Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Nền kinh tế thị trường với hội nhập quốc tế và những ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần của xã hội

K

hi nhận định về sự phát triển của văn hóa, văn nghệ dưới chế độ  tư bản. C.Mác đã viết: phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thù địch với nghệ thuật và thơ ca. Đây là một luận điểm có tính bao quát về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với một số hoạt động tinh thần thiên về cái lý tưởng, cái đẹp, trong đó có văn học, nghệ thuật. Có nhà nghiên cứu cho rằng. C.Mác muốn nói đến sự đối địch giữa chủ nghĩa tư bản vốn mang nhiều tính thực dụng với thơ ca - một thể loại giàu tính chất trữ tình, thơ mộng. Thực ra vấn đề lý luận đặt ra rộng hơn, sâu sắc hơn và có ý nghĩa chung cho các loại hình văn nghệ. C.Mác đã khảo sát, phát hiện và nêu nhiều luận điểm xuất sắc, phong phú về nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Đó là thời kỳ lịch sử mới, với phương thức sản xuất lớn, đem lại khối lượng khổng lồ hàng hóa cho xã hội, nhiều quy chế dân chủ được phát huy trong các tổ chức chính trị, khoa học, kỹ thuật phát triển, nhiều triết lý tiến bộ nảy sinh trong lòng xã hội tư bản. Chủ nghĩa tư bản bộc lộ sức mạnh và phát triển nhất là trong thời kỳ đầu đấu tranh thắng lợi với chế độ phong kiến. Tuy nhiên, qua nhiều thế kỷ phát triển, chủ nghĩa tư bản tự bộc lộ những mặt yếu từ bên trong; cạnh tranh và chạy đua theo lợi nhuận bằng bất kỳ thủ đoạn nào và từng giai đoạn lại lâm vào khủng hoảng. Sự phân hóa giàu nghèo và đa số rơi vào cùng khổ, xã hội chất chứa nhiều cái phi lý, tội ác tràn lan trong đời sống. Tất cả mặt mạnh và yếu trên đều tác động đến hoạt động tinh thần và đời sống văn hóa, văn nghệ. Kiến trúc thượng tầng của xã hội tư bản như một tấm gương treo ngược phản ánh những mặt trái, những bất công, phi lý của xã hội. Mặt khác, hệ tư tưởng và hiện thực nhiều màu vẻ phức tạp đã góp phần công phá, gạt bỏ những ảo tưởng tồn tại nhiều thế kỷ của chế độ phong kiến. Tôn giáo thần linh cũng phải từ biệt đỉnh núi Ôlanhpơ trở về với trần thế. Sự thống trị của nhiều tôn giáo của thời kỳ trung cổ đã mất dần điểm tựa vật chất và tinh thần trong xã hội tư bản. Và “thần thánh cũng khát” - như cách nói của Anatole France qua tác phẩm Les dieux ont soif. Nếu trước đây với một số tác phẩm, ở đằng sau mỗi nhân vật chính là hình bóng của một vị thánh thần thì giờ đây văn chương đã có sức sống riêng bằng chất liệu của đời sống. Cũng vì thế, những người hoạt động tôn giáo không còn vị thế như xưa. Chế độ tư bản cũng tước đi sự tỏa sáng của các nhân vật hoạt động tinh thần được xem trọng trong xã hội phong kiến. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản chỉ ra một sự thực:

“Giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó”1.

