|
S |
inh năm Bính Tý, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường năm nay lên tuổi 68. Tuổi này gọi ông là tuyệt. Hơn nữa ông đã có cháu ngoại.
Tuổi tác đối với văn nghệ sĩ có quan trọng gì đâu. Song cách gọi quả là quan trọng lắm. Như nhà thơ Xuân Diệu chẳng hạn: già rồi nhưng ai gọi Xuân Diệu bằng ông, bằng bác thì Xuân Diệu giận lắm. Xuân Diệu giải thích: Đã là thi sĩ thì phải gọi tôi bằng Anh chứ! Anh Xuân Diệu hay thi sĩ Xuân Diệu chứ! Các cô gái trẻ gọi Xuân Diệu bằng anh và xưng em thì Xuân Diệu mừng rơn hơn cả ai đãi ông một bữa ăn ngon.
Gọi "Ông Tường" là từ con gái ông chứ hồi nhập tỉnh (1976) anh chị em văn nghệ gặp nhau ở Huế ai nấy đều gọi anh Tường. Không gọi bằng anh sao được. Ngoài nghĩa văn chương, vợ chồng Tường Dạ còn sắm được xe nổ đầu tiên. Anh Tường chở xe nổ đưa chị Dạ ra Lộc Thủy thăm bà con bên ngoại, thăm mẹ vợ. Trong nghĩa thăm còn có nghĩa "khoe": Vợ chồng văn nghệ sĩ đã sắm được xe nổ cơ đấy!.
Thời điểm gọi "anh" sang "ông" là lúc đứa con gái thứ Hoàng Dạ Thi, ở nhà thường gọi Bê Lim mới 4 tuổi bỗng nổi lên "nói thơ". Thấy con nói hay nên mẹ Mỹ Dạ (*) ghi lại. Trong những bài "nói thơ" ấy có bài nói về bố em "Ông Tường có cái nốt ruồi bằng đất". Từ đó ai nấy đều gọi ông Tường, kể cả các con ông, vợ ông và mẹ vợ.
Ai tới tìm ông Tường. Ông đi vắng. Hỏi bà mẹ vợ ông, ông Tường đi đâu? Bà trả lời: Ông Tường đi nói rồi! Bé Bê Lim nói thơ còn ông Tường thì nói chữ. Chữ ông nhiều. Ông đọc và nhớ rất tốt. Kiến thức sử học uyên bác. Tự cổ chí kim ông Tường đã đọc là chi tiết y như cứ hiện lên cho ông để ông nói. Thí dụ: Ai đụng tới, hỏi tới "200 năm thành Hóa Châu" là ông Tường nói cả ngày, nói không biết mệt mỏi. Ông nhấp chén rượu gạo. Men nồng cất bốc. Và cứ thế ông Tường nói và cứ nói.
Các cuộc nhậu vơí bạn bè, ông Tường dành phần nói, uống rượu, hút thuốc, ít khi ông ăn. Bụng ông thắt lại. Rồi dạ dày ông bung ra, chảy máu. Bệnh viện Huế cắt nửa cái dạ dày. Lành bệnh, ông Tường đã thề trên hai mái đầu xanh:"Từ nay ba bỏ rượu, bỏ thuốc lá".
Nhưng rồi có một anh bạn người dân tộc Tà Ôi từ trên A-đớt lần tìm ra địa chỉ nhà văn Hoàng Phủ. Anh ta xuôi Huế thăm ông Tường với một cút rượu. "Rượu miềng tự cất lấy đó". Và ông Tường uống với bạn A-đớt. Rượu ngon quá! Lâu lắm mới được nhấp chén, ông nói năng mạnh dạn hơn. Ông hút một điếu thuốc. Thuốc ngon quá! Hết thuốc, ông tìm mẩu thuốc ở cái gạt tàn, phủi phủi phần thuốc đã cháy, xé mảnh giấy quấn sâu kèn, lại hút. Ông Tường bỏ lời thề trên hai mái đầu xanh!
Ông Tường làm báo cũng nhiều sáng kiến và quyết liệt. Tách tỉnh (1989) ông Tường về quê làm Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. Tết Nhâm Thân 1992, in Cửa Việt, số 12, mục "Sự kiện và đối thoại", bạn đọc viết thư hỏi trang đầu, in hình biểu trưng: người ngồi thấp, đội mũ cối rộng vành, mặc áo măng tô san, chống gậy và đối diện, trên bục cao hơn người chút đỉnh là con gì mặt người, 4 chân, đuôi rất dài còn thân hình thì xù lên như người mang tơi gieo cấy ngoài đồng?
Và ông Tường, với tư cách thư tổng biên tập, trả lời: Thưa đấy là mảnh gốm cổ Hy Lạp, vẽ lại cuộc đối thoại của Ơ-đíp và con nhân sư ăn thịt người. Để khỏi bị giết, Ơ-đíp buộc phải trả lời câu đố của con nhân sư: "Con vật gì có thể đi bốn chân, ba chân, hặc hai chân; và càng đi nhiều chân thì lại càng yếu hơn?" Ơ-đíp đã giải đáp đúng: Chính là Con Người"
Hóa ra điều bí ẩn trĩu nặng nhất từ buổi đầu của tư tưởng nhân loại vẫn chính là vấn đề Con Người. Nhân dân ta, Đảng ta đang chung lưng đấu cật xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng đưa yếu tố chủ yếu là Con Người lên hàng đầu. Văn học nghệ thuật và văn hóa vẫn tiếp tục sứ mệnh của Ơ-đíp để giải mã bí ẩn về số phận Con Người giữa thời đại chúng ta.
Qua "mảnh gốm cổ Hy Lạp" thì, chẳng ai chối cãi, ông Tường là một trong những người có khiếu làm báo nên chuyển tải được nhiều tư liệu quý trong nghiệp làm báo của ông.
Báo hay thì bạn đọc tìm đọc. Trong thời gian đó có "Cửa Việt - một chọn lựa" của nhà văn Trần Thị Trường. Bởi theo bà, thì: "Ở đây hầu như đăng tải được mọi cái hay từ sáng tác, dịch thuật đến phê bình và những tranh minh họa rất có hồn. Không như có tờ tuần báo đăng chuyện người tốt việc tốt mà kéo tràng giang đại hải hết số này tiếp theo số khác, tốn diện tích báo lại coi thường bạn đọc. Chuyện người tốt việc tốt chỉ in một bài dài quá lắm là 5000 chữ là vừa đủ để ngợi ca cuộc đời và công tích của vị anh hùng ấy!".
Nói ông Tường nghỉ hưu ở Huế nhưng đâu có nghỉ. Ông đi hăng hơn, xa hơn. Ông du ngoạn một chuyến bắc kỳ: Quảng Ninh, Hải Dương, Tuyên Quang... Dự tính của ông là đi một vòng dài lấy ắp tư liệu rồi về Huế ngồi viết cho đến tết Mậu Dần (1998). Ông về Huế chưa được bao lâu, trên mặt báo đã in các bút ký "Côn Sơn", "Miền gái đẹp". Chúng tôi đến chúc mừng ông bởi "Côn Sơn" in tuần báo văn nghệ là một bút ký hay.
Rồi một lúc nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường được hai nơi "đặt việc": Trường Đại học Duy Tân Đà Nẵng mời giảng giờ và Báo Thanh niên đặt ông viết mục "Nhàn đàm" về World Cup bóng đá thế giới đang khởi phát ở Paris.
Và ông Tường đã vào Đà Nẵng để "một công đôi việc" thì không ngờ đột quỵ.
Với giọng nói còn ngọng nghịu, ông nhớ" Ở khách sạn Fai Fô của ông Hoàng Trọng Dũng (em nhà thơ Ý Nhi) làm giám đốc và phó là bà Hoàng Thị Ánh. Ở Pháp họ đã đá trận thứ ba. Đêm đó chánh phó giám đốc mời mình cùng nhóm văn nghệ xứ Quảng ly rượu Tây. Và mình cũng cạn một ly nhỏ. Sau trận đấu, mình về phòng nghĩ chuyện nhàm đàm thì không biết trời đất gì nữa."
Rất may là khi ấy ông Tường chưa vào phòng và sập cửa phòng. Ông Tường đã ngã quỵ trước cửa ngoài hành lang nên nhân viên bảo vệ phát hiện ra và đưa ông đi cấp cứu.
Ông Tường nằm viện Đa khoa Đà Nẵng ba tháng (2 tháng hôn mê). Chúng tôi đến thăm ông cứ nghĩ ông không thể nào sống nổi. Ông nằm bất động. Người khô như que củi. Hai hố mắt lõm sâu. Râu ria bờm xờm che gần hết khuôn mặt. Trên người ông dây ống nhì nhằng: ống thọc vào cổ, ống đút vào mồm, ống áp vào tai. Các bác sĩ đã tạo cho ông thở được nhiều nơi như thế!
Tôi chuẩn bị máy ảnh mang theo, phim tốt. Nhưng không dám chụp. Sau này hỏi hóa ra không ai chụp cả. Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân (lúc đó làm báo Lao động) cũng nói là không nỡ chụp cho ông Tường một kiểu ảnh thê thảm như thế! Giờ (tác giả bài này) xin thành tâm hỏi: Có bạn nào có ảnh chụp ông Tường trong hai tháng hôn mê chăng?
Thế mà ông Tường qua khỏi hiểm nguy.
Ông Tường chuyển về bệnh viện Huế.
Nhà nước tặng thưởng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường huân chương độc lập hạng 3.
Đại diện Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Nhà nước mang huân chương từ Thủ đô vào trao cho ông tại bệnh viện Huế vừa đúng ngày sinh nhật của ông (9.9).
Ông Tường về nhà tĩnh dưỡng với chiếc xe lăn do ông bạn Nguyễn Tiến Toàn (Sài Gòn) tặng. Vốn ham nói, ông tưởng cứ nói là bạn bè hiểu được nhưng ông càng nói không ai hiểu ý ông muốn gì? Chỉ có Mỹ Dạ là hiểu được qua cử chỉ khi nói của ông. Mỹ Dạ thành người phiên dịch cho ông mỗi khi có khách đến thăm.
Tuy không đi được nhưng trí nhớ của ông hồi phục rất nhanh. Ai ông Tường gặp một lần là ông nói đúng tên và cả những kỷ niệm với ông, nếu có.
Thấy vậy, Mỹ Dạ tìm các các thầy thuốc hay để chữa trị cho ông, chủ yếu chữa cái chân trái cho đi lại được đỡ cực nhọc người phục vụ mỗi lần ông tắm táp, vệ sinh.
Và, đã hơn bốn năm qua, bạn bè thân quý ông Tường trong nước, ngoài nước dõi theo lịch trình chữa trị cho ông:
Năm 1999, ở Hà Nội 3 tháng, chữa với ông thầy cất bốc thuốc nam. Ở Đà Nẵng một tuần chữa với thầy thuốc gia truyền. Năm 2000 đi Sài Gòn, ăn ở và điều trị tại Viện y học dân tộc một tháng. Lại dự định đi Nam Định tìm thầy Nguyễn Khắc Mạc châm cứu bấm huyệt theo phương pháp của giáo sư Nguyễn Tài Thu. Nhưng chưa kịp đi thì nghe tin: Ở Khe Sanh có bà nguời dân tộc Vân Kiều chích lễ rất hay đã chữa lành 50% căn bệnh này chỉ trong 3 tháng.
Và ông Tường lên nằm nhà khách Ủy ban huyện Hướng Hóa. Ở đây, văn phòng ủy ban và chánh, phó Chủ tịch Nguyễn Quân Chính, Đặng Minh Khanh chăm sóc theo dõi tiến triển việc chữa trị cho nhà văn hàng ngày.
Hóa ra không phải bà thầy dân tộc Vân Kiều. Bà là Phạm Thị Gái, sinh năm Quý Tỵ (1953) quê gốc Triệu Thành Quảng Trị, di tản lên Ba Lòng rồi lên Khe Sanh và lấy chồng ở đây. Bà Gái có đến 9 người con. Người bà cao ráo, đầy đặn, da trắng, răng đen. Trong quá trình di tản nhiều nơi ấy, bà Gái học lỏm được nghề chích lễ, bầu giác để hút máu độc trong người bệnh. Điều đáng nói là, những người thấy thuốc trước chữa trị cho ông Tường thì đầy chữ nghĩa, tiếng Tây, tiếng Tàu đều thuộc làu làu. Riêng bà Gái thì "một chữ bẻ đôi" đều không biết . Một người mù lại chữa trị cho một người có hàng trăm bồ chữ như ông Tường, thế mới lạ!
Sau mấy tháng chữa trị cơ thể ông Tường có nhẹ nhỏm hơn trước, bởi được hút nhiều máu độc nhưng vẫn chưa đứng lên được. Sáng, và chiều, sau lúc ngâm chân, ông ngồi xe lăn ra trước sân nhà khách. Bên trái là Tà Cơn, bên phải là Làng Vây bao bọc thung lũng Khe Sanh chiến trận một thời. Lên đây hai tháng, ông đã viết được hai bài báo và làm thơ:
...Xưa đây chiến trường đánh Mỹ
Đạn bom tan nát đồi cây
Có người Già Làng lặng lẽ
Bếp hồng kể chuyện làng Vây
Tâm hồn Vân Kiều vốn thế
Giúp người chẳng quản công lênh
Cảm ơn tấc lòng cội rễ
Đưa mình trở lại Khe Sanh.
Nhiều bạn tâm huyết chân thành khuyên: in được "tuyển tập văn học" rồi, còn viết báo làm gì, chỉ nên làm thơ chơi thôi. Viết như "Ai đã đặt tên cho dòng sông", "Côn Sơn"... là không được nữa. Khổ ông phải nghĩ và khổ người ngồi chép cho ông.
Nhưng khổ quá, như thế thì ông có thể bạo bệnh trở lại. Ông vốn đi và nói rồi viết. Giờ nói đã khó nhọc, không đi lại được. Trí nhớ rất tốt. Với vốn văn hóa,vốn sống của ông, ông lên Khe Sanh là có thơ "Khe Sanh". Giả dụ có ai đụng đến Tà Cơn là ông có thể luận được một bài báo về Tà Cơn vậy.
Nhiều người nhận định: Ông Tường lúc hai tháng hôn mê không chết, giờ cầm chắc chữ thọ. Với trí nhớ rất tốt ấy, ông Tường đến 100 tuổi vẫn còn viết được.
Cái nghiệp dĩ gì vậy hỡi "trăm năm ông Phủ Ngọc Tường ôi!"
V.N
________________________________
* Tác phẩm Hoàng Dạ Thi đã in:
1- Cái chuông vú - (Thơ 1988)
2- Pê lê trắng - (Tập truyện ngắn 1994).
3- Những chú mèo trong nôi - (Tập truyện Thiếu nhi 1997). Hiện tác giả làm việc ở Báo Thanh niên, ký tên Âu Lan.









