Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Nhất tự vi sư ...

V

ốn tôn sư trọng đạo, người Việt Nam thường nói “Nhất tự vi sư bán tự vi sư” ý nói. “Một chữ là thầy nửa chữ cũng là thầy” hoặc “ (ai dạy mình) một nghĩa: “dạy - hoặc hơn ai - một chữ cũng là thầy người ấy”… Nhưng có lúc hàm ý câu này sâu sắc và khiêm tốn hơn.

Ngoài “nhất một” và “sư người thầy” mỗi tiếng còn lại trong câu nói trên đều có thể hiểu bằng các ý khác nhau. Riêng từ “Chữ” ở tiếng Việt cũng đã nhiều nghĩa, chữ là:

- Hệ thống ký hiệu bằng đường nét để ghi tiếng nói.

- Đơn vị ký hiệu trong một hệ thống chữ viết

- Tên thường gọi của âm tiết (câu thơ bốn chữ)

- Lối viết,(chữ viết đẹp, chữ gà bới)

- Kiến thức văn hoá (muốn con hay chữ)

- Nội dung một khái niệm, một đề tài về đạo đức, tinh thần, tâm lý đã xác định (chữ tinh, chữ hiếu, trung)

- Lời xưa truyền lại (sách có chữ rằng)

Chữ “còn là tên gọi của “từ - đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất và có ý nghĩa hoàn chỉnh”, có thể dùng “một chữ” để giao tiếp nhưng “nửa chữ” thì khó, bởi vậy cũng có nhiều thắc mắc khi nghe “nửa chữ là thầy”.

Ba trong mười chữ “vi” ở hán ngữ có thể coi là có vấn đề nếu ghép với “sư” (đó là “vi làm’, “vi nơi thi” và “vi- lỗi”), làm cho việc giải của hai tiếng “vi sư” trở nên khó thống nhất và ý của “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” vì thế càng phong phú. Do đó, ngoài cách hiểu thông thường trên, khi nghe “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” người ta có thể hiểu:

(Qua) một chữ (cũng) làm (tăng uy tín của) thầy

(Qua) một chữ (cũng) làm (giảm uy tín của) thầy

Một chữ (của trò viết tốt) cũng có công của thầy

Một chữ (của trò viết sai) cũng có công của thầy

Một chữ cũng là nơi (học trò của) các thầy thi thố

Một chữ cũng là nơi thể hiện tài đức của các thầy.

Tự điển Hán Việt đầu tiên của người Việt Nam (tam thiên tự) giới thiệu sáu  chữ “vi” nói trên  là “faire” (làm, làm ra, làm nên, chế tạo, tạo ra, thành ra), người Anh  cũng dùng “make” mà không dùng “do”, product” hay “become”. Có lẽ vì ưa nói gọn (“làm nên thành “làm”) mà “làm nên thầy” đã trở thành “làm thầy”, và còn do sự gần âm giữa “làm “với “là” nên tiếng “là” được dùng thay “làm” và cuối cùng “làm thầy” trờ thành “thầy”. Hiện tượng dùng “là’ thay “làm” thường gặp trong tiếng Việt (như nói “là anh phải nhường em” thay cho “làm anh phải nhường em”) nhưng có khi cách nói  ấy cũng không dễ hiểu như “làm nên người rất khó” có thể là “làm người rất khó” nhưng không nói “là người khó”. Nếu nói “tự vi sư” cách thuần Việt (chữ làm ra thầy) hoặc kèm theo bản chữ Hán để vừa nghe âm, vừa nhìn chữ để tìm nghĩa Việt thì không gì để bàn nhưng vậy thì nghĩa bị giới hạn và mất sự hàm xúc của tiếng vì một cách hiểu tiếng “vì” để phù hợp với mỗi hoàn cảnh.