Có thể nói, xã hội tư sản đã nhìn nhận sự vật theo bản chất của nó với màu sắc thực dụng, bình thường hóa. Đã xuất hiện phổ biến trong xã hội tư sản tình trạng mất thiêng mà phẩm chất và tính thiêng vốn có từ hàng chục thế kỷ. Từ những nghi thức, nghi lễ của tín ngưỡng thần linh thời nguyên thủy đến các tín ngưỡng đa thần giáo cho đến những tôn giáo lớn ngự trị thế giới tinh thần của con người, cái thiêng luôn được tôn sùng, chi phối, ám ảnh. Xã hội tư sản không lấy thần linh làm thần tượng. Một mặt, tổ chức của xã hội phong kiến cũng tạo nên nhiều thần tượng đầy quyền uy, từ nhà vua, dòng họ vua chúa, các quan chức triều đình, tất cả đều có vị thế lớn lao. Câu nói nói lên quyền lực nhà vua: “Tôi nói đó là luật”, rồi ở phương Đông quan niệm “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” đã nói lên thực tế quan hệ quân thần, phụ tử trong xã hội phong kiến. Chế độ phong kiến đã ban phát bổng lộc, đất đai đến từng lãnh chúa và họ chiếm lĩnh như luật đời bền vững. Câu thành ngữ “Nulle terre sans seigneur” đã nói lên thực tế đó. Không có mảnh đất nào không có lãnh chúa làm chủ. Nhưng đến chế độ tư bản thì người chủ là người có tiền. Ai cũng có thể là chủ nếu có tiền. Thực tế trên nói lên nhiều xáo trộn và bảng giá trị đã có nhiều thay đổi. Trong xã hội tư sản luôn có những cuộc xô đẩy, cạnh tranh vì lợi nhuận. Kiếm tiền, làm giàu là việc khó nên phải có nhiều mưu chước, cạnh tranh mạo hiểm để giành cho được phần thắng trong nền kinh tế thị trường. Không có gì là độc tôn, là bền vững muôn đời, các giá trị luôn được xét lại. Dĩ nhiên vẫn có những biểu tượng được tôn thờ như những anh hùng dân tộc có công với đất nước và đã được thời gian thử thách, tôn vinh… Chính tình trạng mất thiêng, không còn hào quang thần thánh, không còn sự sùng bái có tính chất tôn giáo với cá nhân, niềm tin không mơ hồ, có căn cứ và mọi hiện tượng luôn được khảo sát, trước tiên là sự nghi ngờ và tiếp theo sự việc phải được chứng minh bằng hành động thực tế có những mặt không thích hợp, trái chiều với chủ nghĩa xã hội. Tất cả những cái như xô bồ, hỗn độn của xã hội tư sản được kìm hãm trong sự ổn định bằng luật pháp. Xã hội cai trị bằng luật pháp và luôn có sự đối lập giữa luật pháp và quyền tự do cá nhân vì cá nhân luôn có xu hướng vượt khỏi mọi quy chế của xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực báo chí và văn nghệ, giai cấp tư sản tìm cách khống chế dư luận cho phù hợp với lợi ích của họ. Nhiều tờ báo bị đóng cửa, nhiều nhà báo bị treo bút, phạt tiền, thậm chí bị tù đày vì đã có chính kiến ngược với luật pháp tư sản mặc dù nói đúng sự thật. Các Mác đã có nhiều bài báo phê phán nạn kiểm duyệt của nhà nước Phổ và ở các thời kỳ sau. Tác phẩm văn nghệ tuy gián tiếp hơn nhưng không ở ngoài quy luật trên. Trước hết là họ bị tước mất cái gọi là lý tưởng thiêng liêng của nghề nghiệp và những trang viết. Nhà thơ Pháp Bêrănggiê đã từng than phiền: Tôi chỉ sống để làm những bài ca. Nhưng, thưa ngài, nếu tôi bị tước mất việc làm thì tôi sẽ làm những bài ca để sống.Không chỉ giới hạn ở đấy, nếu những trang thơ đi ngược với chế độ chính trị thì nhà thơ cũng phải ngừng bút. Sự đối lập ấy diễn ra thường xuyên. Bản chất của nền kinh tế tư bản sản sinh và nuôi dưỡng ý thức cá nhân tự do và hậu quả không  thể khác khi các đảng phái tranh chấp nhau về quyền lợi và tư tưởng, khi những cá tính đặc thù bật dậy chống đối để có quyền tự do cá nhân, và tất nhiên nhà nước phải đối phó. Cái gọi là tự do tuyệt đối là ảo tưởng. Tuy nhiên, một số quyền tự do vẫn được thực hiện như tranh chấp, đã kích nhau giữa các đảng phái, chỉ trích cá nhân nhà cầm quyền, soi mói đời tư cá nhân,… Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những khuyết tật trên vẫn ít nhiều tồn tại, tuy không được phát triển, khác biệt với xã hội tư sản. Các nhân vật có quyền uy trong xã hội tư sản không quá gây cách biệt với cộng đồng. Họ cũng phải tuân thủ luật pháp. Thủ tướng Olmert bị cảnh báo về tội quấy rối tình dục, Thủ tướng Thái Lan Sạmạc bị cách chức vì ở cương vị Thủ tướng vẫn nhận dẫn chương trình ẩm thực Hãy nếm và bình luận cho đài truyền hình tư nhân, Tổng thống Mỹ BinClintơn bị lâm nạn trong vụ ngoại tình ở Nhà Trắng khi đương chức, các vị ứng cử viện hàng đầu trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp đều được in tên và hình trên các viên bi a để đánh chơi, các hình nộm bằng gỗ của các vị tổng thống Hoa Kỳ như Rigân, Busơ cha đều để ở đường phố để mọi người có thể lại gần, ôm ấp, chụp ảnh. Những hiện tượng trên không nói lên nhiều lắm về quyền tự do của cá nhân và những vùng cấm kỵ của người có quyền hành nhưng dù  sao cũng là một nếp sinh hoạt quen thuộc của xã hội tư sản và chắc chắn là không thích hợp với nước ta. Trong một lần thăm Việt Nam, Chủ nhiệm Khao Báo chí Trường Đại học Côlômbia của Mỹ nói rằng: Tổ chức xã hội của các ông và chúng tôi khác nhau “cái mà các ông cho là đáy thì chúng tôi cho là ngọn và ngược lại”. Dù luận bàn thế nào thì với chúng ta nền kinh tế thị trường vẫn từng bước được thiết lập và chúng ta đang mong muốn được các nước công nhận là đã có nền kinh tế thị trường. Chúng ta muốn thiết lập một cơ chế tư tưởng ổn định lấy nhân dân và cộng đồng làm nên, làm chuẩn mực cho các giá trị tư tưởng. Nhưng trong xã hội tư sản qua từng sự việc luôn có một giá trị tương đồng, đó là vai trò của cá nhân, quyền tự do cá nhân. Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, Jefferson cũng nhấn mạnh ý tưởng mọi người sinh ra phải được bình đẳng do tạo hoá ban phát cho, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển từ quyền con người sang quyền lợi dân tộc. Giáo sư Singô Sibata cho rằng: “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc”. Phải chăng cái gốc nhân bản trước tiên là số phận, quyền lợi cá nhân được bảo vệ. Cũng vì thế, chúng ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tức là phải thường xuyên chống lại mọi xu hướng tự phát của nền kinh tế tư nhân, tự do cạnh tranh với quỹ đạo kinh tế của nhà nước. Về tư tưởng phải thường xuyên giữ vững bảng giá trị vốn ổn định của chủ nghĩa xã hội và chống lại việc thiết lập cái gọi là những giá trị mới luôn chuyển đổi và biến dạng phức tạp. Friedrich Nietzsche, nhà triết học cực đoan tư sản trong cuốn Zarathustra đã nói như thế đã ca ngợi siêu nhân. Siêu nhân xuất hiện và phủ định mọi giá trị. Trong cuốn sách trên, phần viết về một bảng giá trị mới và cũ có đoạn: “Lòng dũng cảm táo tợn, sự nghi kỵ triền miên, sự khước từ găy gắt, sụ kinh tởm, sự bất quyết trong đời sống, thật quá hiếm hoi khi những thứ ấy đoàn tụ cùng nhau. Thế mà chính từ những mầm giống đó mới phát sinh chân lý. Từ trước đến nay mọi khoa học đều được phát triển song hành với ý thức sai lạc. Hãy đập vỡ cho ta những bảng giá trị cũ, hỡi các ngươi là những kẻ giác ngộ trí thức”2 Triết học Nietzsche kích động những mầm mống của sự phản kháng, nổi loạn, bạo lực, vượt trội, bất chấp mọi quy tắc xã hội. Không tránh khỏi mỗi cá nhân tự do mỗi dòng tư tưởng cực đoan luôn “tìm cách trả thù, phục hận” những điều không bằng lòng trong quá khứ, hiện tại. Họ giải toả những suy nghĩ độc ác bằng lòng kinh tởm và muốn nhìn thấy cột lửa lớn phóng xuống đốt cháy nó tan tành.

Những tư tưởng trên tồn tại và vẫn tồn tại trên sự cạnh tranh khốc liệt và ý thức sở hữu cực đoan của cá thể cũng như các tập đoàn trong nền kinh tế thị trường. Tư tưởng cách mạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải loại bỏ những luồng độc hại trên.

Một trong những vấn đề đặt ra của nền kinh tế thị trường là các hình thức sở hữu. Khi con người có được hình thức sở hữu đầu tiên thì chính ý thức tư hữu tạo ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Dưới chế độ nông nô, ruộng đất là nguồn tư hữu lớn nhất và không có mảnh đất nào không có chủ - đó là các lãnh chúa. Chế độ tư bản đã tạo nên những đổi thay và cơ cấu mới của các tổ chức xã hội từ lao động đến các hình thức thu nhập. Hoạt động kinh tế giao lưu, tiếp nhận đã tạo nên nhiều hình thức sở hữu và đồng tiền chính là báu vật tôn vinh nhiều ông chủ mới. Có câu thành ngữ “L’argent n’a pas de maitre” (đồng tiền không có chủ). Ai có tiền người ấy là chủ. Đồng tiền trôi nổi trên thị trường rồi vào các nhà băng, kho bạc, ngân quỹ gia đình. Sự phân hoá giàu nghèo giữa các tỷ phú với những kẻ khố rách áo ôm không có đồng trinh dính túi khác nào những quả núi so với mặt bằng bình địa. Cho đến ngày nay vẫn có sự chênh lệch phi lý giữa các tỷ phú kiểu Bill Gates với những người nghèo mức sống dưới 1 đôla một ngày. Có tiền là có tất cả, tuy có ngoại lệ, nhưng về cơ bản đồng tiền tác oai tác quái đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Trong tác phẩm Phaoxtơ của Gớt qua lời của Mêphixtôphêlét và trong Timôn ở Aten của Sếchxpia, đồng tiền được miêu tả sắc sảo, chân thực. Kẻ ốm yếu, què quặt nhưng có tiền đã tạo được thêm hàng tá chân nhanh nhẹn và có sức mạnh; kẻ khờ dại nhờ tiền đã lấy trí khôn của người khác bù đắp cho thông minh, sắc sảo; kẻ xấu xí nhưng tiền đã tô điểm thêm sức hấp dẫn với bao cô gái đẹp vây quanh. Các Mác đã chỉ rõ vai trò của đồng tiền: tiền với thuộc tính là có thể mua được tất cả, có thể chiếm hữu mọi vật là vật với ý nghĩa tối cao. Tính phổ biến của thuộc tính ấy của tiền là sức mạnh vạn năng của bản chất của tiền, cho nên tiền được coi là vạn năng. Khi người ta nghèo khổ, vất vả kiếm sống thì luôn mơ ước có được đồng tiền để đủ cơm no áo ấm. Nhưng khi người ta có tiền, có nhiều tiền thì mọi sự đã đổi thay. J.J.Rousseau trong tác phẩm Emile hay là về giáo dục đã nêu sự thay đổi khi con người có nhiều tiền: “Nếu tôi giàu, tôi sẽ làm mọi điều phải làm để trở nên như thế, tôi sẽ ngạo đời và đê tiện, nhạy cảm và tế nhị cho riêng mình, không thương xót và tàn nhẫn với tất cả mọi người, kẻ quan sát xem thường mọi đau khổ của tiện dân bởi tôi sẽ không còn gọi những người bần cùng bằng cái tên khác nữa để làm cho thiên hạ quên đi rằng trước kia tôi thuộc tầng lớp của họ. Cuối cùng dùng tài sản của mình làm công cụ hưởng lạc là điều duy nhất mà tôi quan tâm đến”3.

Bước vào đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng khi kinh tế đô thị phát triển, một số tầng lớp phất lên giàu có bằng cạnh tranh, đua chen trong làm ăn kinh tế, đồng tiền có thế lực và chi phối đến nhiều mặt hoạt động của xã hội. Đa số dân nghèo thành thị lâm vào cảnh lầm than. Trong tác phẩm kịch Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng đã để cho nạn nhân tấu lên khúc bi kịch về đời và vai trò của đồng tiền: “Lương tâm à? Còn thua đồng tiền. Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền. Giời phật à? Còn kém đồng tiền. Chỉ có đồng tiền là ai cũng phải kính thờ, chỉ có cách xoay tiền là đáng cho người ta tụng niệm”. Và nhân vật rút ra từ kinh nghiệm đau đớn nhận xét: “chẳng phải luân lý hay đạo đức hay cầm cân nẩy mực cho đời, đó chỉ là kim tiền giữ quyền thống trị mà an bài mọi điều nhân nghĩa đạo đức trên tự cổ chí kim”. Ít năm sau, một số nhà văn cũng nói đến bi kịch do kim tiền chi phối như Tiền (1937) của Khái Hưng, Kim tiền (1938) của Vi Huyền Đắc. Riêng với Không một tiếng vang (1931) một vở kịch không dài mà nhắc đến 62 chữ tiền4.

Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một trang sử mới cho dân tộc, rồi trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng tiền mờ nhạt, không còn vị trí như trước kia.

Người chiến sĩ, người cán bộ cách mạng, người dân yêu nước trong chiến tranh sẵn sàng hy sinh tất cả vì cuộc chiến đấu của dân tộc. Gia đình ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ, cơ sở cách mạng ở nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Hội - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một thời gian và viết Tuyên ngôn độc lập, đã hiến cho cách mạng 5.147 lạng vàng, gần như hết cả tài sản, rồi theo kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc. Tuần lễ vàng ở Hà Nội cũng là thước đo lòng yêu nước của những gia đình trung lưu và giàu có ở Hà Nội ủng hộ cách mạng. Suốt mấy thập kỷ, nhân dân Việt Nam đã sống trong tình yêu đất nước sâu nặng và tình người nhân hậu nên đồng tiền không tác động nhiều đến đời sống xã hội.

Bước vào nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế khi chế độ bao cấp dần loại bỏ, kinh tế hàng hóa phát triển, vấn đề làm giàu của cá nhân được khích lệ, xu hướng cạnh tranh kinh tế trở thành thường xuyên trong đời sống xã hội thì đồng tiền dần có vị thế mới. Trong lần lên ngôi này, trọng lượng và màu sắc của kim tiền tác động tiêu cực sâu xa hơn đến các hoạt động tinh thần; văn học, nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường có vị thế khác trước, phong phú hơn, phức tạp hơn và luôn trong trạng thái không dễ bình ổn.

1. Trước hết trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm văn nghệ được xuất bản và tiêu thụ như một hàng hóa. Không thiên về cấp phát như thời bao cấp, hoạt động xuất bản phải tự nó quay vòng về để tái sản xuất. Một cuốn sách hay nếu nói về giá trị tinh thần là vô giá, nhưng thực tế, theo cách nói mỉa mai nó chỉ tương đương với “tám lạng thuốc lá”. Đó là thực tế. Và khi món ăn tinh thần không thích hợp với công chúng thì giá trị còn sút kém hơn. Chính C.Mác đã nhận rõ tính chất thực dụng trong xã hội tư sản đối với các hoạt động tinh thần. Bằng cách nào để bảo vệ giá trị thực của nó. C.Mác đã hiểu sâu sắc đặc trưng của văn nghệ: “Nhà văn hoàn toàn không coi tác phẩm của mình là một phương tiện. Tác phẩm là mục đích tự thân5. Mác còn hiểu tâm trạng và sự gắn bó của người viết với con đẻ tinh thần của mình là khi cần “có thể hy sinh sự tồn tại cá nhân của mình cho sự tồn tại của tác phẩm6. Thật là sâu sắc và đúng đắn…Cần tránh khuynh hướng áp đặt, hạn chế tự do của người viết nhưng cũng không thể xem đây là lĩnh vực trôi nổi ngoài vòng của xã hội. Sự chỉ đạo văn nghệ cần tôn trọng và bảo vệ giá trị thực của tác phẩm văn nghệ không để mặc nó trôi nổi trên thị trường. Quên đi một vế là thiếu sót, hạn chế. Nếu chỉ đóng khung tác phẩm trong khuôn khổ nhà trường và câu lạc bộ chật hẹp, không phổ biến, không giao lưu rộng rãi sẽ hạn chế giá trị tác phẩm. Ngược lại, biến tác phẩm thành hàng hóa, đơn thuần chạy theo đồng tiền và thị hiếu tầm thường của một vài lớp công chúng sẽ dẫn đến hủy hoại giá trị tác phẩm. Văn nghệ không thể là một trò chơi không theo một quy luật và quy chế xã hội nào.

Một điều không tránh khỏi là trên thương trường tác phẩm văn nghệ bị biến thành món hàng mưu lợi cho người kinh doanh7. Tình trạng nhuận bút và phát hành sách như hiện nay có nhiều điều không hợp lý và tác giả ít có điều kiện bảo vệ quyền lợi của mình. Trong khi các hoạt động kinh doanh thương trường phát triển, một số ngành nghệ thuật, nhất là văn học không đáp ứng thị hiếu của công chúng rơi vào trì trệ. Nhiều nhà văn kiếm sống vất vả, vị thế xã hội yếu dần, cảm hứng về xã hội có lúc nhuốm màu bi quan.

2. Tình trạng lẫn lộn giá trị thực giả, hay dở thực sự gây khó khăn cho hoạt động văn nghệ.Thị trường hàng hóa gắn liền với việc tuyên truyền, quảng cáo. Quảng cáo chiếm một thị phần quan trọng trong sản xuất và mặt trái của nó thực sự đã làm cho hỗn loạn nhiều giá trị, trong đó có tác phẩm văn nghệ. Thêm vào đó, báo chí cũng tham gia đánh giá tác phẩm văn nghệ. Nhiều bài báo hay, biểu dương hay phê phán tác phẩm đúng đắn nhưng cũng có một số bài phê bình mang tính “tâng bốc” hay “hủy diệt”. Hiện tượng này trước đây vẫn thường xuyên xảy ra trong phê bình văn học, nay càng quyết liệt, mạnh mẽ hơn. Vấn đề quan trọng là động cơ chi phối những trang viết, sự khác biệt nhau về ý kiến với một tác phẩm văn nghệ là chuyện bình thường nhưng không thể ở mức quá khác biệt đến đối lập. Trọng tài thời gian sẽ sớm giải quyết vấn đề. Thực ra cũng cần phân biệt tác phẩm văn học và cận văn học. Ngày nay, do nhu cầu bộc lộ và giao lưu tình cảm, nhiều người thích viết văn, viết những chuyện lạ ngoài đời và chuyện của riêng mình nên loại truyện cận văn học hoặc phi văn học xuất hiện khá nhiều. Không nên lẫn lộn các loại hình và giá trị của từng loại.

3. Về phía chủ quan của tác giả văn nghệ cũng phải chịu nhiều thử thách trong cơ chế thị trường, mà trước hết là thử thách với chính mình. Tình trạng tha hóa, biến chất luôn có khả năng xảy ra trong cơ chế thị trường. Mình không còn là mình, dễ đánh mất mình trước sự tác động của xu hướng xấu. Nhà văn không nên ảo tưởng về mình, ngộ nhận về bản thân trước bảng giá trị luôn đổi màu. Chế Lan Viên có lần nói: “Một nhà văn cho dù tài năng cũng chỉ nổi tiếng được năm, bảy năm”. Có người cho thế là quá ít và cũng có người cho là nhiều. Gọi là ít vì có những tác giả lớn như Goethe, Victor Hugo, L.Tolstoi, Dostoievski, đời văn kéo dài nhiều thập kỷ, tài năng vẫn vang dội. Gọi là nhiều vì có tác giả nổi lên trong một vài tháng rồi sớm tắt dần theo thời gian ngắn ngủi. Trong cơ chế bao cấp, có những nhà thơ sau một vài bài thơ được dư luận chú ý đã lần lượt in hết tập này đến tập khác, với chất lượng sút kém hơn, nhờ sự hỗ trợ của cơ quan. Cơ chế thị trường thử thách gay gắt hơn. Trước cách mạng, thơ Thế Lữ nổi lên khai sáng cho phong trào Thơ Mới nhưng chỉ 5-6 năm sau khi đã có thơ tình mang thú đam mê của Lưu Trọng Lư, thơ tình tươi trẻ, hào hoa của Xuân Diệu, thơ tình với nhiều tình ý lạ của Hàn Mạc Tử thì Thế Lữ đã nhạy cảm chuyển sang lĩnh vực sân khấu. Sau cách mạng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp… trong những năm qua đã đến với người đọc, gây ấn tượng trong một số năm, như thế là tốt. Đời văn, theo thời gian, có người dần cạn nguồn, có người thay đổi lập trường sáng tác, làm sao kể hết. Một đời văn cho đến khi khép lại vẫn chưa hết dư âm…khen ngợi, chê bai. Những tài năng thực sự sẽ vượt lên thử thách của thời gian và đáp ứng được nhu cầu của đông đảo công chúng giàu bản lĩnh và trí tuệ. Không tránh khỏi tình trạng phân hóa trong giới văn nghệ sĩ, khi các loại hình nghệ thuật được đón nhận không đồng đều, loại thịnh vượng, loại sa sút. Cũng dễ thấy trong những năm gần đây, văn hóa đọc bị cạnh tranh với văn hóa nghe nhìn như điện ảnh, truyền hình, ca nhạc. Trong một loại hình nghệ thuật như hội họa có người được xem là bậc thầy, tranh vẽ đắt khách trong và ngoài nước, thì trở thành giàu có cũng có người chỉ cầm cọ cho qua tháng ngày. Vấn đề tài năng là điều không thể phủ nhận. Người viết phải hiểu mình và biết tự điều chỉnh để tránh mơ hồ, hẫng hụt. Trong cuộc sống khi con người giàu có sẽ có nhiều khát vọng, đam mê và đam mê nghệ thuật là lành mạnh, đáng khích lệ. Những năm gần đây, số lượng người làm thơ, viết nhạc và cầm cọ quá đông đến mức khó bao quát hết tác giả và tác phẩm. Trong hội họa có hiện tượng một, hai tác phẩm được giải nhờ sao chép tác phẩm của người khác mà ban giám khảo không biết. Tình trạng nhạc sĩ xuất hiện nhiều được một tờ báo ghi nhận là loạn nhạc sĩ. Số nhiều là tốt, chứng tỏ sự khởi sắc của đám đông đến với nghệ thuật. Tuy nhiên cũng phải nhận thức quy luật loại trừ khắt khe của nghệ thuật. Một Nguyễn Đình Thi không chuyên nhưng với Diệt phát xít vàNgười Hà Nội đã có hai tác phẩm trở thành bất tử. Một Văn Cao, con chim đầu đàn của nhạc lãng mạn đã đến với bầu trời lộng gió của nhạc cách mạng và rất thành công. Một Trịnh Công Sơn đã xây dựng cho mình một vương quốc riêng của âm thanh và tình yêu. Và họ không nhiều trong hàng trăm, hàng trăm người viết nhạc. Trong nền kinh tế thị trường, sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật còn khe khắt hơn, phải ưu trội, phải hay, đạt đến đỉnh cao.

4. Công chúng nghệ thuật trong thời kỳ hiện đại từng ngày luôn đổi thay. Mỗi người đến với nghệ thuật với trình độ và yêu cầu riêng nhưng có một điểm chung là thích cái mới, cái độc đáo,nhất là cái lạ. Họ ngại sự gò bó, công thức, lặp lại, nhàm chán. Và ở mức cực đoan hơn là biết bứt phá thăng hoa vượt truyền thống. Từ phong trào Thơ Mới, Xuân Diệu đã tìm đến một tình yêu “vô biên và tuyệt đích”, một lối sống “Thà một chút huy hoàng rồi chợt tắt/Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Bảy thập kỷ qua, trong văn chương cũng như cuộc đời tất cả đều có thể cộng thêm, nhân lên nhiều lần bình phương, lập phương. Các thứ triết lý hiện sinh, dòng ý thức Freud, siêu lý, hậu hiện đại góp phần vào không khí thời đại và văn chương. Công chúng thích và chối từ trong văn nghệ, điều đó không dễ ai đoán định được. Trừ đi mọi ngộ nhận do thị hiếu bất thường, do quảng cáo, điểm chung của công chúng thời kỳ hiện đại trong nền kinh tế thị trường là có trình độ, nhiều sở thích, thị hiếu không ổn định, theo “mùa”, theo “cơn”. Có tác giả phải vĩnh viễn chia tay với nghệ thuật vì không có khả năng chuyển đổi phù hợp với lớp công chúng mới. Tác giả tự thay đổi thì khó, công chúng đổi thay lại là quy luật tự nhiên. Hội nhập quốc tế chi phối nhiều đến các hoạt động văn nghệ. Đặc điểm của thời kỳ hiện đại là các dân tộc có nhiều mối quan tâm chung: tình trạng ô nhiễm, nạn khủng bố, sự nghèo đói, khí hậu biến đổi bất thường…Trong đời sống tinh thần, các dân tộc có nhu cầu giao lưu văn hóa, có phần trao đổi, hòa nhập, có phần tranh chấp và không phải chỉ tranh chấp chủ quyền đất đai ở các hải đảo, đường biên giới mà còn tranh chấp chủ quyền văn hóa. Chính phủ hai nước Inđônêxia và Malaixia phải họp bàn để xác định chủ quyền văn hóa của một số bài dân ca gần gũi và trôi nổi ở một số vùng của hai nước. Campuchia và Thái Lan tranh chấp ngôi đền Preak Vihia vừa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc tôn vinh là Di sản văn hóa của nhân loại năm 2008. Giao lưu văn hóa là một phần quan trọng của hội nhập quốc tế, đặc điểm của thời đại hiện nay. Vấn đề quan trọng là phải giữ bản sắc của dân tộc trong giao lưu hội nhập. Các hoạt động văn nghệ ở một số nước phương Tây có trình độ khoa học cao, phát triển, dễ có xu hướng muốn lấn át văn hóa các nước nhỏ bé hơn. Các nền văn hóa đều phải bình đẳng, tinh hoa văn hóa của các dân tộc phải được tôn trọng và xem là vốn quý chung của nhân loại. Văn hóa là tinh hoa, cốt cách của dân tộc được xây đắp trong trường kỳ lịch sử và có sức sống bền vững. Bảo vệ văn hóa là bảo vệ tinh hoa của dân tộc; cần chống lại xu hướng muốn áp đặt, đồng hóa văn hóa dân tộc với các nước.

Bước vào thời kỳ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, chúng ta đã có truyền thống phong phú của hàng ngàn năm văn hóa dân tộc và trên nửa thế kỷ văn hóa cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta ở thế chủ động trước thời cuộc, tự tin vào sức mình chắc chắn sẽ tạo bước phát triển mới, tốt đẹp của văn hóa Việt Nam thời kỳ hiện đại.

      H.M.Đ

 

 

 

 

 

1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 79

2. Friedrich Nietzsche: Zarathustra đã nói thế, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008, tr. 332.

3. J.J. Rousseau: Emile hay là về giáo dục, Nxb. Trí thức, Hà Nội, 2008, tr. 486.

4. Theo thống kê của chị Lê Thị Đức Hạnh.

5, 6. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.1, tr. 115

7. Một cuốn sách được xuất bản, nhuận bút của tác gia được 10 - 12% giá bìa; trong khi phí phát hành là 35%, có khi lên tới 50% giá bìa.

 

 
 
Hà Minh Đức
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 187 tháng 04/2010

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground