhiều chi tiết khó lòng chấp nhận đối với con người hiện đại (nhờ vợ thay mình nuôi bạn đi ăn học); ta cũng gặp ở quỹ dữ, hổ ác, thần linh, người lương thiện bị móc mắt.v.v…ta cũng gặp mô típ hóa đá thường có nhiều ở truyện cổ khác. Nhưng vượt lên tất cả tình tiết đặc biệt, những phương tiện nghệ thuật phóng to thu nhỏ, hư và thực kí, chúng ta bắt gặp cái hài hòa, cái mực thuuwocs của tính kỳ. Đọc truyện Lưu Bình – Dương Lễ mà hiểu theo nghĩa đen thì dễ sinh thắc mắc: làm như vậy thì có coi thường phụ nữ không:.v… Tính kỳ ở đây là một tình huống lý tưởng nhuốm màu huyền thoại bắt nguồn từ hiện thực xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, để nói lên tình bạn cao đẹp, tình thủy chung son sắc của đạo nghĩa vợ chồng. Tình huống đề cao phẩm chất của người phụ nữ được đặt ra ba bước thử thách. Thử thách lòng tin của cả Châu Loan và Dương Lễ; thử thách lòng chung thủy của Châu Loan đối với chồng trong ba năm nuôi bạn chồng đèn sách ăn học; thử thách bản lĩnh của người phụ nữ, vượt lên chính mình vì nghĩa lớn. Câu chuyện được phóng to đến mức cực đại, nhưng không ai băn khoăn gì về cái chi tiết trong quan hệ giữa ba người. Ở đây chủ đề đã nói được “cái chiến thắng lớn nhất ở con người là chiến thắng bản thân” như có lần Bairơn, nhà thơ lớn Anh đã nói:
Tính kỳ trong văn học Việt
Hiện nay trong thơ ca hiện đại, do không hiểu đúng tính kỳ trong văn học, do thi pháp thơ ca non yếu, nên một vài nhà thơ đã bước choạch choạng trên con đường tìm tòi, biến tính kỳ thành kỳ dị, quái đản ở một số bài thơ và câu thơ suy đồi. Những câu thơ thô thiển, suồng sả, được viết ra một cách cẩu thả, buông tuồng thật xa lạ với tình cảm thẩm mỹ dân tộc như: “Đám mây hành kinh”, “Trời xa vòm xanh quần lót”, “Yêu đàn bà có chồng thì buồn bã gấp đôi”, “Anh đếch sợ cứ yêu như sắp chết vì quả đất sắp nổ tung”.v.v…
Tìn tòi, sáng tạo trong văn chương là bản chất của văn chương và chức năng của nhà văn, nhưng phải tìm tòi cái mới, cái đẹp chân chính. Muốn thế, phải có lý tưởng xã hội trong sáng, phải trau dồi lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp. Hơn thế BSDT trong các tác phẩm văn học, mà người viết không đứng trên mảnh đất dân tộc mình, không sử dụng những chất liệu của dân gian, của dân tộc mình, thời đại mình, thì khó lòng nói đến cái hay, cái đẹp do tác phẩm văn học đưa lại.
H.S.V
|
(1) Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn hóa. Hồ Sĩ Vịnh (Chủ biên) VHNT xuất bản 1993, tr.52
(2) Bác Hồ với văn nghệ. NX văn học 1995, tr.61.









