|
T |
rong xã hội ta hôm nay, thường có một thiên kiến dai dẳng: Tuổi trẻ đồng nghĩa với sự non dại, non dại đến độ vấp ngã. Một bộ phận cha anh thường nhìn họ với cặp mắt hoài nghi và tâm trạng bất an. Đó là một sự thật, dù nghiệt ngã. Thế mà trong văn học, tình hình lại khác. Hầu hết các tác phẩm của các nhà văn bậc thầy đều được sáng tạo ở tuổi 25 – 35. Ma lực sáng tạo, điện năng văn chương của họ hình như được tích tụ và phát sáng ở thập nhiên đầu tiên của nghề cầm bút. Ở nước ta cũng có tình hình tương tự. Các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đàn, Thơ mới đều là những nhà sáng tạo ở tuổi đôi mươi. Những bạn cầm bút trẻ măng đi vào hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc về sau trở thành nhà văn nổi tiếng để lại không ít những trang viết tài hoa, rõ rệt nhất là các nhà văn – chiến sĩ – liệt sĩ: Nam Cao, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, Nguyễn Trọng Định, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Thi và nhiều tên tuổi khác. Có nhiều chuyện để nói về nghề văn và người viết trẻ. Nhưng người viết bài này cũng lượng sức, chỉ xin nêu những điểm nóng của thực trạng văn học những năm gần đâu.
I – Nuôi dưỡng và đam mê một lý tưởng xã hội tiên tiến:
Nghề văn là nghề sáng tạo. Muốn có sức sáng tạo dồi dào trước hết phải có tài đã đành, nhưng trước đó nữa, người viết phải có một lý tưởng xã hội. Lâu nay, nói đến lý tưởng xã hội người ta có thói quen đặt phạm trù này trùng khít với ý thức hệ, cho nên nó vừa hẹp, vừa khiêm cưỡng. Làm như lý tưởng xã hội là một cái gì khác bên ngoài, do áp lực bên trên áp đặt cho nhà văn. Điều đó dễ làm cho người vết trẻ lo ngại. Thật ra, lý tưởng xã hội là cái nằm trong bầu máu nóng của chúng ta, là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của đời sống con người. Ở đây, ở nhà văn trẻ, là viết cho ai? Viết để làm gì? Hai câu hỏi giản dị đó nhưng chưa bao giờ có câu trả lời suôn sẻ của một đời văn, cả đối với những nhà văn ở chặng đường đầu cũng như đối với những nhà văn lão thành. Bởi vì đã dấn thân vào nghề văn mà chỉ coi văn học là nghề kiếm tiến hoặc là phương tiện tiến thân trên con đường chính trị là nhà văn hỏng ngay từ đầu và sa sút uy tín lúc nào không biết. Nghề văn cũng như nghề làm việc thiện, vì nó có thể cứu rỗi tâm hồn nhiều người, có khi hàng triệu người. Các nhà kinh điển gọi nhà văn là “Kỹ sư tâm hồn” là vì vậy. Đối với người viết trẻ, lý tưởng chính trị. Để hình thành lý tưởng nghề nghiệp thì trong ba điều bất hủ của một đời văn, lập đức được gọi là hàng đầu, rồi mới đến lập công và lập ngôn. Không phải vô cớ mà các cụ ta ngày trước thường coi văn chương là sự nghiệp nghìn đời (Văn chương thiên cổ sự), trong văn phải có đạo; đạo ở đây nên hiểu là nội dung, cái ý để nói với đời, đẻ khuyên điều hay, răn điều dữ. Về sau, Bác Hồ nói chính tâm và thân dâni của người trí thức, trong đó có văn nghệ sĩ đối với nhân dân mình cũng có ý nghĩa của chữ đạo. Không phải vì đạo mà làm nghèo văn chương như một số người nghĩ. Có đạo, có nội dung thì văn chương thịnh, phát đạt, ngược lại thì văn chương suy, hỗn loạn. Trong triết học phương Đông, trong bốn điều dạy của Khổng Tử thì đức hạnh là hàng đầu rồi mới đến ngôn ngữ, chính sự và văn học. Đời nhà Đường giai cấp thống trị khi dùng kẻ sĩ cũng cọi trọng đức hạnh trước, văn nghệ sau. Nhắc lại như vậy để nói rằng, sự tự do sáng tạo nào cũng bị chi phối bởi cái tất yếu, cũng bị ràng buộc bởi cái nguyên tắc thống trị nhất đinh, chứ không thể có sự tự do nói người, đa ngôn, loạn ngôn như một số ít bài viết những năm gần đây. Họ có nhiều cách nói, lúc cao ngọa, lúc ngậm ngùi, nhưng tựu trung là trách cứ chê bai một tổ chức nào đó, người nào đó đã chính trị hóa nghệ thuật không hiểu đặc trưng nghệ thuật. Những câu “Cô đơn vốn là bản chất của nghệ sĩ bởi nó đi tìm cái tuyệt đối, bởi nó không dành cho số đông…”, “Đọc nhau, xem nhau, nghe nhau bằng nguyên lý là sự đoc, sự xem, sự nghe máy móc nhất là vô duyên nhất vì đánh mất con người nhiều nhất. Nguyên lý còn che dậy những bất lực về rung cảm nghệ thuật…”. Còn câu sau đây là hai lần chưa đúng: “Thực ra văn học không phải là cuộc đời, mà là ảo ảnh của cuộc đời”. Nếu ảo ảnh là hình ảnh giống như thật, nhưng không có thật, thì văn học (bao gồm cả hình thái ý thức, tác phẩm, thể loại…). Không phải như vậy. Là hình thái ý thức xã hội, văn học bắt nguồn từ đời sống, tự nhiên trong bản chất của nó mang tính thực tiễn, hoạt động của nó có tác động mạnh mẽ đối với ý thức và tư tưởng của xã hội. Như vậy văn học là cuộc sống. Còn với tư cách là tác phẩm, thì văn học cũng không phải là ảo ảnh của cuộc đời mà là cuộc đời thật, sôi động, đầy mâu thuẫn. Những tác phẩm có tính chất tuyên ngôn, mang phong cách văn chương như Hịch tướng sĩ, Bình ngô đại cáo, Hịch Tây Sơn, Tuyên ngôn độc lập, những tác phẩm thuộc thể loại ký, hầu hết các tác phẩm của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh THúc Kháng, thơ văn Hồ Chí Minh, thơ Sóng Hồng, Tố Hữu, Trần Huy Liệu, Xuân Thủy. v.v… là cuộc sống một trăm phần trăm, những cuộc đời có lý tưởng cao đẹp, có chiều rộng của non sông, và chiều cao của nền văn hiến Việt Nam. Còn các thể loại như tiểu thuyết, trường ca, thơ trữ tình, thậm chí thơ ngâm ngợi riêng tư thì bản chất và nội dung của chúng cũng là cuộc sống, được các nhà văn sử dụng bằng nhiều biện pháp nghệ thuật và phương thức mieue tả: tả thần và tả thực, phóng to và thu nhỏ, biến cái hữu hạn thành cái vô hạn, lấy cái hư để nói cái thực.v.v… tất cả đều là từ cuộc sống mà có.
Để đạt tới lý tưởng xã hội tiên tiến mà nhà văn ấp ủ, cần có sự thôi thúc của con tim, sự sưởi ấm ngọn lửa bên trong được coi là động lực của sáng tạo. Cũng như mọi nguồn sản suất hàng hóa khác, người sáng tạo văn chương cần viết những cái mà xã hội cần, chứng không phải viết cái mình có. Muốn vậy cần nuôi dưỡng tình yêu nồng cháy đối với cái Đẹp, cái Thiện, lòng căm thù sâu sắc đối với những hiện tượng suy thoái trong xã hội, trước hết là tệ quan liêu, nạn tham nhũng đang là “quốc nạn”. Tất cả điều vừa nói là tính đảng của người viết. Nhiều người sợ nói tính đảng có thu hẹp sách lược cách mạng? Có lamg phương hại đặc trưng nghệ thuật?. Tôi nghĩ khác, trước đây ta thương coi tính đảng với nội dung tư tưởng của tác phẩm là một, đặt tính đảng chồng khít với ý thức hệ. Trong quá trình truyền bá, giáo dục ở nhà trường cho tới các diễn đàn, trên sách báo, tính đảng được coi như một nguyên tắc bất di bất dịch, áp đặt từ bên trên đối với nhà văn, nhà báo. Hiểu tính đảng như vậy là trái với tinh thần của V.I. Lênin. Chúng ta biết rằng, chính Lênin là người dùng tính đảng tư sản và khen ngợi những nhà văn bạch vệ, những nhà triết học tư sản đã miêu tả một cách trung thực thực tế tư bản chủ nghĩa, những mâu thuẫn trong nội bộ, phe nhóm của họ, về khách quan là có lợi cho giai cấp công nhân. Vả lại, tính đảng là phạm trù động, nó được phát triển tùy theo đối tượng miêu tả và thời điểm lịch sử mà nhà văn miêu tả… Tính đảng là một thuật ngữ khoa học, đẹp, sang trọng cần được tiếp nhận một cách tự nguyện cho sáng tạo văn nghệ, nhất là những người viết trẻ.
II – Đọc muôn quyển sách, đi muôn dặm trường:
Cha ông ta thường dạy: “Bản chất của văn chương vốn từ học vấn mà ra; học vấn uyên bác thì viết văn mới hay. Có lẽ đâu văn chương lại làm cho người ta kiêu căng!?”. Câu này là của Lê Quý Đôn (1726 - 1784) được trích từ Vân đài loạn ngữ(1) Những bậc thức giả sau cụ, cũng có những đoạn di huấn tương tự. Phan Huy Chú (1782 - 1840) nói đại ý: Để có thể vừa làm nhà trước tác vừa là nhà thơ thì phải có đủ cái uyên bác, lại có cả nguồn cảm hứng bay bổng… Còn Nhữ Bá Sĩ (1788 - 1867) thì coi “đức hạnh, học thức là cái gốc của văn chương”2. Xem vây thì việc đọc muôn quyển sách là quan trọng biết chừng nào! Người ta thường nói: đọc nhiều, biết mười, viết một. M.Gorki thường rất quan tâm tới những người viết trẻ, một trong những điều ông thường nhắc họ là chuyện học thức. Nhà văn lão thành không chỉ khuyên họ phải đọc nhiều, hiểu rộng, mà còn thẳng thắn chỉ ra vật cản trên con đường sáng tạo của các bạn trẻ là: học thức kém cỏi, nhưng lòng tự mãn lớn lao; khát vọng tri thức ở họ ít phát triển; “chủ nghĩa sinh hoạt” vặt vãnh lấn át tiềm năng trí tuệ. Khác với người đọc bình thường, nhà văn cần đọc tất cả: sách hay và sách chưa hay, thậm chí sách dở, tiểu thuyết “vỉa hè”, bởi chúng cũng có ích để hiểu toàn diện chân thật mặt trái cũng như mặt phải của cuộc đời. Để hiểu rõ triết học Mác cần mở rộng tri thức cá triết thuyết Mác, phi Mác, các kinh Vệ đà của Phật giáo, Cựu ước, Tân ước của Cơ đốc giáo v.v… bởi lịch sử tri thức nhân loại chưa bao giờ chia cắt giữa triết học, nghệ thuật và tôn giáo. Ở đó có sự bất phân, sự quan hệ đan nguyên vào nhau. Nho giáo, Phật gióa, tín ngưỡng dân gian rõ ràng để lại dấu vết trong nhiều bài thơ, trong nhiều áng văn thời cổ trung đại. Người xưa đã biết vận dụng vẻ đẹp, cốt cách tự nhiên để làm biểu tượng cho nghệ thuật miêu tả của mình: Hổ, Báo tượng trưng cho quyền uy; Tùng, Bách nói lên lòng ngay thẳng, mây khói để thể hiện sự uyển chuyển; liễu yếu, đào tơ tượng trưng cho những thiếu nữ đài các, kiều diễm v.v…
Đã đọc muôn quyển sách là phải đi muôn dặm trường. Nền văn học hiện đại của chúng ta có truyền thống đẹp của những chuyến đi: Những nhà văn tay cầm bút, tay cầm súng mang ba lô ra mặt trận năm nào cùng với bộ đội, dân công trong hai cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khẩu hiệu “đến những nơi tiên tiến sống giữa những người tiên tiến” của Đảng có tác dụng động viên hàng trăm người viết ở các lứa tuổi khác nhau đến những nơi mũi nhọn, cuộc sống lao động của hàng triệu người. Tôi nghĩ, nên phục hồi lại cách đi vào đời sống hiện đại hóa, công nghệ hóa với nhiều phương thức khác nhau. Gần đây có những chuyến khảo sắt văn hóa xuyên việt cũng là kinh nghiệm hay. Cách đi của những người viết trẻ cũng cần được Hội Nhà văn đúc rút kinh nghiệm. Ghi chép, lấy tài liệu, tiếp xúc với các nhân vật hình mẫu, quan sát, so sánh, bình giá v.v… là những công đoạn của một quá trình đến với “dặm trường”. Nhưng nếu không mài sắc khả năng quan sát hiện thực, không có sức tưởng tượng, ức đoán, khả năng trực giác, thiếu đi sức khái quát, và sự chộp lấy “sức đẩy của hình thức” thì sau cùng những trang viết chỉ còn lại là những tài liệu báo chí. Người xưa viết: “Cái tư chất của bậc thượng trí, bên trong thì lớn lao, bên ngoài thì rực rỡ, chạm vào nơi nào thì tứ văn nảy sinh ra nơi ấy: là hoa cỏ của hóa công, là khói sóng của biển lớn, có thể gọi là gạn lọc điều chưa chất trong lòng mà viết nên văn”(3). Cái tư chất biết gạn lọc ấy ngày nay chúng ta gọi là khả năng khái quát hóa, điển hình hóa.
III – Không có cơ sở triết – mỹ, người viết trẻ khó đi xa…
Có lần, trong cuộc tiếp chuyện với chúng tôi, nhà thơ Tố Hữu nói, làm tuyên huấn mà không biết văn học, nghệ thuật là uổng lắm, là khó thành công. Còn trước đó rất lâu, trong nhiều điều tâm sự với nhà văn mới vào nghề, M. Gorki đã phân biệt cho họ rõ người thợ văn, và nhà văn. Người thứ nhất quan tâm đến sự kiện, nhân vật, ngôn ngữ; còn người thứ hai thì phấn đấu để có tâm lý sự kiện, thân phận con người, tính đa nghĩa, đa thanh của ngôn ngữ. Kỹ thuật viết văn là ở đó. Hai thời gian và không gian khác nhau, nhưng hai nghệ sĩ lớn thường đều gặp nhau ở chỗ, làm nghề gì cũng phải sáng tạo, nghề văn còn hơn thế, phải có kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật. Điểm tựa để hoàn thiện kỹ năng, kỹ thuật văn chương là trình độ tư duy khái quát, trình độ triết học – mỹ học, các khuynh hướng triết – mỹ được áp dụng vào Việt
Tuy vậy, bơi trong biển triết – mỹ mênh mông phải lượng sức mình. Vẫn là chuyện biết thì thưa thốt, còn chưa biết thì phải có cách học, nhất là đối với những người viết trẻ. Đừng biến chuyến đi tìm kiến thức thành chuyện sờ voi trong dân gian. Hơn một năm gần đây, báo Văn nghệ và cả một chương trình “Ấn tượng 99” của Ban Văn nghệ Đài truyền hình Việt Nam có thiện ý đem trao đổi bài thơ Hư vô của Xuân Diệu. Hai phía đều là những nhà văn có tên tuổi rất công phu, hăng hái và tốn khá nhiều giấy bút. Nhưng thật ra chân lý nằm ở sự lãng quên tri thức lý luận nghệ thuật. Đó là yếu tố phi lý tính trong thơ. Hai tay chín móng bấu vào đời… Mời móng bấu vào đời còn chưa ăn ai nữa là chín! Bắt nguồn từ ngạ ngữ “Chín đợi, mười chờ!” Giản dị vậy thôi?. Một ví dụ khác. Trong phê bình văn học mấy năm gần đây vẫn chưa khắc phục được hiện tượng đánh giá cực đoan, tuyệt đối hóa đối tượng khảo sát của mình; bất lợi hơn là đề cao phương pháp này, nhóm người này, trong lúc đó lại hạ thấp phương pháp khác, nhòm người khác, mà thực chất là tự đề cao mình. Vi như chuyện coi thi pháp học là xu hướng phê bình “tuyệt thế giai nhân” so với các khuynh hướng phê bình khoa học kể cả phê bình Mác – xít, bình giảng văn học. Nào là nhà thi pháp học lấy văn bản nghệ thuật làm đối tượng chính để phân tích và suy tư, không bao giờ tách nội dung và hình thức ra làm hai phần. Nào là tác phẩm văn học là sự thể hiện cái gì khác “ở ngoài nó”, một chỉnh thể nhiều tầng bậc, một siêu văn bản có quan hệ với các siêu văn bạn khác vân vân và vân vân. Thật rắc rối quá! Nếu ai ít đọc thì dễ rợn ngợp trước những dòng chữ vốn được chép lại từ trong các tập chuyên khảo hoặc từ điển nước ngoài. Thật ra cái gì cũng có mặt trái của nó. Ở ta, một số nhà nghiên cứu có điều kiện theo đuổi phương pháp ký hiệu học, thi pháp học, trong đó có giáo sự Hồ Tôn Trinh có trình độ, ngoại ngữ giỏi, đã từng sang Mỹ nhiều lần để nghiên cứu ứng dụng có trình độ ngoại ngữ giỏi, đã từng sang Mỹ nhiều lần để nghiên cứu ứng dụng vào thơ và ca dao tục ngữ Việt Nam. Nhưng ông cũng tự nhận là mới có kết quả bước đầu. Nhiều năm gần đây ở Tây Âu, để nghiên cứu tác phẩm văn học một cách toàn diện người ta đã tìm đến với các nhà khoa học tiếp cận: tâm lý học, xã hội học, quang học, lý thuất thông tin, thi pháp ký hiệu học, cấu trúc học… Mục đích của xu hướng nghiên cứu này là nhằm đổi mới việc nghiên cứu văn học, trả lại cho cấu trúc tác phẩm văn học những yếu tố bị lãng quên, bị coi nhẹ hoặc những vùng tiềm năng sáng tạo của nhà văn. Theo quan niệm của thi pháp ký hiệu học thì thơ là dây chuyền tạo nghĩa, có bề nổi và bề chìm, có ngôn ngữ mô phỏng và ngôn ngữ nội hàm, có cái cụ thể và cái trừu tượng, cái nói ra và cái ẩn kín. Đọc sách là tiếp xúc với văn bản, đứng về góc độ ký hiệu học thì văn bản mang nhiều tầng, lớp có liên quan tới những tầng lớp của hiện thực đời sống. Qua sự vận động tạo nghĩa trong văn bản có thể hiểu được những hiện tượng thực tiễn mà nó biểu hiện. Theo tác giả cuối Từ ký hiệu học đến thi pháp học thì “đọc thơ vừa là công việc hết sức đơn giản mà cũng là một công việc hết sức phức tạp khi nó yêu cầu tính khoa học tức là đọc thơ theo quan điểm thì pháp học”(6). Nó phức tạp nhưng hiểu được, có hiểu được mới thấy bổ ích và lý thú. Hiểu được, bởi vì ngôn ngữ dù được xem như bộ mã, nó vẫn được phát triển theo thư duy con người. Trong đời sống có nhiều phương thức giao tiếp, con người cũng nghĩ ra nhiều mã được xếp thành ba loại: mã loogic, mà thẩm mỹ và mã xã hội(7). Trong văn học “xúc cảm chủ quan”, “cảm thụ cá nhân” là một loại văn học chỉ là một phương thức trong quá trình khảo sát tác phẩm đưa lại bổ ích, thú vị trên vài phương diện nào đó. Mọi chuyện ở đời đều có mặt trái, mặt bất cập. Mỗi lý thuất là một ô cửa sổ cỏn con chỉ nhìn được một khoảng trời nho nhỏ. Lý thuyết thi pháp cũng vậy thôi, tránh thần bí hóa.
Sự chuyển hóa giữa các yếu tố động để bổ sung làm giàu tri thức, kỹ thuật cho nhau giữa các phương pháp là quy luật phát triển của khoa học. Phương pháp phê bình mác – xít không nằm ngoài thông lệ. Bản thân nó có thể có những hạn chế, nhất là khi vận dụng. Hạn chế thì khắc phục, thậm chí sai thì sửa, chứ vai trò chủ lưu và vị trí hàng đầu của khuynh hướng phê bình mác – xít (bao gồm cả đội ngũ lẫn phương pháp) trong đời sống văn nghệ thế kỷ XX là không ai có thể chối cãi được.
H.S.V
__________________________
(1) Từ trong di sản… NXB Tác phẩm mới, 1988. tr.100
(2), (3) Sách đã dẫn. tr. 147
(4) Sách đã dẫn. tr. 135
(5) Sách đã dẫn. tr. 167
(6) và (7) Hoàng Trinh: Từ ký hiệu học đến thi pháp học. NXB Khoa học xã hội, 1992. tr 57, 58, 145