Người Việt vẫn coi “chữ” như “lối viết” và xét lối viết vẫn là một cách xét người; qua lối viết có thể thu nhiều thông tin về người viết. Và đâu chỉ các thầy cô giáo xét lối viết có thể thu nhiều thông tin về người viết. Và đâu chỉ các thầy cô giáo xét lối viết để đánh giá trò mà người đời cũng có thể xét phẩm chất và năng lực nhà giáo qua lối viết. Trong văn hoá chữ viết là một trong những yếu tố thư hoạ. Một bậc thầy chấp bút dù mới viết nửa chữ người ta cũng nhận ra ngay. Tục ngữ Việt Nam cũng nói về trường hợp tương tự qua câu:

Văn hay chẳng cần đọc dài

Mới đọc nửa bài cũng biết văn hay

Chỉ còn quan điểm, kiến thức, thái độ,.. về một vấn đề nào đó. Chưa nhìn chữ mà chỉ quan sát việc chọn chữ của một người cũng có thể biết họ đang muốn và có thể sẽ làm gì không chỉ biết ít nhiều về tâm trạng mà có thể hiểu phần nào nhân cách, thấy trước được sự phát triển của họ. Chuyện Tào Tháo chọn giữ “gân gà” làm mật khẩu cũng nói lên điều này. Khi một người chọn chữ nào thì “vốn văn hoá, nền tảng đạo đức, ước mơ, hoài bão” thường thể hiện qua chữ đó, nhất là khi sáng tác, lập câu đối.

Văn học sử Việt Nam cho biết quan tổng đốc Nguyễn Công Trứ vốn là người xem thường những chuyện “được”, “mất” ở chốn quan trường  nhưng lại là người ích quốc lợi dân, là đấng nam nhi “xuống đông, đông tĩnh lên đoài, đoài yên”. Khi Hưu Hạ có lần đi qua một ngôi chùa, cụ gặp vế đối treo trước cổng “Thuộc ba mươi sáu đường kính, thông thiên địa thánh thần, song khác tục”. Hiểu Sư trụ trì là người thông tuệ nhưng hơi kiêu, cụ Nguyễn hỏi thêm và được biết sư xuất đối đã lâu nhưng chưa ai đối đuợc. Cụ bèn đối rằng “Hay tám vạn tư mặc kệ, chẳng quân thần tử đếch ra người”. Ghép lại sẽ có cặp đối như sau:

Thuộc ba mươi sáu đường kính, thông thiên địa thánh thần song khác tục Hay tám vạn tư mặc kệ, chẳng thèm quân thần tử đếch ra người

Không dám lạm bàn về nghĩa lý cặp đối, chỉ xin lưu ý một chữ mà vị quan tài hoa đã dùng đó là chữ “đếch’. Chữ này (và chữ “chẳng” trước đó) đã nói lên nhân sinh quan và cá tính ngang tàng của tổng đốc Nguyễn Công Trứ.

Lại xét về phái nhận chữ, với những người xem trọng lễ nghĩa thì một khi đã quyết nhận chữ sẽ luôn coi người trao chữ là thầy. Nói “quyết” là  thể hiện sự chủ động tìm thầy (tầm sư học đạo) dù chỉ để học một chữ, chữ đây là “nguồn kiến thức, kỹ năng, thái độ, giải pháp, hoài bão,… về một vấn đề”. Với đạo Khổng, số chữ cần tìm, hiểu và làm theo trong đời còn ít hơn số thầy hiện nay mỗi học sinh được gặp từ mầm non đến đại học. Nhận hiểu và sống theo mươi chữ đã là nhiều; có người suốt đời chỉ cố học và làm theo một chữ nào đó (như vua Tự Đức cho rằng mình luôn học và sống theo chữ “khiêm”).

