|
N |
gười ta thường nói, văn chương triết luận hơn lịch sử; nhưng thế mạnh của lịch sử là tính trung thực, là góc nhìn, là sức khái quát của nhà viết sử. Văn chương có được triết luận trước hết phải dựa vào lịch sử. Lịch sử thường có nhiều hiện tượng lặp lại, tạo nên những khái niệm dù tên gọi khác nhau, nhưng bản chất, xương cốt, linh khí là tương đồng. Minh triết(1) văn hóa ngoại giao nước ta từ thời Đại Việt đến Việt Nam vẫn là một dòng chảy hàng nghìn năm tạo nên bản lĩnh, bản sắc, khí phách dân tộc. Hàng nghìn năm đô hộ của ngoại bang, nhưng nước ta vẫn không bị đồng hóa. Tại sao? Thử dẫn ra mấy sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, làm nên đại thắng quân xâm lược không chỉ là nhờ vào chiến lược quân sự mưu trí, đường lối chính trị sáng suốt, mà còn là minh triết văn hóa ngoại giao của các bậc anh hùng văn hóa dân tộc và đội ngũ tri thức tinh hoa.
I. Đường lối ngoại giao Nhân nghĩa có gốc bền, rễ sâu từ thời Lê Lợi: Gốc của minh triết là NHÂN NGHĨA được Nguyễn Trãi thừa lệnh của Lê Lợi ghi trong Bình Ngô đại cáo là cốt ở yên dân; đem Đại nghĩa thắng hung tàn, lấy Chí nhân thay cường bạo là một minh triết. Lịch sử đã minh chứng nhiều hiện tượng: Từ nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, nhất là ba lần thắng quân Nguyên ở đời Trần. Nhưng đến Lê Lợi thì vận nước khó khăn chồng chất khó khăn, đòi hỏi chiến lược, sách lược đã đành, mà cần tìm kiếm chiêu thức mới: minh triết được thể hiện ở hai nội dung sau: Một là, sáng suốt trong nhận định lực lượng giữa ta và địch, vượt qua thách thức để đưa giang sơn đại định, mở mặt xã tắc. Việc đánh giặc Minh là thuận lòng người, hợp lẽ trời, nhưng thế và lực của Bình Định Vương lúc đầu ở tình trạng: quân thưa, tướng ít, lương thực thiếu… nên phải lánh về Chí Linh ba lần. Khi hết lương, phải hòa với giặc. Mười năm “nếm mật nằm gai”, lẽ trời trao cho gánh nặng, bắt trải qua “bách chiết thiên ma”, nên quân tướng bền gan, quên hết nhất sinh thập tử, tướng sĩ một lòng như cha - con, nên dù thế giặc mạnh, quân giặc đông, còn ta thì dựa vào Dân, đánh lâu nên thắng. Hai là, Biết khôn ngoan trong ứng xử bang giao khi ở bên cạnh nước lớn luôn luôn âm mưu thôn tính nước ta. Bình Ngô đại cáo là bản hùng ca không hề có một từ nói về phục thù, thượng võ, hiếu sát. Trái lại, đối với kẻ địch, kể cả tướng lĩnh khi đã mất hồn bạt vía chạy tan tác, tìm đường trốn tránh… Vua, quân ta đều mở rộng lòng trời bất sát, mở đường hiếu sinh. Bởi kẻ thù đã sợ mà cầu hòa, còn ta cốt dân an, binh nghỉ, xã tắc vững bền. Có gì cao thượng hơn thế.
Thời Hậu Lê, thời kỳ phân tranh giữa Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn (1533 - 1788) là thời kỳ chính trị rối ren, biến cố hỗn loạn ở trong nước, tạo điều kiện để nhà Minh lấy cớ đem binh mã sang đánh nước ta, mượn cớ “vị nghĩa”, thực chất là “mưu lợi”, “phi nghĩa”. Về mặt ngoại giao, sau khi Trịnh Tùng đã thu phục được Thăng Long, sang kêu cứu vua Minh là chính họ Trịnh, chứ không phải là con cháu nhà Lê nổi lên tranh ngôi. Vì vậy, vua Minh chỉ phong cho Lê Thế Tông làm An Nam đô thống sứ. May thay, Phùng Khắc Khoan - một chánh sứ đầy bản lĩnh tâu với vua Minh rằng, Đô Thống sứ là chức của họ Mạc chứ vua nước Nam là dòng dõi họ Lê mà phong chức ấy là không xứng đáng(2). Vua Minh ngập ngừng… Về sau, phải phong Vương cho vua Lê. Từ đó, nhà Minh với nhà Lê lại thông sứ như trước. Nói về Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) mà quên công trạng văn hóa ngoại giao của ông là thiếu sót. Ông quê Kẻ Bùng, Phùng Xá (Thạch Thất) - một học giả uyên bác, có một sự nghiệp chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn chương gắn liền với công cuộc giữ nước và dựng nước. Là người đầu tiên có quan hệ hữu nghị với các sứ thần ở các nước trong khu vực, trong đó có đại sứ Triều Tiên Lý Toái Quang. Biệt tài ngoại giao của họ Phùng là nhờ trí tuệ sáng suốt, mưu lược, phương thức ứng xử linh hoạt: Vừa tiến, vừa lui; vừa nhún nhường, vừa khéo léo làm cho vua tôi nhà Minh kính nể. Trong những tình huống gay cấn, ông giảm bớt lời lẽ hùng biện, gia tăng ngôn từ thuyết phục, cốt làm cho đối phương bớt giận làm lành, ngay cả khi họ ấm ức vẫn ra lệnh cho các đại thần cư xử đàng hoàng với chí sĩ họ Phùng. Trong thơ văn ông, trang nào cũng thấm đượm tình đời, lòng người, dù là thơ chữ Hán trong Ngôn chí thi tập, Nghị trai thi tập hay những vần thơ lục bát để giới thiệu thiên nhiên: cây cỏ, hoa trái, cách trồng trọt, thú điền viên của người nông dân, kẻ ẩn dật… trong Lâm tuyền văn. Những bài thơ đi sứ, tự xướng, tự họa, vịnh cảnh, tả người hoặc đáp tặng vua quan Tàu, sứ thần Triều Tiên đều toát lên tính khẳng khái, thế chủ động của nhà ngoại giao bậc thầy. Phùng Khắc Khoan là một nhân cách lớn, luôn tin tưởng ở tương lai, có ý thức đổi loạn thành bình, cứu nguy thành an trong nhiều tình huống chính trị hoặc ngoại giao bất trắc.
Minh triết văn hóa ngoại giao không chỉ được thể hiện ở các đại sứ chuyên nghiệp, mà ngay cả những quan lại cấp dưới vẫn có bản lĩnh ngoại giao. Truyền thuyết kể rằng, ông tổ nghề thêu làng Quất Động (Thường Tín): Bùi Công Hành(3) vốn là quan dưới triều Lê, được vua Lê Thái Tông trọng dụng cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cống triều Minh. Vua Minh thử trí thông minh, bèn cho quân sĩ dựng chòi cao chót vót, rồi mời ông lên ngắm cảnh. Khi ông lên lầu, chúng rút thang. Đưa mắt nhìn quanh lầu, ông chỉ thấy hai pho tượng sơn son thếp vàng, một chum nước, cùng hai chiếc lộng cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa lầu là bức nghi môn thêu ba chữ: Phật tại tâm. Một ngày rồi nhiều ngày qua chỉ một mình trên lầu vắng, bụng đói mà cơm không có ăn. Ông nghĩ: có nước chắc có cái ăn, nghĩ tiếp: Phật tại tâm nghĩa là Phật ở trong lòng, ông gật đầu mỉm cười rồi bẻ hai pho tượng để ăn… Thì ra, tượng được nặn bằng bột chè lam. Có thức ăn, nước uống, hàng ngày, Bùi Công Hành khảo sát kỹ thuật làm lọng, xem kỹ cách thêu. Sau đó, ông dùng lọng làm dù nhảy xuống đất an toàn. Quy trình ứng xử minh triết đó, được vua Minh khâm phục. Về nước, ông được vua Lê phong chức, đổi theo họ vua, thành Lê Công Hành, giúp dân dạy cách làm lọng và kỹ thuật thêu. Khi mất được truy tặng Thượng thư thái bảo lương quận công(4)
II. Minh triết ngoại giao thời Nguyễn Tây Sơn là phép biện chứng giữa ý thức tự chủ, tự cường và bang giao thân thiện với nước láng giềng: Điều này, chúng ta chứng kiến trong các chiếu, biểu, hịch, thơ, văn của vua Quang Trung và các nhà văn hóa lớn thời đại đó. Trong Biểu đòi lại bảy châu xứ Hưng Hóa gửi vua nhà Thanh mang văn phong nhã nhặn, lịch thiệp, nhưng lời lẽ, lập trường thì dứt khoát, để giành lại cương giới: “Chỉ vì nghĩ: cõi Nam bang đã được phân chia, nhận làm phên giậu, bốn phía có ranh giới, phía Tây Bắc tiếp giáp với ba phủ Lâm An, Quảng Nam, Khai Hóa của Trung Quốc…”(5) Tranh chấp là vậy, thế mà trong bài văn tế cô hồn các tướng sĩ của quân thua trận do Vũ Huy Tấn chấp bút với hai câu kết đầy lòng nhân đạo:
Lòng ta rộng thương người cõi Bắc, xuất của kho mà đắp mảnh xương tàn; Hồn bay đứng vơ vẩn trời Nam, rời đất khách về nơi quê cũ”.(6)
Chính sách văn hóa ngoại giao hòa hiếu không chỉ là sách lược, mà là bản chất của chế độ chính trị đương thời, không chỉ hướng ngoại, mà còn hướng nội. Chiếu hiểu dụ các quan văn võ cựu triều, Chiếu cầu hiền là những thông điệp ngoại giao mở, thu phục lòng người. Tư tưởng nhân nghĩa cùng với minh triết văn hóa ngoại giao của Quang Trung là chủ nghĩa nhân văn mới thế kỷ XVIII, không chỉ với Dân, làm cho Dân đời đời thái bình, mà còn là phương lược nhìn xa, trông rộng, không chủ quan, tự thỏa mãn, để ở bên cạnh nước lớn mà vẫn yên ổn. Không phải ngẫu nhiên mà vua Càn Long buộc phải ứng xử “mềm”, tôn trọng, bình đẳng với vua phương Nam. Hoàng Lê nhất thống chí kể lại rằng, tuy đã dẹp yên ở Bắc Hà, nhưng ở phía Nam vẫn chưa yên; vua Quang Trung giao việc binh cho Ngô Văn Sở, việc ngoại giao cho Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích. Hai vị đại thần được Càn Long cử là Hòa Khôn và Phúc An Khang bang giao với nước ta, đều là những kẻ “biết điều” hiểu được thế và lực của ta lúc này. Hòa Khôn thừa nhận: Từ xưa đến nay chưa có đời nào làm nên công trạng ở cõi Nam. Nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh rốt cuộc đều bị thua trận, gương ấy hãy còn rành rành”(7). Vua Thanh cho là lời nói phải, bèn giảng hòa. Giảng hòa, nhưng theo quốc lệ phải tiến cống lễ vật, dâng biểu với lời lẽ khiêm nhường làm vua Thanh hài lòng, rồi sai sứ thần sang phong cho Quang Trung làm An Nam quốc vương, ban thưởng rất hậu, mời vua Nam sang chầu. Để đảm bảo an toàn cho Quang Trung, Ngô Thì Nhậm nêu sáng kiến: cử quan võ Nguyễn Quang Thực, dáng mạo đoan trang, tư thế đỉnh đạc “giả” làm quốc vương cùng đoàn ngoại giao tháp tùng sang yết kiến vua Thanh. Khi “quốc vương” vào yết kiến, vua Thanh tiếp trọng đãi, dự yến tiệc cùng các vị thân vương, cho làm lễ “ôm gối” như tình cha - con. Trước lúc, “quốc vương” về nước, vua Thanh sai họa sĩ vẽ bức truyền thần chân dung Quang Trung, ân lễ rất trọng hậu, thật là cử chỉ đối đãi xưa nay hiếm. Ngoài ra, còn có nhiều chuyện tri ân tình nghĩa: Khi được tin thân mẫu vua Quang Trung ốm, tổng đốc Lưỡng Quảng đã thừa lệnh vua Thanh mang sâm sang biếu; được tin vua Nam từ trần đột ngột, nhiều vị đại thần, đại sứ nhà Thanh làm lễ tưởng niệm ghi công người anh hùng đã chinh phục quân xâm lược, người đã mở đầu sự bang giao giữa hai nước có sơn thủy tương liên, văn hóa tương đồng… Ngô Thì Nhậm đã ghi lại sự kiện nói trên trong bài thơ Vũ hành (Đi trong mưa): Nơi nhà tiếp khách chăng đèn kết hoa suốt đêm/ Sứ thần đang nỗi đau thương/ Từ chối dự cuộc vui/ Quan chức, trùng trùng đều ôm trán/ Ai ai cũng không quên Tiên vương ta.
III. Nét chấm phá văn hóa ngoại giao thời Nguyễn: Dưới thời Nguyễn, nhất là nửa đầu thế kỷ XIX, những quan lại cử đi sứ là những người có tài ngoại giao; sang nước lớn như nhà Minh, nhà Thanh triều cống hàng năm, sang nước đã thần phục triều Lê như Chiêm Thành. Có thể nói, đi sứ thời đó như đi vào “hang hùm, miệng sói” cần những đại thần vừa dũng cảm, mưu trí, vừa thông minh, khôn khéo. Những sứ giả dũng cảm, thông minh thường làm tăng uy tín và vị thế của triều đình. Bấy giờ không gian ngoại giao mở rộng các nước: Tiểu tây dương (bán đảo Ấn Độ), Singapore, Lữ Tống (Lucon), Quảng Đông, Ma Cao. Câu chuyện Lý Văn Phức được bổ nhiệm làm Hàn lâm biên tu, được triều đình cử làm trưởng phái đoàn sang Phúc Kiến trao trả nhóm quan lại nhà Thanh bị bão đánh giạt thuyền vào bờ biển nước ta. Khi sang tới địa điểm trao trả là sứ quán nước ta, thấy biển đề: Việt Nam di sứ quán. Phức nhất định không vào và nói: “Nước ta không phải là man di, nên ta không vào chỗ này”. Trước tình thế đó, buộc quan sở tại Hoàng Trạch xin lỗi, và sửa lại biển đề: Việt Nam quốc sứ quán, công quán. Xong việc, Lý Văn Phức mới tỏ thái độ thân thiện giao hữu và cao hứng làm bài thơ Di biện (biện luận chữ di), tương tự như bài Biện di của Vũ Huy Tấn. Trong chữ Hán, chữ di gồm chữ cung, bộ phận còn lại giống như chữ qua nghĩa là vũ khí, có ý nghĩa thách thức, nếu nước lớn coi thường các nước nhỏ, thì họ sẽ cầm vũ khí chống lại.
Nói đến ngoại giao thời Nguyễn, không thể không dừng lại ở một chấm son trong lịch sử cận đại, khi những quan điểm khác nhau giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa, việc bang giao với nước ngoài để mưu sống là cấp thiết, nhưng lựa chọn nước nào? Bối cảnh phức tạp đó nổi lên một vị đại thần - nhà thơ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874). Nỗi đau lớn nhất đối với ông cùng đồng sự là sự kiện mất sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay giặc Pháp, là biên cương bị chìm đắm… Không thể hòa không thể nhường, chỉ có bầu nhiệt huyết là chống Tây. Trong bài thơ Di quân thứ Đà Nẵng Đặng Huy Trứ tuyên bố: Ăn lộc, ta cùng lo việc lớn, Tính sao? Hòa, Chiến, giữ hay nhường (?!) Có người nghĩ đến nhờ nước Anh để đuổi thực dân Pháp. Nhưng Đặng Huy Trứ bác bỏ, vì chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, đón sói cửa sau”. Nhờ tư duy táo bạo đi trước thời đại, ông đã tìm cách mở mang công nghiệp, tiếp thu công nghệ phương Tây với mục đích giữ và dựng nước. Đó là hai chuyến đi Hương Cảng, Áo môn vào các nước năm 1865 và 1867 - 1886. Trong bài văn: Dã trì chủ nhân chỉ giáo, Đặng Huy Trứ đã nêu ý thức tự cường, tự trị của một số nước như Nhật đã sớm cử người sang London để học và mua chiến thuyền; Việt Nam cũng bắt đầu sang Hương Cảng học kỹ thuật, mua tàu bè, chủ trương mở xưởng đúc gang thép, huấn luyện quân sự cho nghĩa dũng, cử thanh niên tuấn tú sang các nước học tập, mời người phương Tây sang dạy ngôn ngữ, toán pháp, đồ họa, kỹ thuật, v.v… Thơ ông mang tính chiến đấu cao âm hưởng sử thi, cảm hứng chân tâm và quyền biến, nếu có lợi cho dân:
Muốn dân được lợi cần quyền biến.
Tội vạ riêng mang há sợ gì?!
Hoặc: tố cáo tội ác của những kẻ bất lương, tham nhũng của Dân của Nước Trâm bút phương tri, bút hữu quyền (cầm bút nên hay bút có quyền). Có một hiện tượng lạ trong văn hóa ngoại giao thời Nguyễn là trường hợp Nguyễn Du, vừa đảm chức sứ thần triều Nguyễn đi công cán sang Trung Hoa, vừa là nhà thơ với tập Bắc hành tạp lục (chữ Hán) gồm khoảng 130 bài thơ, nhờ cảm hứng dồi dào trên đường đi sứ. Thơ ông là một bức tranh hiện thực đa dạng: những hiện tượng văn hóa, những sự kiện lịch sử, những cảnh sắc núi sông hiểm trở những suy ngẫm về thế sự, và đặc biệt là cảnh cơ hàn của tầng lớp thảo dân, bần nữ, v.v… Trong bài Hoàng Sào binh mã, nhà thơ cảm nhận hành động nghĩa hiệp của một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa đời Đường ở một không gian rộng từ Giang Tây, Phúc Kiến đến tận Tràng An phía Bắc. Cuộc khởi nghĩa thất bại “lỡ nước, vì chưng tài lượng hẹp”, khen - chê là chuyện của lịch sử, nhưng đó là một dấu son trong tâm thức của nhà thơ lớn. Bài Hoàng hạc lâu được viết theo cảm hứng lãng mạn, mượn câu thơ nổi tiếng của Thôi Hạo: Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ; Thử địa không lưu Hoàng hạc lâu để nói lên tứ thơ: xứ thần tiên, dấu tiên ở bờ sông này, giấc mơ của anh học trò họ Lư, hạc bay, lầu vắng, chỉ còn lại thơ của Thôi Hạo. Nguyễn Du là sĩ phu tinh thông Hán học, am hiểu Bắc sử… nên chuyện liên tưởng, liên suy trong quá trình hành tung trên đất phương Bắc, thường ngậm ngùi chia sẻ với những tấn bi kịch trong lịch sử đời Đường. Mối tình ai oán giữa Đường Minh Hoàng với người đẹp Dương Quý Phi được Nguyễn Du đa sầu, đa cảm ghi lại trong bài thơ Dương phi cố lý, mặc dầu trong những tháng ngày đi sứ, ông chưa có điều kiện đến làng Hoàng Nông - quê Dương Phi, chưa một lần đến Mã Ngôi, nơi binh lính làm phản đòi giết anh họ Dương Phi, còn nàng bị thắt cổ oan nghiệt. Bài thơ là sản phẩm tinh thần của sức tưởng tượng, kết quả của ngọn lửa xanh cảm hứng. Bắc hành tạp lục chắc chắn đã gắn kết được tình yêu, tình hữu nghị với một nước lớn, bạn bè, bang giao có văn hóa tương đồng.
Khảo sát vài nét chấm phá văn hóa ngoại giao nước ta, chúng tôi nêu ra mấy chiêm nghiệm lịch sử, biết đâu, có thể gợi tư duy mở trong đường lối ngoại giao và hội nhập sâu vào thế giới hiện đại, theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đó là:
Thế kỷ XXI là thế kỷ mở: mở về tri thức, trí tuệ, văn hóa. Có nhà văn hóa dự báo: Tương lai sẽ không có lịch sử nhân loại nào khác lịch sử văn hóa. Ý niệm văn hóa và phát triển được coi là trung tâm của mọi hoạt động của con người. Văn hóa là cái còn lại sau những chu kỳ phát triển khác nhau, nhờ đó người ta phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác.
Trong quan hệ với các nước, văn hóa ngoại giao muốn mở rộng và đi vào chiều sâu, muốn hợp tác bền vững với các đối tác và chiến lược toàn diện, góp phần tạo thế và lực cho nước ta, điều quan trọng hàng đầu là bản lĩnh, tâm hồn, khí phách vừa là phương thức minh triết trong ứng xử, trong tiến - thoái, được - mất, cương - nhu, thắt - mở tránh tuyệt đối hóa về một cực.
Một vài chính khách nổi tiếng nước ngoài, ông W.J.Duiker cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao lớn, tận dụng mọi thời cơ để đạt được mục đích cách mạng không phải bằng quân sự, mà bằng ngoại giao, bằng văn hóa ứng xử; biến yếu điểm quân sự thành thế mạnh chính trị. Tướng Võ Nguyên Giáp cũng học được cách ngôn của binh pháp Tôn Tử cho rằng, chiến thắng thành công nhất là chiến thắng không dùng bạo lực. Điều đó có phần đúng, nhưng cần được nói thêm: Cuộc Cách mạng tháng Tám thành công phi thường, ngoạn mục, hiệp định Geneve về Đông Dương, Hiệp định Paris về Việt Nam là tổng hòa của thời cơ, vận nước, của sức mạnh chính trị và quân sự, của ngoại giao và văn hóa, vừa đánh vừa đàm, vừa xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân, vừa dang rộng vòng tay thương thuyết… Đó chính là phép biện chứng, là minh triết của binh pháp truyền thống để giữ Nước, giữ Dân là những bài học cho văn hóa ngoại giao hiện đại.
H.S.V
________
Dịch nghĩa theo Từ điển tiếng Việt: (1) Minh triết chứ không phải là triết học, triết lý. Thuật ngữ này bắt nguồn từ trong bài thơ Chung dân (phần Đại nhã của Kinh thi: Ký minh, thả triết, dĩ bảo kỳ thân. Minh là sáng suốt về ý nghĩa, rạch ròi về lý luận, triết là ứng xử chu đáo, khôn ngoan; Bảo thân là theo đại nghĩa mà giữ thân, không chạy theo vụ lợi, né tránh việc khó để nhàn thân./.
(2) Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2000, tr. 369
(3),(4) Xem: Yên Giang: Tìm hiểu làng thêu Quất Động; Một số vấn đề văn hiến Hà Tây (Truyền thống - hiện đại); Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây xuất bản, 2004, tr. 185
(5),(6) Văn học Tây Sơn, Sở văn hóa Nghĩa Bình xuất bản, Gs. Nguyễn Lộc tuyển chọn, tr. 1, 7, 50
(7) Sđd, tr. 331









