|
T |
iếng chiêng dài bảy núi chín đèo/ vang như tiếng hú của đàn ông, đàn bà/ tìm nhau trong rừng rậm/ âm thanh từ thuở hoang sơ/ của cha ông một thời lận đận/ đến bây giờ vẫn lắng đọng trong tim… Có thể, những dòng thơ này được xem như là lời giới thiệu về bản thân mình của Hồ Chư, một người con của dân tộc Bru- Vân Kiều giữa núi rừng Trường Sơn, Quảng Trị. Sinh ra và lớn lên ở Mò Ó, huyện Đakrông rồi tốt nghiệp đại học Sư phạm Việt Bắc vào năm 1974, Hồ Chư làm báo, làm thơ trong tinh thần của một con người yêu tha thiết nơi chôn nhau cắt rốn. Các tác phẩm thơ của Hồ Chư có mặt trong những tập sách thể hiện đời sống văn hóa văn hóa của người Quảng Trị trong những năm gần đây như Cơn bão đá, Chút hương rừng, Non mai sông Hãn. Đặc biệt, là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Quảng Trị, hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Trị, Hồ Chư đồng thời là hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Để đến với mỗi vị trí hoạt động nghệ thuật này, con đường mà Hồ Chư chọn chính là những dòng thơ về cội nguồn của mình trong đời sống dân tộc, đời sống thi ca.
Cội nguồn của bản thân mình được Hồ Chư tìm hiểu một cách sâu xa và được viết thành thơ một cách thâm trầm, giản dị. Trước hết, cội nguồn ấy trong trái tim và trong thơ của Hồ
Với hai tập thơ Hoa trên đá và Dòng mưa muộn màng, người dộc có được cảm nhận về một Hồ Chư có niềm đam mê kỳ lạ vơi thơ và tình yêu tha thiết quê hương cội nguồn của mình. Đến mức, tình yêu đó cho phép Hồ Chưu hiểu rõ lịch sử của quê hương rồi nhẫn nại nhặt từng con chữ để viết những dòng thơ nhuần nhị về quê hương trong hai chiều của thời gian. Một chiều là thuở xưa quê tôi đầy bóng tối/người sinh ra không biết họ của mình/có cái tên mà không có họ/đếm rẫy nương để tính ngày sinh/kiếp ngựa trâu còn lưng cam chịu/ngẩng đầu lên không thấy ánh mặt trời. Một chiều là quê hương ta đã đôiỉ thay rồi/phù sa đồi bãi hồng tươi đất, trĩu nặng vườn cây nắng xanh trời, nét mặt con người vui duyên mwois và làng, bản mỗi ngày thêm hương sắc…Như vậy, trong cuộc sống của người Bru-Vân Kiều ở Đakrông có những con người, hiện thực đã làm bừng sáng những cảm xúc tự hào và yêu thương trong Hồ Chư, giúp Hồ Chư viết những câu thơ mộc mạc mang chức năng thẩm mỹ là hướng người đọc nghĩ tới điều thiện rất tốt đẹp. Sức quyến rũ thẩm mỹ của những câu thơ trường học ở bản/ghế bàn bé nhỏ/nhà tranh vách nứa/gió se rừng chiều/điện đài chẳng có/lạ thay ở đó/rất giàu tình yêu/cô thầy ca hát/đệm đán hai dây/không đủ nốt nhạc/gõ bát để thay/thầy cô dạy học/lớp đêm, lớp ngày/chữ ánh lữa/sáng ngời hôm nay/các em đến trường/học lể, học văn/thể dục múa hát/thầy trò mến thân là ở chỗ Hồ Chư đã nhìn thấy một thực tại cụ thể là con người trên quê hương mình đã thoát khỏi những mối quan tâm vật chất nên dễ dàng cảm nhận được cái đẹp vốn rất giáu trong cuộc sống xung quanh. Và Hồ Chư đã đọc được cách không chỉ nhận thức cái đẹp mà còn phẩn ánh nó vào trong sáng tác của mình. Với việc phản ánh những hiện tương đẹp của cuộc sống, thwo của Hồ Chư truyền đạt cả vẻ đẹp khách quan của thực tiễn đời sống lãn cảm xúc chủ quan cũng như sự đánh giá, khẳng định của người nghệ sĩ đối với những hiện tượng đó. Cuối cùng, tình cảm thẩm mỹ, về bản chất mang tính tinh thần ấy của một cộng đồng Bru-Vân Kiều nói chung và của Hồ Chư nói riêng thuộc về con người, Nhu ậy, nhận thức nghệ thuật là hình thức cao nhất trong quan hệ thẩm mỹ của Hồ Chư với các hiện tượng bộc lộ cái đẹp của cuộc sống trên quê hương, cội nguồn. Cá tính sáng tạo như thế có sự biểu cảm rất rõ ngay sau khi Hồ Chư miêu tả bằng thơ tiếng gà gáy ở Đakrông: “Sáng nào gà cũng gáy/như chuông của thời gian/báo mọi người thức dậy/đón mặt trời mới lên/Sáng nào gà cúng gáy/xua tan những bóng sương/gọi mọi người lên rẫy/gieo những hạt lúa vàng/sáng nào gà cũng gáy/giục mọi người lên rừng/ tìm nấm mối, hái măng/đón mùa xuân năm mới/sáng nào gà cũng gáy/báo tin vui xa gần/mặt trời hồng chói lọi/thươm ngát hương rừng ta”.
Ngay trên quê hương nguồn cội của mình, có lúc Hồ Chư nhìn lại mình trong cuộc sống, tự soi mình qua làn nước của con sông quê để nhìn thấy được quê hương đổi mới, thấy được mình buồn vui. Đấy cũng chính là cách Hồ Chư thêm phần sâu sắc vào ý thức về nguồn cội vào lúc đò xuôi dòng Thạch Hãn/tối nhớ về chiến khu/nơi ta thành chiến sĩ/thời chiến tránh mịt mù hay khi nhìn thấy ánh điện đã sáng trên núi/như sao lấp lánh giữa đời/ngôi sao thì xa vời vợi/ánh điện tỏa sáng đời tôi…Đặc biệt, trong cảm thức về cội nguồn của Hồ Chư có sự trở đi trở lại của tiếng chiêng và người mẹ. Tiếng chiêng là một âm thanh đã trở thành biểu tượng văn hóa tinh thần nơi cảu người Bru- Vân Kiều bao đời nay và thơ của Hồ Chư cũng đã khắc họa nét sông rạng rỡ, lung linh ngày tháng mặt trời lên, tiếng chiêng của bản mường ta đó, tiếng núi sông nghìn thuở cha ông, tiếng nhịp tim bập bùng ngọn lửa, tiếng nghìn đời sâu nặng thiết tha, tiếng chiêng là bạn của muôn nhà, và quê hương ta đó, tiếng chiêng hòa trong gió, vượt thời gian qua bảy núi chín đèo”. Riêng hình ảnh người mẹ, dường như Hồ Chư muốn khắc họa thật đậm nét cuộc đời người mẹ Bru- Vân Kiều suốt ngày gắn với rẫy nương/ trên lưng gùi nặng măng rừng, sắn khoai chứa chan tình cảm thương con không bến, không bờ. Là một phận máu thịt của cội nguồn mà Hồ Chư yêu quý và với đời con mẹ là ánh sáng, người mẹ là một hình ảnh gần gũi và cao đẹp trong những câu thơ: “mẹ như lá đã úa vàng, vẫn thương con hết tâm can đời mình, nhìn con mái tóc rung rinh, mẹ cười: con đã trưởng thành, mẹ vui”.
Luôn dựa vào hiện thực, Hồ Chư ý thức về cội nguồn ngày càng rõ và thơ của Hồ
N.B.N