Mối quan hệ trao và nhận chữ không chỉ ở trường. Đời thường, khi đang tìm cách vượt khó, nếu nhận được “một chữ” phù hợp thì có thể nảy sinh giải pháp cho vấn đề lúc đó. Thậm chí, ý tưởng giải pháp ấy có khi ẩn tàng ở tiềm thức mỗi người nhưng chưa thành sáng kiến vì chưa gặp chữ phù hợp; một chữ lúc này giá trị như phương pháp, con đường (đạo). Thời Tam Quốc, chữ “hoả” làm nên trận Xích Bích, thời Pháp thuộc ở Việt, đường lối “bất biến” mà Bác Hồ trao cụ Huỳnh trước khi sang Pháp đã giúp cụ ổn định tình hình “vạn biến” ở quốc nội… Chữ và người như vậy sẽ tạo nên nghiệp lớn nên dù quan hệ hai bên chưa là thầy trò nhưng người nhận vẫn coi người trao là thầy không theo nghĩa  giáo viên như hiện nay mà cao trọng hơn nhiều cả khi người nhận chưa trực tiếp gặp tác giả (như lúc Nguyễn Ái Quốc nhận tư tưởng của Lê Nin về vấn đề giải phóng dân tộc). Yếu tố nhấn mạnh ở đây là “chữ” chứ không chỉ “thầy” nếu có “chữ ra chữ” tất sẽ làm nên một quan hệ thầy trò, dù nguồn trao chữ không là ngôn ngữ, dù người trao không làm nghề dạy học, dù nơi nhận là chốn trường đời. A – ra - gô, nhà toán học người Pháp (1786-1853) cũng thừa nhận: Người thầy thực sự của tôi là một tờ bìa sách, ở đó tôi đọc được lời khuyên: hãy tiến lên phía trước bạn sẽ có niềm tin!”.

Còn “bán tự”, “ tại sao nhận “nửa chữ” cũng tôn người trao như thầy. Chữ đây là chữ Hán, loại văn tự biểu ý, dùng nét để biểu thị ngữ tố đơn âm tiết, nét tạo ra bộ thủ, mỗi bộ thủ có hàm nghĩa riêng và là đơn vị để tạo thành “chữ gốc” nhiều chữ gốc mang ý nghĩa của “tri thức, quan niệm về một đề tài” và nhiều chữ Hán do ghép các chữ gốc lại mà thành. Hãy xét một chữ rất quen  thuộc với nhà giáo là “giáo”, một trong các chữ gốc đã tạo ra chữ này là chữ “văn”. Để giúp học sinh tiếp thu chữ “giáo” thì người thầy thường dạy “văn”, “hiếu”… rồi mới đến  chữ “giáo”. Trong giai đoạn học “văn” một trong những cơ sở của “giáo” nếu suy lý thông thường thì thầy đang trao một phần chữ “giáo” nhưng thực tế cho thấy những người thầy tận tâm và uyên bác sẽ tuỳ người học để trao cho hộ một lượng  không nhỏ trong tài sản tri thức của thầy về đề tài “văn”. Bấy giờ dù phải xa thầy, người học cũng không dám trộm nghĩ là thầy chưa trao trọn chữ “giáo”, vẫn luôn biết ơn và quý trọng thầy vì biết mình đã nhận thêm một trong những điều kiện làm người. Thật vậy, “văn” cũng như một số chữ khác như “nhân”, “nghĩa”, “trí”, “dũng”, “liêm”,… đều thuộc loại  chữ mà “nếu ai không nhớ sẽ không lớn nỗi thành người” (lời nhà thơ Đỗ Trung Quân - bài Quê hương); những người trao nửa chữ như thế đều có thể làm cho tình nghĩa thầy trò càng thêm sâu nặng.

Có khi chữ nghĩa khuất lấp sau hành vi, thái độ của thầy mà chỉ có những người học tinh tế lắm mới nhận ra được. Một lần, cậu học trò Nguyễn Sinh Cung - con quan thừa biện bộ Lễ, Nguyễn Sinh Sắc vào thăm thầy mình là cụ giáo Hoàng Thông (tác giả cuốn “Tự  tri thượng sách”) đang bị giam tại nhà lao Thừa Phủ - Huế; thấy thầy tiều tuỵ về thể xác nên anh đã khóc nhưng thầy giáo Hoàng đã quắc mắt nói: “Làm học trò có thầy như ta đã không tự hào thì thôi cớ sao lại khóc? Hãy để nước mắt mà khóc cho dân, cho nước!” Hiểu ý thầy dạy, anh lau nước mắt và vái tạm biệt thầy trước sự ngạc nhiên của lính gác ngục, sau đó anh lên đường vào Nam bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Điều thú vị là hoạt động dạy và học ở đây không sử dụng kênh chữ thông thường, nửa chữ cũng không. Quả thật chỉ có những học trò như vậy mới hiểu được “chữ” thầy và cũng chỉ thầy như vậy mới có cách dạy phù hợp với cảnh lao lung. Trong nghề dạy học, nhân cách sống động của  người  dạy cũng là đối tượng để học tập, có khi người thầy chỉ mới nêu “nửa chữ” thậm chí chưa thực hiện hoạt động dạy, nhưng người học đã nhận được từ hành vi, thái độ của thầy nhiều điều đáng học tập nhất là qua lối sống của những nhà giáo có uy tín…

Do hiểu “chữ làm ra (uy tín) của thầy” nên có những trường hợp trò phải sửa chữ thầy để bảo vệ và phát triển uy tín của thầy. Tổng đốc Đào Tấn từng làm Thượng thư Bộ Công, là bậc thầy về tuồng và đã học nghề này ở cụ Tú Nguyễn Văn Diêu. Cụ Tú là tác giả nhiều vở tuồng hay trong đó có vở Ngũ Hổ Bình Tây, tác phẩm này có đoạn diễn ra tại một doanh trại có duy nhất một cửa ải ra vào. Ban đầu, vị chỉ huy trại ra lệnh mở cửa ải để đón một người, sau đó, kho người này có ý định rời trại thì chỉ huy không đồng ý và truyền lệnh “đóng cửa”, nhưng sau một hồi bàn thêm thì trại chủ chấp thuận và người ấy đã ra đi. Đào Tấn đọc kịch bản và phát hiện chi tiết thiếu hợp lý là có cảnh người rời trại diễn ra khi chưa có lệnh “mở cửa ải”, ông định tìm thầy để trình về việc bổ sung kịch bản nhưng nghe cụ Tú đã mất. ông Đào rất băn khoăn vì tác phẩm của thầy chưa hoàn thiện, nếu giữ nguyên bản thì vở tuồng sẽ như viên ngọc bị tì vết nhưng tự ý chữa thì mang tội thất lễ với thầy. Cuối cùng ông phải mang lễ vật đến trước mộ thầy để khấn xin phép cụ Tú cho bổ sung kịch bản, nhờ vậy đời sau đã nhận vở Ngũ Hổ Bình Tây như hiện nay. Lòng kính yêu thầy của Đào Tấn đã làm cho sự nghiệp của cụ Tú Nguyễn Văn Diêu càng tốt đẹp hơn.

