|
N |
hà thơ Tố Hữu từng nhiều lần gọi tên quê hương xứ Huế trong thơ mình. Nhưng dường như từ trong thẳm sâu tâm hồn ông, hai tiếng Trị - Thiên gần gũi như là quê chung. Tháng 8 năm 1954, trong bài Ta đi tới, nhà thơ tự bạch:
Ai về với quê hương ta tha thiết
Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng...
Không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu tự nhận như vậy. Cuộc đời cách mạng và sáng tạo thi ca của ông có những gắn bó sâu sắc với vùng đất Quảng Trị "khói lửa" trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, là "tuyến lửa" khốc liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ dằng dặc hơn hai mươi năm trường. Giữa năm 1938, khi mới 18 tuổi, nhà thơ đã tới Lao Bảo với những "đèo cao vút", "đá uy nghiêm", "rừng sâu u ám" chìm khuất trong "lau xám", "trời tro" đến "tê tái cả hồn thơ!". Thế nhưng đọng lại trong thơ không hề là cảnh hãi hùng của chốn "rừng thiêng nước độc" mà là số phận khốn khổ của bao chiến sĩ bị vùi thân dưới gông cùm đế quốc:
Là nơi đây, nấm mồ bao khối não
Là nơi đây, huyết ứ bao lời than!
Là nơi đây pháp trường thân chiến sĩ
Nát bầm da quằn quại, là nơi đây
Roi đế quốc, báng súng trường quất xé
Thịt hy sinh của những kiếp đi đày!
(Lao Bảo)
Thế rồi, cũng như nhiều chiến sĩ cách mạng khác, nhà thơ Tố Hữu cũng trở thành tù nhân "Giữa miền địa ngục trần gian ấy - ôi đã hy sinh biết mấy đầu!" (Năm xưa). Tháng 9-1940, ông bị thực dân chuyển từ lao Thừa Phủ ra nhà đày Lao Bảo. Và chính nơi đây, tuy phải "Thân đày xích sắt nặng còng tay", cuộc chiến đấu với thực dân đã giúp nhà thơ "Lòng không muốn khóc rên than nữa" bởi "Đau đớn làm tôi hóa dạn dày" (Năm xưa). Tố Hữu bị thực dân giam cầm ở đây cho đến đầu năm 1941 thì chuyển lên nhà tù Buôn Ma Thuột. Mấy tháng mùa mưa "Một mình trơ trọi giữa phòng xà lim" (Đông) đã để lại trong tập Từ ấy của nhà thơ 6 bài, trong đó có những bài sẽ sống mãi với sự nghiệp thơ ca cách mạng của ông, như Trăn trối, Con cá chột nưa... Nhiều câu thơ của nhà thơ hai mươi tuổi vang vọng mãi trong tâm hồn và trái tim của hàng triệu người Việt Nam từng nếm trải lao tù, mất mát, hy sinh quyết tranh đấu để giành lấy tự do cho dân tộc:
Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ, súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa
- Sống đã vì cách mạng, anh em ta
Chết cũng vì cách mạng, chẳng phiền hà!
(Trăn trối)
Từ đó, cái tên Lao Bảo trong thơ Tố Hữu trở thành biểu tượng của một dân tộc bất khuất vùng lên phá xiềng gông bạo lực của chủ nghĩa thực dân. Cái tên ấy từng ám ảnh khôn nguôi tâm hồn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh những ngày Người bôn ba khắp năm châu để "tìm hình của nước": "Khủng bố trắng. Máu đầm mặt đất - chật Côn Lôn, Lao Bảo, Sơn La..." (Theo chân Bác). Tháng 8-1958, trước điện Kremlin uy nghi của nước Nga hùng vĩ, nhà thơ không quên gợi nhớ con đường đến với tự do đầy chông gai, lao tù của dân tộc Việt Nam:
Từ những ngày xưa đói cơm rách áo
Từ bóng tối xà lim Côn Đảo
Ban Mê, Lao Bảo, Sơn La
(Trước Kremlin)
Từ "ngọn nguồn" Lao Bảo ấy, đất và người Quảng Trị đã đi vào thơ ca của Tố Hữu một cách trân trọng và đầy yêu thương trên những chặng đường cách mạng. Năm 1973, ông viết trường ca Nước non ngàn dặm sau chuyến đi công tác miền Nam. Không nơi nào được ông nhắc tới nhiều địa danh như Quảng Trị: Bến Hải, Hiền Lương, Do Linh, Dốc Miếu, Quán Ngang, Cửa Việt, Ái Tử, Đông Hà, Thạch Hãn, Khe Sanh, Lao Bảo... Hình ảnh Quảng Trị trong bài thơ được khắc họa thật sinh động, xứng đáng với tầm vóc của một vùng đất chiến tuyến đầy máu lửa, hy sinh và xiết bao anh hùng vì đại nghĩa:
- Xe lên đường chín cheo leo
Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau
Cây khô, chết chẳng nghiêng đầu
Nghìn tay than cháy rạch màu trời xanh
- Chợt nghe... từ tuổi hai mươi
Tiếng xiềng Lao Bảo gọi người bạn xưa
Ngỡ ngàng rẽ lối le thưa
Vông đồng mấy cội, xác xơ lá cành
Hoang tàn hầm đá, đồn canh
Bâng khuâng nhớ bóng các anh những ngày!
Nhìn quanh, núi đứng mây bay
Võng anh Giải phóng, rừng lay nắng chiều...
Thương nhau đừng khóc em yêu
Tự do, phải trả bao nhiêu máu này!
Tám mươi tuổi (năm 2000) "Vẫn còn ăn nói ngâm nga - còn lo việc nước, việc nhà, buồn vui" nhà thơ Tố Hữu có một chùm thơ viết về Quảng Trị. Ông thành kính và trầm tư trước những di tích từng in dấu những trang sử oai hùng không chỉ của riêng đồng bào Quảng Trị mà còn là niềm tự hào chung của cả dân tộc: Nghĩa trang Trường Sơn, Đường Chín, Vĩnh Linh, Vịnh Mốc, Cồn Cỏ, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải... Ông lặng nghe gió thổi qua nghĩa trang mà ngỡ "Tưởng quân đi, rầm rập chiến trường". Ông nhớ Đường Chín năm 1971 "Sắc lưỡi gươm thần - đạp xác giặc, quân ra tiền tuyến". Ông thao thức không ngủ, ngắm nhìn vùng đồi Vĩnh Linh lũy thép mà hình dung tới tầm vóc sức mạnh bất diệt của cả dân tộc:
Lạ thay, đất nước mình
Không trường thành vạn lý
Một vùng đồi thanh bình
Vững hơn bao chiến lũy
(Đêm Vĩnh Linh)
Ấn tượng về bản anh hùng ca của đất nước và con người Quảng Trị trong ông thật mạnh mẽ, sâu sắc.
Trong di sản thi ca 284 bài, suốt từ tập thơ đầu tay Từ ấy (1937-1946); qua Việt Bắc (1946-1954), Gió lộng (1955-1961), Ra trận (1962-1971), Máu và hoa (1972-1977); đến Một tiếng đờn (1979-1992), Ta với ta (1993-2002) (Theo: Thơ Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002), nhà thơ Tố Hữu có ba bài viết riêng về hai danh nhân Quảng Trị thời hiện đại: nhà thơ Chế Lan Viên và Tổng Bí thư Lê Duẩn. Ông viết với một tình cảm yêu quý chân thành và sâu nặng.
Tố Hữu đánh giá rất cao tài năng và đóng góp lớn lao đối với nền thơ ca dân tộc của Chế Lan Viên: "Mai sau những cánh đồng thơ lớn - chắc có tro Anh bón sắc hồng" (Hôn anh). Ông như tâm tình với hương hồn nhà thơ khi về viếng giỗ đầu của bạn tháng 6-1990 với sự chia sẻ những buồn vui cuộc đời của người tri âm tri kỷ:
Thương Anh, biết mấy là thương
Một đời thơ những vấn vương lẽ đời...
Mất còn, thôi thế, Chế ơi!
Tĩnh Viên mà động lòng người nghìn năm
(Nhớ Chế Lan Viên)
Với Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhà thơ Tố Hữu dành một tình cảm đặc biệt, bởi ông coi đồng chí Lê Duẩn không chỉ là nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng mà còn là một người anh dìu dắt mình trên bước đường đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước sau hòa bình, thống nhất. Tháng 4-1987, ông viết bài Nhớ về Anh, nhân kỷ niệm 80 năm ngày sinh đồng chí Lê Duẩn và cũng chuẩn bị tròn một năm ngày đồng chí đi xa. Nhớ về Anh thực sự là một bài thơ tổng kết cuộc đời cách mạng đầy gian lao và cống hiến của Tổng Bí thư Lê Duẩn đối với dân, với nước. Từ người con của làng nghèo chợ Sãi "Xác xơ mấy túp lều tranh - nóng bỏng cát đồi Triệu Hải - bữa cháo bữa rau, đùm bọc nhau lá rách lá lành", đồng chí Lê Duẩn đã tìm đến với cách mạng "Lòng vẫn đậm - tình thương và lẽ phải". Chính tình thương và lẽ phải sâu đậm ấy gặp ánh sáng của lý tưởng cách mạng đã giúp Lê Duẩn say đắm chiến đấu cho chân lý tự do và hạnh phúc dân tộc: "Âm thầm - ra Bắc vào
Qua giông tố
Vững tay chèo lái
Trắng đen, phải trái
Dạ thẳng ngay, không nay bán mai cầm
Một đời Anh
Thanh thản lương tâm
Cho đến đêm hè nay
Hồ Tây, thơm ngát sen đầm
Anh nhắm mắt
Mà như vẫn trầm ngâm, suy tưởng...
Bởi vậy, với nhà thơ Tố Hữu, đồng chí Lê Duẩn là "Cánh đại bàng Việt Nam" mà tên tuổi sẽ trường tồn với vẻ đẹp và sức sống của đất nước, của dân tộc:
Anh vẫn sống
Một cuộc đời
Thanh cao
Sôi động
Như Trường Sơn
Mãi mãi tươi xanh
Như Biển Đông
Ào ào dậy sóng.
Nhìn lại, dẫu viết về đất và người Quảng Trị chủ yếu dưới góc nhìn chiến tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ, nhưng những vần thơ của Tố Hữu vẫn luôn ngân lên sự đằm thắm, thiết tha như tâm tình với quê hương. Có lẽ, cội nguồn tạo nên chất thơ ấy là ở chỗ nhà thơ luôn tri ân về một vùng quê hương miền Trung phải chịu nhiều mất mát, hy sinh trong cuộc trường chinh đến bến bờ độc lập của dân tộc; và đã có những dâng hiến thầm lặng, lớn lao đối với lịch sử mà hậu thế mãi mãi không thể nào quên.
N.D.T









