|
H |
uỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) không chỉ là nhà chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị mà còn là nhà văn hoá lớn. Thời gian hoạt động văn hoá của cụ không dài (bởi từ năm 1908 đến 1921, cụ bị thực dân Pháp bắt đi đầy ở Cồn đảo, mãi đến năm 1927 mới bắt đầu hoạt động báo chí…) nhưng ý nghĩa xã hội của những hoạt động văn hoá (trong nhiều lĩnh vực như báo chí, thơ, chính luận, tạp văn, nghiên cứu phê bình…) thì rộng lớn và sâu sắc. Đọc qua sáu bài viết mang tính chất tranh luận trên báo Tiếng dân và Phụ nữ thời đàm từ năm 1930 đến 1934 về chánh học và tà thuyết và việc đánh giá Truyện Kiều, chúng tôi xin nêu mấy đặc điểm ưu trội trong phê bình văn học của cụ.
CÓ MỘT CHỦ THUYẾT KIÊN ĐỊNH
Chủ thuyết đó bắt đầu từ đâu? Từ ý thức dân tộc, tương lai văn hoá dân tộc. Người đọc dễ dàng nhận thấy trong bài: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Một tiểu luận chiêu tuyết những lời bài báng của Phạm Quỳnh đối với Ngô Đức kế, một chí sĩ đã qua đời, tác giả bài Chánh học cùng tà thuyết mà theo cụ Huỳnh là “bác tuyệt xướng có giá trị nhất trong quốc văn, báo giới ta về khoảng mươi năm nay … (I.581)” Chánh học và tà thuyết nói gì? Vận nước thịnh hay suy là do đâu? Là do nhân tâm thế đạo tốt hay xấu, là tại học thuyết chính hay tà. Vài nghìn năm nay, nước ta học chữ Hán, theo đạo Khổng, Hán văn là quốc văn, Khổng học là quốc học. Từ khi Âu trào trên khắp thế giới, nước ta đến Âu học mà đổi Hán học không phải là có hại, nhưng việc gì cũng thế, phá cái cũ thì dễ và chóng, lập cái mới thì khó và lâu. Trong lĩnh vực học thuật thì văn chương nhảm nhí, ngôn luận càn xiên, đạo đức suy đồi, nhân tâm ngày càng hư nguỵ… Về Truyện Kiều, Ngô Đức Kế cũng có ý kiến thẳng thắn. Mặc dầu coi văn chương quốc âm của Nguyễn Du là “hay thiệt”, hiểu tâm trạng Nguyễn Du mượn chút văn chương đã gửi gắm tâm sự mình, nhưng Ngô Đức Kế phê phán Truyện Kiều là “Truyện phong tình”, thứ văn chương ngâm vịnh, chứ không phải loại “Văn chương chính đại”, theo đường chính học để giáo hoá người đời. Là bạn tâm giao của chí sĩ họ Ngô, hơn thế là một học giả lớn, Huỳnh Thúc Kháng đã viết liền hai bài để nói lại những quan điểm sai trái đương thời của Phạm Quỳnh và Phan Khôi chung quanh việc hai vị đề cao quá đáng Truyện Kiều. Ở bài Chánh học và tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? (Tiếng dân, tháng 9/1930), cụ Huỳnh cho rằng, câu chuyện chánh học và tà thuyết đã ra mắt độc giả từ năm 1924, cách đây đã 6,7 năm rồi, hà cớ gì mà một “tân nhân vật”, “Tự nhận cái gánh gây dựng một nền văn hoá mới cho nước nhà” như ông Phạm Quỳnh lại có những lời thô lỗ, tỏ cái tâm sự hiềm riêng đối với người thiên cổ?! Âm hưởng chính của bài báo không dừng ở chuyện bảo vệ danh dự cho Ngô Đức Kế” một người đã hy sinh cả thẩy, chỉ ôm lòng lo việc chung đất nước”, Huỳnh Thúc Kháng đẩy xa hơn, vì nó quan hệ đến nền quốc văn, quốc học, vì có kẻ hô to giữa công chúng rằng: Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc tuý, là Thánh kinh, hiền truyện…” (I.611). Bài Lại vấn đề chánh học cùng tà thuyết/ Tiếng dân, (10/1930) biện chính lại mấy lời phê bình của Phan Khôi. Vượt lên trên mọi lý do vụn vặt, chuyện “bênh ông Ngô, xoi mói ông Quỳnh”, Huỳnh Thúc Kháng nêu mục đích tranh luận không phải vì “việc riêng, mà cốt hộ vệ chân lý trong luận điểm của mình, thuyết minh có thành lập, thì chân lý mình chủ trì mới đứng vững (I-589)”. Vậy chân lý đó là gì? Là sự phân biệt giữa chính và tà trong học thuật, tư tưởng, nghệ thuật; có chính mới sinh ra được người có đại nhân, đại thức, nhờ đó mà dân giàu nước mạnh, còn tà là có hại cho nhân tâm thế đạo. Tóm lại, việc cụ Huỳnh tự đóng vai trạng sư để biện hộ cho Ngô Đức Kế không chỉ là chuyện giữa hai người, giữa hai phe đối trọng nhau, mà ngụ ý đều lớn lao hơn là sự bảo vệ chân chính nền quốc văn, quốc học dân tộc vào thời điểm lịch sử mà từ đó trở về sau, nảy nở không ít học thuyết: lành có, dữ có, chính có, tà cũng không thiếu. Về sau Huỳnh Thúc Kháng thường nói đi nói lại điều này: “Tôi bác Kiều là bác những kẻ tán dương điều tà, điều bất chính kia, chứ bản thân nó thế nào mặc kệ nó… Tôi bác Truyện Kiều là bất chính kia, chứ bản thân nó thế nào mặc kệ nó… Tôi bác Truyện Kiều là bác sự tán dương những điều bất chính” (I.617. Tác dụng xã hội của hai bài báo trên rất rộng lớn. Chính cụ Phan Khôi cũng phải công nhận là “Nhất ngôn cư yếu” nên trong mấy bài phê bình sau cụ phan cũng gác hẳn chỗ cốt yếu ra ngoài tranh luận, còn cụ Phạm Quỳnh xem ra “Đã có ý tự hối mà không còn có cái giọng hăng hái như trước, đủ rõ mãnh lực bài Chánh học có ảnh hưởng đến mức nào” (I.597).
VỐN TRI THỨC HỌC THUẬT UYÊN BÁC
Đọc những bài tranh luận của nhà văn hoá Huỳnh Thúc Kháng như Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát (1-1934). Lại câu chuyện bác Truyện Kiều (2-1934) và bài Không nên khinh lối văn chương châm phúng v.v… chúng ta thấy cụ Huỳnh có một chiều dày tri thức lịch sử văn hoá dân tộc và của nước ngoài, đặc biệt là Bắc sử. Là một nhà khoa bảng danh tiếng được đào tạo từ hệ thống giáo dục Nho giáo, về sau theo con đường Tây học, rồi đến năm 1927 làm báo, chủ bút tờ Tiếng dân (nhằm truyền bá tư tưởng tiến bộ, chống nạn cường hào ác bá ở nông thôn, đề đạt nguyện vọng chính đáng của dân với Chính phủ thuộc địa), Huỳnh Thúc Kháng để lại trong những tiểu luận của mình những tư tưởng cấp tiến, những giá trị nhân văn của văn hoá dân tộc, những lập luận chứng giải, lý sự và những điển tích văn chương trong văn hoá Trung Hoa để làm vững chắc cho những luận điểm của mình. Nói lại câu chuyện bài bác Truyện Kiều với ông Ngạc Am (tức Võ Liêm Sơn trên báo Công luận) Huỳnh Thúc Kháng cho rằng, luận điệu của người đối thoại “Có chiều mâu thuẫn”, nhưng không bàn ở đây; cái đáng bàn là ông đã dẫn kinh thi, Khổng Tử, đặc biệt là bài thơ hay: Quan thư nhằm chứng minh Khổng Tử không cấm văn tình yêu và không ngăn sách dâm để phê phán “cái án phong tình hố dâm” của tôi đối với Truyện Kiều. Như vậy, theo cụ Huỳnh sự so sánh Quan thư với Truyện Kiều là sự so sánh bất ổn, bất luận. Ở đây, cụ Huỳnh tỏ ra rất am hiểu Kinh thi từ xuất xứ, lịch sử hình thành, nội dung cho đến tác dụng đối với người đương thời và người đời sau. Quan thư là một trong một số bài thơ hay nhất nói về tình yêu tha thiết, hôn nhân lành mạnh, quan hệ tình cảm trong sáng giữa người với người lao động. Cụ Huỳnh không bài bác văn tình của Khổng Tử, không bác Khổng Tử khi Người cho “vui mà không dâm”, “buồn mà không hại”, trong văn tình có chính và có tà… Cụ bác Truyện Kiều là bác sự tán dương những điều bất chính của một bộ phận dư luận xã hội trong đó có báo chí.
Mở đầu bài: Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát (1-1934), Huỳnh Thúc Kháng “trói” ngay Lưu Trọng Lư vào cái cột mê tín người đẹp, sùng ái văn chương, mê luôn cả người trong tiểu thuyết như Kiều trong Truyện Kiều, mê đến say đắm, đến tôn hót, cho dù điều ấy là đẹp hay xấu, chính hay tà. Bài viết không dài nhưng có hai điển tích văn chương làm cho trọng lượng bài báo nghiêng về lập trường nghiêm khắc, cốt cách nho phong của tác giả. Huỳnh Thúc Kháng vẫn thừa nhận “văn của Nguyễn Du tả Truyện Kiều trau lời, rèn điển, thêu gấm chạm hoa, rõ là một nhà mỹ thuật biệt tài, nên lắm người mê” (I.661); nhưng từ đó có người, trong đó có Lưu Trọng Lư lẫn lộn giữa biệt tài thơ của Nguyễn Du với nhân vật trong truyện mà bản thân, chân tướng, phẩm hạnh của Kiều chẳng có gì đáng chép, thậm chí nặng lời coi là “con đĩ như trăm ngàn chị em khác ở xóm Bình Khang”. Điều đó chẳng khác gì chuyện ông Lâm Tây Trọng phê bình bài “Người cụt chân của Trạng Tử có dẫn chuyện; có một anh phải lòng con đĩ một mắt, chàng ta ra đường trông người đời ai cũng thừa một con mắt. Yêu quá đáng, thành mê muội, cuồng si chẳng khác nào ông Lư mê cô Kiều trong truyện vậy! Câu chuyện một anh học trò thông sách, thích xem hát bội, say mê nhất là anh kép đóng vai nịnh vai Tần Cối: từ giọng nói, tiếng cười, dáng đi, hàm râu đến chiếc áo bào lông màng, mũ bình thiên… Từ chỗ mê nhân vật Tần Cối trong tuồng, anh ta mê luôn Tần Cối trong lịch sử, mà hành tung của Tần Cối trong lịch sử thì ai cũng biết: nịnh trên, hiếp dưới, gian hùng có hạng, dùng kẻ gian tà, đuổi người trung thực v.v… Về sau, nhờ một cậu học trò nhỏ khác đương học sử Tống đến đoạn Tần Cối, thấy vừa đọc, vừa mắng và trên trang sách, hễ ở đâu có chữ Tần Cối là ở đấy có dấu gông son treo ngang ở giữa. Hỏi, thì được cậu học trờ trả lời rằng: Thầy tôi thuật chuyện Tần Cối là tên gian manh, lộng quyền giết Nhạc Phi, nên ở khắp nước, trước miếu thờ Nhạc Phi thường có một tượng sắt có chày gõ vào đầu, nên tôi làm dấu gông son kia để phạt hắn. Anh học trò nọ sửng sốt. Từ đó trở đi anh ta không sùng bái Tần Cối nữa. Kẻ mê văn Nguyễn Du mà mê luôn Vương Thuý Kiều đâu có khác thế! Đó là lời bình của người tranh luận với nhà thơ Lưu Trọng Lư.
VĂN HOÁ TRANH LUẬN – MỘT NÉT ĐẸP LẤP LÁNH VỀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA CỤ HUỲNH
Lịch sử văn hoá nước ta từ những năm 20, 30 cho đến đầu 1940 thế kỷ XX chứng kiến nhiều cuộc tranh luận về quốc học, về Truyện Kiều, về duy tâm và duy vật, về thơ cũ và thơ mới… Ở cả hai chiến tuyến đều có những ý kiến rất khác nhau, đối lập nhau là vậy, nhưng cuối cùng lịch sử phê bình phải công nhận nét đẹp của văn hoá tranh luận. Ở đó, họ bình tĩnh nghe nhau, đọc của nhau, hiểu động cơ và thâm ý của nhau, chỉ gọi nhau bằng những đại từ nhân xưng: tiên sinh, người, quân, công… Đó là bài học cho tranh luận văn nghệ hôm nay. Vì sao vậy? Vì cả hai bên đều cùng soi chung một lăng kính văn hoá, cùng có một điểm nhìn hội tụ, một chân lý cao sáng vời vợi là ý thức dân tộc, số phận tương lai văn hoá dân tộc – một vấn đề xã hội rộng lớn, quan thiết đến vận mệnh dân tộc. Trong hoạt động phê bình văn học của cụ Huỳnh ta thấy nổi lên một nét đẹp của văn hoá tranh luận. Chính cụ và những chiến hữu của cụ như Ngô Đức Kế, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp… đã kế thừa truyền thống học thuật của các thế hệ trước, tạo nên sinh khí mới cho đời sống tư tưởng, học thuật sống động đầu thế kỷ. Tranh luận với nhà thơ Lưu Trọng Lư về Truyện Kiều, Huỳnh Thúc Kháng hiểu rất rõ thế mạnh của đối tượng tranh luận: một nhà thơ trẻ tài hoa, một “người đã học thông”, “viết văn lưu loát”, “tôi rất coi trọng cái não phán đoán” hơn là trách ông, mặc dầu nhà thơ họ Lưu thua cụ đến 36 tuổi. Đúng là đáng đàn con, đàn cháu những chủ thể tranh luận có ý thức bình đẳng, tôn trọng. Cụ cũng hiểu được rằng, trong tranh luận học thuật chuyện được – thua, đúng – sai của cá nhân nhiều khi phải lùi lại, bởi đó chỉ là phương tiện để đạt mục đích khác cao hơn, làm sao thuyết phục được dư luận sai trái của xã hội, trong đó có ông Lư. Còn Lưu Trọng Lư trong Mấy lời chiêm tuyết cho Vương Thuý Kiều (báo Phụ nữ thời đàm (10-1934), mặc dầu quan điểm đánh giá khác với cụ Huỳnh, nhất là về thị hiếu thẩm mỹ, vẫn tỏ lòng kính trọng “ông nghè Huỳnh Thúc Kháng”, coi “Huỳnh tiên sinh là người khoan dung, đại độ”, nhưng không hiểu tại sao tiên sinh lại nặng lời với Vương tiểu thư, lòng người có sắt đá mới thở ra cái giọng tàn nhẫn với nhân vật chính của Truyện Kiều. Thật ra, ở Huỳnh Thúc Kháng cũng không tránh khỏi mâu thuẫn. Một mặt cụ lên án, bài bác Kiều đến nơi đến chốn nhất là buông những lời nghiêm khắc đối với những “kẻ mày râu” tán dương Kiều, nhưng mặt khác cụ cũng tự nhận mình là người yêu nghệ thuật đến đam mê, có khi chỉ vì “một chữ, một câu mà chạm trỗ, dùi mài cho đến quên ăn quên ngủ…” (I.598). Ngay cả Truyện Kiều, khi đã gần 30 tuổi, cụ mới được đọc nhưng nhớ gần hết. Thế mới biết cụ chẳng phải là “cây đá vô tình” không biết thưởng thức nghệ thuật !
Đối với Phạm Quỳnh thì thái độ của Huỳnh tiên sinh có khác về “tông” tranh luận. Khác, bởi vì câu chuyện gắn liền với quan điểm học thuật, động cơ hiềm riêng, lời lẽ thô lậu của cụ Phạm bôi nhọ một danh sĩ đã qua đời là cụ Ngô Đức Kế. Cụ Huỳnh cho rằng, nếu những hành vi và lời nói trên xuất phát từ một văn sĩ xằng nào đó, thì không chấp làm gì, đằng này là ngòi bút của một bậc thức giả mà lại đi xuyên tạc cái lịch sử mười năm bị đi đày Côn Lôn của ông Ngô. Ngô Chí Sĩ chưa bao giờ lấy Côn Lôn du ký để tuyên bố mua danh, nhằm tranh thắng trong cuộc tranh luận Truyện Kiều.
Trong bài biện chính lại những phê bình của Phan Khôi, ở đoạn mở đầu, người đọc thấy Huỳnh Thúc Kháng rất quan tâm tới biện luận, bởi đó là động lực của phát triển, là quá trình đi tìm chân lý trong trường ngôn luận học, nhưng cần tránh hành vi “tranh khí hiếu thắng”. Cụ phàn nàn rằng, học giới nước ta không có phong khí luận học như học giới các nước. Ngày nay Âu học truyền sang nước ta, đánh đổ nền học giới chuyên chế, lại có sự hoạt động của báo chí nên đã dấy lên một phong khí luận học, có cơ may mở mang đôi chút tự do tư tưởng. Đó là điều cần nhất trong học giới nước ta. Thực trạng trình độ học giới nước ta như vậy, nên phần nhiều trong số họ thiếu kiến thức luận học thường sa vào chuyện cãi vã nhau tay đôi, có khi vượt ra ngoài phạm vi luận đề, thành chuyện đấu khẩu triền miên, không có giá trị biện luận. Chính vì lẽ trên học giả Huỳnh Thúc Kháng cho rằng: trong sự phát triển văn chương, học thuật cần phải biện luận, đã “biện luận là phải tranh thắng, muốn thắng là phải có văn khí, mà lời có thẳng, khí mới mạnh. Sự tranh thắng ấy không phải vì việc riêng mà cốt hộ vệ cho chân lý trong luận điểm của mình …” (I.589).
Tất cả những quan điểm học thuật về đối tượng phê bình, chủ thể phê bình, nội dung phê bình và tranh luận được Huỳnh Thúc Kháng đưa ra qua một số bài viết, cách đây 3/4 thế kỷ tuy chưa thật hệ thống nhưng rõ ràng, chúng ta có thể suy nghiệm về một phương pháp luận nghiên cứu, phê bình văn học: Có bản lĩnh, có tính chiến đấu vì chân lý cuộc sống và chân lý văn chương, nghệ thuật.
H.S.V
(2) Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam tập I, NXB văn học tr364 – 372 năm 1924.
(3) Kinh thi là tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, gồm khoảng 305 bài được xuất hiện từ đầu đời Tây Chu đến giữa Xuân Thu (TK XI – XVI trước CN) do các quan âm nhạc đời Chu biên tập dựa trên công trình sưu tầm của nhạc công các nước chư hầu. Kinh thi từng bị Tần Thủy Hoàng thiêu hủy, đến đời Hán mới được lưu truyền lại. Kinh thi gồm 4 phần: Phong, Tiểu nhã, Đại nhã, Tụng. Thơ về tình yêu và hôn nhân chiếm vị trí nổi bật trong phong. Có rất nhiều bài thơ hay nói về chủ đề trên như: Quan thư, Đảo toàn thư, Thái cát, Xuất kỳ môn đông, Nữ viết kê mình... Có thể cem Kinh thi là “bất khoa toàn thư” thời cổ đại Trung Quốc.
(4) Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam, tập III NXB văn học, tr 5-10.