Đây đó vẫn có người dùng “nhất tự vi sư” với ý (dạy ai một chữ là thầy người ấy)” tưởng cũng nên ngẫm lại. Dạy học dù được cho là “cao quý nhất trong những nghề cao quý” nhưng nếu vì động cơ nào đó mà nội dung giảng dạy lại trái đạo hay phạm pháp… thì càng dạy càng sai; một chữ đã sai thì nửa chữ cũng sai. Với nội dung dạy học đúng đắn nhưng nếu thầy chỉ đọc cho trò ghi thì đồng nghiệp vẫn chưa cho kiểu dạy ấy là đạt yêu cầu, bởi người thầy không phải là cái máy phát băng ghi âm mà là người tổ chức và điều khiển hoạt động học tập qua các phương pháp giảng dạy phù hợp. Người dạy thường chú ý để nắm vững tri thức môn dạy và  đây là điều rất quan trọng nhưng nếu thiếu quan tâm đến phương pháp dạy thì hiệu quả học tập vẫn thấp, có khi “lợn lành thành lợn què”, gây hậu quả xấu cho xã hội. Cách dạy vừa là yếu tố tạo nên hiệu quả học tập vừa là điều kiện làm nên uý tín của người thầy; một võ sĩ vô địch dù là người khéo dùng võ để tranh giải nhưng nếu muốn làm huấn luyện viên cũng phải học cách huấn luyện. Khi dạy, việc chọn “chữ ra chữ” vốn đã khó nhưng việc tìm cách để nguồn chữ ấy ngấm được vào người học và xuất thần càng khó. Do đó, để cho việc “học ra học” thì nhà giáo không chỉ quan tâm chọn “chữ ra chữ” mà còn chú ý “dạy ra dạy”, đặc biệt là “dạy cách tự học” khi kiến thức của nhân loại ngày càng gia tăng, người thầy không là nguồn duy nhất để cung cấp tri thức cho học sinh. Vậy phải chăng có nguồn kiến thức tốt và biết cách dạy khéo sẽ tạo ra người thầy giỏi? Đúng vậy nhưng vẫn chưa đủ! Bởi nhà giáo còn là người sống với người, với nghề, với đời bằng cái tâm cao quý. Làm người vốn đã rất khó (vì nhơn nan) nhưng làm thầy càng khó hơn vì xã hội không chỉ giao cho nhà giáo việc dạy chữ, dạy nghề mà còn cả trọng trách có nơi gọi là thiên chức dạy người.

***

Trong võ thuật, vấn đề “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” thể hiện khá rõ khi truyền đòn thế, nhất là dạy bài truyền. Hầu hết các võ phái đều có bài quyền do tích hợp đòn, thế và các yếu tố võ thuật (như tấn pháp, nhãn pháp…) đặc trưng của mình. Những bài quyền bậc cao, không chỉ quy định về hô hấp (hít, nín, thở.). Mà còn chỉ ra cách thức giúp người tập tự hình dung đường đi của khí trong thân thể tương ứng với động tác khi đi truyền. Giữa chiêu thế, hô hấp, tưởng tượng (hình, khí, ý) phải thống nhất, sai một yếu tố sẽ hại đến thể chất, tâm lý và thần kinh người tập. Một trong các yếu tố khi di truyền là di chuyển bước chân theo đồ hình hệ thống đường nét của một chữ nào đó trong tiếng Hán.

Các môn võ của Trung , Triều, Nhật và Việt đều có các đồ hình bài quyền theo chữ hán và chi phái thiếu lâm trung sơn (vạn tự) cũng vậy. Môn sinh phái này sau mười năm có thể tập tám bài truyền và nếu đạt đẳng hiệu huấn luyện viên sẽ được truyền bài chính “Khí lực quyền”. Bài này đi theo nền hình chữ  “nhẫn” (gồm chữ “tâm” và “bộ dao”) với hai lộ quyền lộ nhất đi theo đồ hình chữ “tâm” để luyện khí và lộ nhị theo đồ hình bộ “đao” để luyện lực). Không phải ai qua mười năm đều được truyền bài “khí lực quyền” (gọi là trao chữ nhẫn) mà chỉ những người đã bình hoà về khí và sung mãn về lực; nếu chỉ đắc khí hoặc sung lực thì dù đạt mức cao đến mấy cũng chưa nhận được toàn bài vì những người này tập trọn bài sẽ dễ sinh bệnh do “khí” và “lực” chưa cân đối. Bởi vậy, thầy xét tư chất môn sinh để truyền “nửa chữ nhẫn” thuộc về chữ “tâm” hoặc “nửa chữ nhân” thuộc chữ “đao”. Ai xung lực mà non khí thì được truyền cách thức theo đồ hình chữ “tâm” để định ý và ích khí người khí bình mà sức chưa bền thì được nhận các thế theo đồ hình bộ “đao” để tăng sức mạnh cho gân cốt. Phía những cao đồ đã nhận trọn bài “khí lực quyền” cũng không phải cứ thế mà tập, bởi thầy mà tuỳ vào căn cơ của mỗi người nhằm hướng họ chuyên luyện nhiều hơn vào lộ nhất hoặc lộ nhị để phát triển những tố chất mà thầy muốn tăng lên ở môn sinh đó. Thầy còn quan tâm môn sinh là “nam, phụ, lão, ấu”, thường lao động trí óc hay tay chân nhằm giúp họ những lời khuyên nên luyện quyền lúc nào, luyện ở đâu... để được nhận những tác động có lợi từ môi trường tự nhiên giúp công phu sớm thành. Phía môn đồ được truyền nửa bài vẫn say sưa chuyên luyện, không tìm hỏi hay lén học thêm phần chưa được dạy, đây không chỉ là việc giữ lễ thầy trò hay chấp hành môn quy mà còn là việc giữ an toàn cho bản thân. Cố tập trước phần quyền thầy chưa dạy sẽ dễ sinh bệnh do tập sai nhất là sai cách thở, vận khí, chuyển ý (phần này do thầy dạy từng người và mỗi người được hướng dẫn khác nhau cá biệt hoá hoạt động dạy học). Nhiều võ phái cũng có môn quy, trong đó có điều cấm võ sinh tập trước những bài bản thầy chưa dạy, phạm điều này sẽ bị thôi học; thời nay, hầu hết bài quyền đã được giản hoá, tập trước cũng chẳng hại mấy nhưng các võ phái vẫn coi việc học lén (tự ý lấy thêm chữ) khi thầy chưa cho phép là một trong những điều vô đạo.

Thầy không chỉ dạy về chữ đặt tên bài quyền, các nét tạo chữ, lối viết, ý nghĩa của nó trong đời sống mà còn truyền cách ứng dụng đòn thế và bộ pháp trong tình huống chiến ấu với một người, với nhiều người. Căn cứ tư chất từng môn sinh, thầy truyền nội dung, kiến thức, kỹ năng, thái độ, khái niệm đạo đức, tinh thần về lĩnh vực “khí, lực” mà thầy đã nghiền ngẫm; quy trình truyền bài “khí lực quyền” do vậy rất tổn hao tâm lực của người dạy. Thật ra, thầy đã thực hiện những nội dung trên từ khi võ sinh nhập môn cho đến ngày người ấy “thành nhơn”, được thầy gọi đến để truyền từng chiêu thế. Dạy và học như  vậy nên dù thầy truyền  “nửa chữ” thì môn sinh  cũng nhận được sở học của thầy về các vấn đề liên quan trong võ trường và đời thường. Một số biểu hiện về vấn đề “nhất tự”, “bán tự” khi truyền và dạy quyền trong làng võ nước ngoài là vậy còn với võ Việt thì sao?

Bài “thập tự quyền pháp” của võ Việt (môn phái Vovinam- Việt Võ Đạo) được hình thành từ mười thế chiến lược - mỗi thứ có hai đến sáu đòn (đỡ, phản công và tấn công). Tổng cộng toàn bài có 64 động tác, di chuyển bước khi dẫn bài “thập tự quyền pháp” theo sơ đồ hình chữ thập. Do vậy, nói thầy dạy một chữ (chữ thập) nhưng thực chất là dạy 64 động tác chiến đấu. Số lượng 64 động tác này là di sản của vị võ sư sáng tổ để lại cho hậu thế, đó là “phần cứng”, nhưng việc dạy và học chữ này không chỉ trong 64 sẽ là (64 x 2) hoặc 642. Các thể hệ môn sinh Vovinam vẫn chưa dám cho là đã hiểu bài quyền này; nhiều võ sư cho biết đã thuộc bài này như cháo nhưng cũng chưa tự nhận là nhiều lắm chỉ mới hiểu được “nửa chữ”, có người được đồng môn quý trọng cũng nhờ tài sử dụng vài nét nào đó trong chữ thập này mà thôi.

Đi một bài quyền cũng như viết một chữ, khi viết “nhất tự” hay “bán tự” không chỉ để lộ công phu của người viết mà còn thể hiện bản lĩnh uy tín của người đã dạy họ; tương tự, khi giao đấu, trò ra một đòn hiệu quả sẽ làm tăng uy tín của thầy. Trường  văn hay trận võ không chỉ là nơi thi thố của người học (vì: nơi thí sinh làm bài thi) mà còn làm chỗ so tài của các thầy. Một thế võ thiếu nét của đấu sĩ cũng là “một chữ”  của người ấy viết trên võ đài; nửa hành vi tồi tệ như vậy cũng đều có lỗi từ phía người thầy. Vì thế khi thầy nghe “bán tự vi sư” cũng không vội mừng vì có thể người ta nói câu ấy với ý “nửa chữ trò viết sai cũng có lỗi của thầy” (“vi” đây có nghĩa là “lỗi lầm”). Thật vậy, phần đông người Việt mỗi khi bực mình vì sự quấy phá của các cô cậu học trò vẫn thường bảo: “Này! Thầy nào dạy...?!”. Câu ấy không chỉ dùng để hỏi, để trách mà còn để mắng, nhưng hỏi ai, trách ai, mắng ai?!

Khi giao tiếp, dù nói ngọng hay viết sai nét đều làm người nghe, người đọc khó hiểu và giảm hiệu quả thông tin; dùng võ sai nét cũng làm giảm hiệu quả chiến đấu. Để người học thực hành cho đúng nét thì người dạy phải rất cẩn trọng, nhất là việc đúng nét trong thi đấu võ thuật là chuyện ảnh hưởng đời sống chết một cách trực tiếp và tức thời. Khi thi văn, thí sinh “viết sai nét” dù trượt vẫn sống lành lặn và có cơ hội thi lại, trong đấu võ nếu đánh sai nét có thể hết thi lại được, nhẹ nhất cũng chịu lãnh một vài hoặc đòn đau thể xác và danh dự. Xét chiêu “nga triển đực” (ngỗng đập cánh), nghĩa đen của “triển đực” là “đánh chỏ” nhưng không tuỳ tiện mà cần chú ý sao cho khi đánh phải đạt yêu cầu: “vươn thân, đánh chỏ vòng vào mặt của địch”. Người xưa chọn hình ảnh ngỗng đập cánh vì loài gia cầm này luôn rướn cao và bước tới khi đập cánh, để nhắc người tập nhớ động tác vươn thân và bước tới khi đánh chỏ vào. Dù vậy, thuật dùng chiêu này mà chỉ nghĩ đến chỏ là vẫn mắc lỗi “thiếu nét” bởi còn có một động tác không ở trên chỏ mà ở dưới...chân! Cụ thể, muốn chỏ (phía tay phải) vào mặt đối thủ thì phải bước chân (phải) tới để cài sau chân (trái) đối phương. Đánh đúng nét thì địch phải ngã dập gáy xuống đất chứ không văng ra. Võ Việt gọi cú này là “triệt” cũng rất gợi hình bởi tiếng “triệt” làm liên tưởng hình ảnh “té, ngã”. Dù khác nghĩa, nhưng “triển và triệt” gần về âm và nói “triệt” cũng rõ nghĩa hơn. Dùng “nga triển đực” mà chưa nắm được thuật “nhập nội cài sau chân” là đánh chưa có nét cũng như viết thiếu nét nhưng cái giá phải trả cho lỗi thiếu nét ở đây là phải chịu đòn. Chưa bị cài chân thì địch có thể lui xa hoặc lùi chân hụp xuống để ... phản đòn!

Tuy vậy, dạy và học dù văn hay võ, ngoài “thuật” còn có “đạo” và cả hai đều thuộc lĩnh vực phương pháp. Từ phía cá nhân mà xét thì võ thuật là phương pháp phù hợp với giai đoạn “tự cứu” còn võ đạo mới là phương pháp của giai đoạn “tự thắng”. Với người dạy võ, việc rèn luyện bản lĩnh tự thắng cho môn sinh không chỉ qua các chiêu thức, qua hoạt động giao đấu mà còn qua hệ thống những khái niệm đạo lý được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc tiếng nói như môn quy, tâm niệm, lời thề, lời hứa và đặc biệt là qua lối sống võ sinh và lối sống công dân của các thế hệ võ sư, huynh, đệ, tỷ, muội trong môn phái.

Hoạt động dạy suy cho cùng là nhằm giúp người học bổ sung tri thức, kỹ năng để có thể tự giáo dục, tự thắng. Nếu bên văn thường coi “chữ” là “hệ thống đường nét đặt ra để ghi tiếng nói của một cộng đồng” thì bên võ xem “chữ” cũng tương tự như “hệ thống động tác đặt ra để ghi cách dùng võ của một võ phái” nếu “từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có ý nghĩa thông tin hoàn chỉnh” thì “chiêu là nhóm động tác gọn nhất có ý nghĩa chiến đấu hoàn chỉnh” nếu “nét, hình, chữ, từ, câu, đoạn là sự phát triển của tín hiệu ngôn ngữ” thì “đòn, thế, chiêu, bài là sự phát triển của kỹ thuật chiến đấu”. Cho dù nho, y, lý, số, dù cưỡi ngựa, đấu vật, đánh kiếm, bắn cung, dù cầm, kỳ, thi, hoạ; văn hay võ chữ hay thế, từ hay chiêu, bài văn hay bài quyền cũng đều là những tri thức nhằm giúp người học nâng tầm văn hoá để biết tự chọn con đường làm người cho phù hợp. Tuỳ khả năng nhận thức của người học văn mà “chữ” thầy trao có thể là nét, bộ, chữ, câu, bài, chương, môn và cũng tuỳ công phu rèn luyện của người học võ mà “chữ” có thể là đòn, thế, chiêu, nửa bài, trọn bài. Dạy văn hay võ, ít ai bê nguyên “nhất tự” hay “nhất thế” để giao cho người học, các thầy thường căn cứ vào mục đích, đối tượng, hoàn cảnh... để xây dựng nội dung, lựa chọn biện pháp giảng truyền phù hợp và chuổi công việc này luôn là sự lao tâm khổ tứ của các nhà giáo tận tâm. Họ cũng là những người nhạy cảm với mọi nỗi bi hoan thiện ác nhưng mỗi khi đến với người học đều phải có cái tâm bình tịnh, để đạt được trạng thái ấy, các thầy cô giáo thường phải biết kìm nén lòng mình để gửi những ưu tư bên ngoài cửa lớp. Có thể nói, khi mỗi nhà giáo nghĩ về “tự vi sư” là để dặn lòng đừng thoả mãn với tiếng “thầy” do xã hội ưu ái trao tặng mà luôn nghiền ngẫm về nội dung, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng hiệu quả học tập. Khi dùng “nhất tự vi sư” với đồng nghiệp cũng chỉ nhằm nhắc nhau rằng người học và xã hội tôn vinh thầy cô giáo đến độ nào phần lớn còn do kiến thức, cách thức hành nghề cũng như lối sống, lẽ sống của nhà giáo.

Người dạy càng tự rèn, tự thắng để hướng về chính danh thì xã hội càng nhiều “thầy ra thầy”, chữ nghĩa từ những người thầy ấy dù qua hình thức nào, dù một chữ hay nửa chữ vẫn luôn tạo nên hiệu quả tích cực đối với giáo dục. Vì thế, không chỉ cá nhân người nhận chữ mà gia đình và xã hội vẫn còn dùng câu “một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” như một biểu hiện tôn quý dành cho những người trao chữ như vậy.

H.H

Hoàng Hùng
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 110 tháng 11/2003

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground