Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Đề cương văn hóa năm 1943, một niên biểu văn hiến dân tộc

1.

X

ét cho cùng, văn hóa chưa bao giờ là vấn đề tự thân. Nó bao giờ cũng thuộc phạm trù song đề, có khi trước hết là song đề: Văn hóa và kinh tế; văn hóa và chính trị - tư tương; văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa và dân tộc...Cách đặt vấn đề trong phần một của Đề cương "Văn hóa bao gồm tư tưởng, học thuật và nghệ thuật" là rộng và chuẩn xác; rộng tương đối trong điều kiện lịch sử dân tộc phải tập trung nhiệm vụ cứu nước. Nói chuẩn xác bởi nó đặt vận mệnh và tiền đồ văn hóa gắn liền với vận mệnh và tương lai dân tộc; mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa) và Đảng Cộng sản Việt Nam phải lãnh đạo phong trào văn hóa. Chỉ cần nêu một ví dụ: Giữa lúc kẻ địch coi ta "chẳng có gì về văn hóa" giữa lúc một bộ phận tri thức cực đoan, hết lời chê bai truyền thống cũ, ném ra văn đàn những mẫu người Việt Nam ngớ ngẩn như Lý toét, Xã xệ... để giễu cợt; giữa lúc đó có người bỏ quên yếu tố dân tộc (1); Ngay cả một bậc lão tướng văn hóa, cụ Đào Duy Anh, tác giả Việt Nam văn hóa sử cương cũng không tránh khỏi cái nhìn bối rối đối với văn hóa dân tộc khi so sánh với văn hóa Trung Hoa và cho rằng "Văn hoá Trung Hoa sở dĩ truyền bá sang nước ta thuận tiện cho đến đồng hóa được cả dân tộc; một là vì xã hội ta sinh hoạt trên cơ sở nông nghiệp như  Trung Hoa, hai là, vì khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, văn hóa họ đã phát triển rực rỡ, mà văn hóa ta thì rất chất phác thấp hèn (2); thì Đề cương trong phần IV đã nêu rõ ba nguyên tắc vận động của văn hóa Việt Nam là: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa. Đó cũng là ba tính chất nền văn hóa Việt Nam.(VHVN) So sánh một cách tổng thể giữa ba tính chất dân tộc, đại chúng, khoa học với những phương châm của nền văn hóa từ Đại hội VII trở đi là: dân tộc, hiện đại, nhân văn hay nhân đạo, dân chủ, tiến bộ thì ba tính chất trên luôn luôn có ý nghĩa. Nhưng cần thấy ba tính chất đó nằm trong thời kỳ cách mạng dân tộc -dân chủ. Những tính chất của "nền văn hóa Việt Nam tiên tiến; đậm đà bản sắc dân tộc" ở trong gia đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ được kế thừa ba tính chất văn hóa trong Đề cuơng mà còn được bổ sung.

2. Tinh thần và ánh sáng Đề cương  đã ảnh hưởng, đã chiếu rọi đến một bộ phận tri thức văn nghệ sĩ trong tổ chức "Văn hóa cứu quốc", có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các văn phẩm nổi tiếng của họ. Chỉ xin nêu: Văn hóa khái luận Lỗ Tấn (1944) của Đặng Thai Mai; Sức sống của dân tộc Việt Nam trong ca dao, cổ tích (1944) trên tạp chí "Tri Tân" Xét qua văn học Việt Nam trong sáu năm chiến tranh 1939-1945 của Nguyễn Đình Thi trên tạp chí "Tiên Phong" Trở ngại của văn hóa dưới ách đế quốc (1945) Nguyễn Hữu Đang; những bài phê bình của Như Phong trên báo Cứu Quốc (1944) rất có lợi cho việc tuyên truyền văn hóa tiến bộ, dân tộc, dân chủ và đấu tranh chống những biểu hiện lai căng, suy đồi, bế tắc của văn học công khai. Bấy giờ Sống mòn của Nam Cao bị kiểm duyệt; những truyện ngắn của Nguyên Hồng như Hai dòng sữa (1943), Vực thẳm (1944) , Miếng bánh (1945) và về sau Người đàn bà Tàu đều nói đến số phận dân nghèo ở nông thôn và thành thị. Nguyễn Huy Tưởng hướng về đề tài lịch sử, dấy lên lòng tự hào dân tộc qua các tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì, An Tư Công chúa, qua các vở kịch Vũ Như Tô (1943), Cột đồng Mã Viện (1944), Bắc Sơn (1946). Trần Huyền Trân viết những bài thơ bi ai thống thiết về nạn đói đầu năm 1945; Thâm Tâm với hình ảnh người ra đi theo tiếng vọng Cách mạng, lòng trào dâng tiếng sóng trong bài thơ Tống biệt hành. Những bài hát Tiến quân ca, Diệt phát xít được ra đời và lần đầu tiên được in trên báo Độc Lập của Đảng dân chủ Việt Nam (một tổ chức Việt minh, phát hành bí mật); Tô Hoài là thành viên tích cực của Hội Văn hóa cứu quốc và báo "Cứu Quốc" Huy Cận với bài thơ Xuân hành vang lên cảm hứng phấn chấn về cuộc đổi đời do Cách mạng đưa lại.v.v...Phải thấy rằng, những năm trước Cách mạng tháng Tám, hàng ngũ tri thức, nhất là tri thức văn nghệ sĩ phân hóa rõ rệt. Nhiều người trong nhóm Tự lực văn đoàn đi vào hoạt động chính trị thân Nhật, ủng hộ Nhật. Nhà xuất bản Hàn Thuyên, một địa chỉ "tân văn hóa" chưa bao giờ thống nhất, ít nhất cũng có ba khuynh hướng chia rẽ: Nguyễn Tế Mỹ, Lương Đức Thiệp khác với Trương Tửu, Nguyễn Đức Quỳnh, Phạm Ngọc Khuê nhóm này cũng khác với những kẻ cơ hội như Hồ Hữu Tường. Còn số chống đối cách mạng như Nguyễn Đăng Thục thì vẫn dương cao khẩu hiệu "văn hóa dân tộc" giả hiệu Việt Nam. Đủ biết, vì sao Đề cương văn hóa 1943 chưa được phổ biến rộng rãi trong tri thức, văn nghệ sĩ ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn? Vì vậy tiếp theo, bài báo nổi tiếng của đồng chí Trường Chinh: Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam lúc này (1944) đã giải thích rõ hơn ba nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng và phê phán văn hóa, báo chí hợp pháp đi ngược lại ba phương châm nói trên, tố cáo những thủ đoạn tuyên truyền của văn hóa Nhật với tuần báo "Tân Á" và loại sách Nippon văn hóa của nó.

3. Trong bối cảnh đất nước đứng trước nhiều hiểm họa bên trong và bên ngoài, thì việc Đề cương văn hóa 1943 phê phán nhiều khuynh hướng văn hóa đang suy đồi và phản động nhằm xây dựng một "nền văn hóa dân tộc và tân dân chủ" là điều không khó hiểu. Có điều đối tượng đấu tranh chưa thật tập trung, sách lược đấu tranh chưa thật hợp lý. Ví dụ: Chống lại văn hóa phát xít, văn hóa ngu dân, văn hóa nô dịch là chính xác; nhưng chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng...trong văn nghệ làm cho chủ nghĩa tả thực xã hội chủ nghĩa thắng...thì lại dễ rơi vào lập trường hẹp hòi. Bởi chủ nghĩa hiện thực XHCN là một phạm trù mở. Cơ chế kế thừa và phát triển của nó cho phép phương pháp sáng tác của nghệ sĩ chọn lọc những giá trị các triết thuyết, các khuynh hướng văn nghệ trước nó. Ngay từ năm 1908, V.I. Lênin đã có câu nói nổi tiếng về khuynh hướng kế thừa trong văn nghệ "Người nghệ sĩ có thể tìm thấy cho mình nhiều điều có lợi trong bất cứ triết học nào". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hơn một lần nói đến phương pháp tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới, trong đó có các trào lưu triết học. Trên quan điểm lợi ích của Lênin trong nguyên tắc kế thừa, Bác Hồ đã vận dụng các triết học Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vào đời sống đạo đức, vào cách ứng xử và sáng tác văn thơ của Người. Tinh thần của V.I. Lênin là: "... phê phán hệ thống triết học (triết học tư sản) không có nghĩa là quẳng nó đi, mà là phát triển  nó tiếp theo, không thay nó bằng cái đối lập khác, một chiều, mà đưa nó vào một cái gì đó cao hơn” (3). Từ Đề cương đến nay, Đảng ta đã tích lũy không ít kinh nghiệm trong quá trình vừa đấu tranh vừa kế thừa khuynh hướng triết học ngoài chủ nghĩa Mác trên nguyên tắc: "Tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học tiến bộ của nước ngoài" (NQ V. Trung ương khóa VIII, tr 67); "Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nhân loại. Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại" (NQ. Đại hội IX, tr.115). Ngày nay trên văn đàn, không phải ai cũng nhận thức vấn đề trên như nhau. Một số nhà nghiên cứu nước ta đã có kết quả nhất định trong việc khảo sát, giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, ký hiệu học, thuyết cấu trúc, thi pháp học vào sự phát triển văn hóa và đời sống văn nghệ. Có kết quả là nhờ có phương pháp vận dụng sáng tạo, nhưng còn là nhờ các triết thuyết đã có "hạt nhân hợp lý" như: Kịch phi lý tính, ý nghĩa huyền thoại, phương pháp  đồng hiện của chủ nghĩa hiện sinh; khái niệm thăng  hoa trong sáng  tạo nghệ thuật, hiệu ứng yếu tố vô thức và giấc mơ của người nghệ sĩ của phân tâm học; về mã hóa, giải mã văn bản mang nhiều tầng, lớp ký hiệu của ký hiệu học… Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác lại thiếu tỉnh táo, thường choáng ngợp trước những triết thuyết mà họ tưởng là "mới", là "toàn bích". Lại nữa, họ thường dùng thủ pháp "sờ voi" để đến với các học thuyết, nên dễ cường điệu, tâng bốc chúng thiếu căn cứ. Thực ra, mỗi lý thuyết đều có mặt trái của nó, chỉ là một ô cửa sổ cỏn con có thể nhìn được một khoảng trời nho nhỏ, chỉ bổ ích và thú vị trên một vài phương diện.

4. Đề cương văn hóa năm 1943 có mấy chỗ nói đến nhà văn hóa, nhà văn, nghệ sĩ, chủ yếu là ở bình diện đấu tranh chống âm mưu của Pháp và Nhật giết chết nền văn hóa Việt Nam; hăm dọa các nhà văn hóa, đàn áp các nhà văn chống Nhật và mua chuộc những nhà văn có tài; lợi dụng các khả năng công khai và bán công khai để tổ chức nhà văn, đấu tranh giành quyền lợi thực tại cho các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ... Đề cương chưa có tiền đề lịch sử để bàn đến vai trò chủ thể sáng tạo trong văn nghệ. Về sau, trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) đồng chí Trường Chinh đã khẳng định "Văn hóa cách mạng đã đi trước thực trạng kinh tế và ảnh hưởng lại xã hội một cách mãnh liệt", thì vai trò của nhà văn hóa, nghệ sĩ được đề cập rõ hơn. Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, sứ mệnh người văn nghệ sĩ chỉ được nhấn mạnh ở phần nghĩa vụ công dân. Phải đến Đại hội VI (1986), nhất là Đại hội VII (1991) và Nghị  quyết Trung ương IV khóa VII (1993) bàn về chiến lược con người, thì nhà văn hóa - văn nghệ sĩ Việt Nam với tư cách là chủ thể sáng tạo  mới được ghi thành văn tương đối đầy đủ: vị trí, vai trò, cá tính sáng tạo, tài năng, mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm, tự do và tài năng, thế giới quan và phương pháp sáng tác, tự do sáng tác và tự do phê bình.v.v... Trong văn nghệc cá tính sáng tạo bao giờ cũng ở trung tâm của công luận. Vấn đề tự do và tài năng nghệ thuật trong điều kiện kinh tế thị trường làm dấy lên nhiều ý kiến khác nhau, như có người đưa ra điều kiện tiên quyết để có tác phẩm lớn và nghệ sĩ phải có điều kiện vật chất đầy đủ; Một số ý kiến đề xướng cái đẹp tuyệt đối (bất cứ nó đến từ đâu và như  thế nào). Có ý kiến đi xa hơn là đòi hỏi tính tự trị của tác phẩm văn học vân vân và vân vân. Và để trả lời chúng tôi nghĩ, nên trở lại vấn đề lý tưởng và tài năng của nghệ sĩ được thể hiện trong câu châm ngôn của người xưa: "Đọc muôn cuốn sách, đi muôn dặm trường". Hiện tượng nhạt nhòa lý tưởng ở một số người viết, người làm nghệ thuật; chuyện bắt chước kỹ thuật nông cạn của nước ngoài thay cho tài năng, việc phớt lờ bản sắc dân tộc, hiện tượng lãng quên âm giai dân tộc trong một số loại hình nghệ thuật vẫn là chuyện có thật, sự thật đáng lo ngại. Nghệ thuật là sáng tạo, muốn sáng tạo trên hết phải có tài đã đành, nhưng trước đó phải có lý tưởng xã hội, lý tưởng nghề nghiệp, mà truyền thống văn hiến dân tộc còn được giữ lại là Cái chân, Cái thiện, Cái mỹ. Lý tưởng xã hội là cái nằm trong bầu  máu nóng của nghệ sĩ, là sự thôi thúc của con tim, là ngọn lửa bên trong được coi là cảm hứng sáng tạo. Người nghệ sĩ cần sáng tạo những gì xã hội cần, chứ không dừng lại ở cái mình có. Muốn vậy, cần có tình yêu và lòng căm thù. Yêu cái Đẹp, cái Thiện, căm thù những hiện tượng suy thoái trong xã hội trước hết là tệ quan liêu, nạn tham nhũng đang là "quốc nạn". Cha ông ta thường dạy: "Bản chất văn chương là từ học vấn mà ra, học vấn uyên bác thì văn mới hay" (Lê Quý Đôn 1726 -1784); "Đức hạnh, học thức là cái gốc của văn chương" (Nhữ Bá Sĩ 1788-1867). Đức được hiểu là lý tưởng, tấm lòng, chủ nghĩa nhân văn. Truyền thống văn hiến dân tộc cho ta hay rằng, người xưa rất coi trọng tri thức phong phú của đời sống, sự uyên bác của sách vở và bao giờ cũng đặt tài năng lên hàng đầu, tôn trọng cái tinh trong nghệ thuật, cái thần, cái hứng của văn chương. Muốn vậy phải "đi muôn dặm trường". Nền văn nghệ hiện đại chúng ta có truyền thống đẹp của những chuyến đi. Khẩu hiệu "đến những nơi tiên tiến, sống giữa những người tiên tiến" của Đảng có tác dụng động viên hàng trăm văn nghệ sĩ đến những nơi mũi nhọn cuộc sống của hàng triệu người. Tôi nghĩ nên phục hồi lại cách đi vào đời sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Ghi chép, lấy tài liệu, tiếp xúc với các hình mẫu và nhân vật, quan sát, so sánh .v.v... là những công đoạn của một quá trình đến với "dặm trường". Nhưng nếu không mài sắc khả năng quan sát hiện thực, thiếu sức tưởng tượng, ức đoán, thiếu sức khái quát và không chộp lấy "sức đẩy của hình thức" thì sau cùng những trang viết chỉ còn lại những tài liệu báo chí. Người xưa viết: "Cái tư chất của bậc thượng trí, bên trong thì lớn lao, bên ngoài thì rực rỡ, chạm vào nơi nào thì tứ văn nảy sinh ra nơi ấy: là hoa cỏ của hóa công, là khói sóng của biển lớn, có thể gọi là gạn lọc điều chứa chất trong lòng mà viết nên văn" (4). Tư chất biết gạn lọc ấy ngày nay chúng ta gọi là năng lực khái quát hóa, điển hình hóa trong văn nghệ, đó chính là một biểu hiện của tài năng.

H.S.V

_________________

(1) Ví dụ như trong Tương lai văn nghệ Việt Nam, Trương Tửu đề xuất một chương trình hành động gồm bốn yếu tố cần là: "Cách mạng, quần chúng, xã hội chủ nghĩa và khoa học", bỏ quên yếu tố dân tộc.

(2) Việt Nam Văn hóa Sử cương. NXB Văn hóa Thông tin, 2000, tr.385.

(3) V.I. Lênin: Bút ký triết học. M; 1964; tr.169 (bản tiếng Nga)

(4) Từ trong di sản...NXB tác phẩm mới, 1988, tr.147

Hồ Sĩ Vịnh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 108 tháng 09/2003

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground