|
T |
hái độ coi thường phụ nữ của đạo Khổng thì ai cũng biết. Tôi chỉ nêu một ví dụ: Vào năm 1907, ông V.M Alecxêép, sinh viên tốt nghiệp đại học tổng hợp Pêtécbua (là nhà Trung Quốc học tương lai và là viện sĩ) đến Bắc Kinh; có một lần đã hỏi một cách tế nhị vị thầy học - người Trung Quốc của mình rằng, thầy có mấy con? Và được ông trả lời: Ông không có con nào cả. V.M Alecxêép nói thêm: "Về sau tôi mới biết là thầy có chín người con gái nhỏ".
Ở Việt Nam, các cụ thường nói: "Vô nam, dụng nữ", và tình hình diễn ra có khác ở Trung Quốc. Nhưng những người phụ nữ chỉ có thể ảnh hưởng đến cộng đồng làng xã thông qua những người chồng của mình ngồi bàn việc ở đình làng.
Còn ở Châu Âu, nơi mà người ta thường làm rùm beng về nền giáo dục của mình, và bào chữa cho những hành động xâm chiếm thuộc địa họ có vẻ như một "sứ giả văn minh hóa", thì tất cả điều đó cũng chẳng tốt đẹp gì. Tất nhiên, ở đó còn tồn tại cái được gọi là sự sùng bái đàn bà. Thật có ích, khi nhớ lại những sự kiện sau: Ở Đức cho đến năm 1958, sau lễ cưới, tất cả tài sản của người vợ được chuyển giao dưới sự quản lý người chồng, không phụ thuộc vào điều mà người vợ có đồng ý hay không đồng ý. Cho đến năm 1970, theo các luật của Cộng hòa Liên bang Đức, người chồng có quyền đòi hỏi người vợ rời khỏi nơi làm việc, nếu như anh ta tìm thấy công việc của vợ mình mang lại tổn thất về sự ổn định và hòa thuận trong gia đình.
Những người đàn ông đã từ lâu thường không cho phép những phụ nữ đến với học vấn. Chỉ có trường hợp đặc biệt, khi cải trang thành đàn ông như một nữ nhân vật trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa đã đỗ đến Trạng nguyên. Người phụ nữ Nga đầu tiên nhận được giáo dục cao đẳng và trở thành nhà toán học nổi tiếng Xôiphia Kôvalépxkaia (1850-1891); Bà đã tốt nghiệp trường Đại học Thụy Điển vào những năm 70 đầu thế kỷ XIX. Ở nước Nga vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tại các trường Đại học Tổng hợp chỉ tuổi trẻ nam giới mới được vào học tập. Còn đối với nữ giới, chỉ từ khi sự khai trương của các trường Cao đẳng, nữ sinh mới may mắn đạt được ước nguyện.
Vào thế kỷ XIX tại Châu Âu, số đông người vẫn quan niệm rằng, phụ nữ vẫn còn quá nhiều điều suy nghĩ có hại. Trong một tạp chí khoa học, người ta viết một cách quả quyết rằng, ở nữ giới do tình trạng làm việc căng thẳng, nên khi những ý nghĩ đến, thì cũng là lúc máu rỉ ra trong đầu; rằng, có thể dẫn đến những kết quả tồi tệ. Một thiên kiến rất phổ biến cho rằng, nữ giới là sinh vật thiển cận. Điều đó được người ta tiếp nhận không như một khiếm khuyết, mà là một cái gì đó thuộc về bản chất tự nhiên của nữ tính.
Song, thực trạng ấy đã thay đổi hẳn từ lâu. Ở nước Nga, chính quyền Xô Viết đã làm tất cả những gì có thể làm được để phụ nữ có thể đạt tới giáo dục đại học. Và cả hiện nay mặc dầu gặp khó khăn mà đất nước phải trải qua sau khi Liên Xô tan rã, thì tại các trường đại học vẫn còn hơn một nửa sinh viên là nữ.
Và thế là, khi mà nữ giới tuyên ngôn về mình một cách nghiêm túc trong lĩnh vực hoạt động trí tuệ, thì những hiện tượng hết sức thú vị được đặt ra. Ví dụ: Thông qua các kết quả của nhiều lần quan sát rộng lớn, nhà bác học Anh đã đi đến kết luận lý thú như sau: Ở các em trai ba tuổi và các trẻ em gái cùng lứa tuổi, người ta quan sát thấy những điểm khác biệt về tiềm năng trí tuệ. Các em gái bảy tuổi thường vượt hơn các em trai đồng niên về kỹ năng đọc; đến mười một tuổi, các em gái vượt hẳn các em trai (trung bình) về toán học.
Nhà báo A. Gorbốpxky viết: "Ở nước Nga, nhiều giáo viên trung học thường nhận xét rằng, các em nữ sinh thành tích học tập thường cao hơn và thường suy nghĩ nhanh hơn các em nam sinh. Thật vậy, điều đó không trùng hợp với những trật tự chế độ phụ quyền của toàn bộ cuộc sống Nga. Vì vậy, tiếp theo, tư duy sư phạm không dám tìm đến sự kiện đó bằng xác nhận thiếu căn cứ. Người ta tìm được cách giải thích hết sức đơn giản: "Các thầy giáo đều nói: Các em nữ sinh thì chuyên cần, còn các nam sinh thì không chịu ngồi yên một chỗ".
Khoa học hiện đại đã tìm cách giải thích khác sâu sắc hơn. Nhiều nhà khoa học cho rằng, những gì mà các em bé gái từ tuổi thơ đã vượt trội các em bé trai về mặt trì tuệ, điều đó liên quan tới sự tác động các hoóc môn giới tinh trong sự hình thành các khu vực của não bộ.
Những thành tựu của nữ giới trên nhiều bình diện khác nhau của lao động trí tuệ vào những thập niên gần đây là hết sức to lớn. Mặc dù người phụ nữ phải nhận về mình một khối lượng không nhỏ điều lo toan và trách nhiệm trong gia đình, đó là chưa nói tới việc sinh đẻ, sự chăm sóc con cái.
Thật vậy, có một lĩnh vực mà người phụ nữ ở một mức độ lớn chậm hơn so với nam giới - đó là lĩnh vực khoa học làm mẹ. Những kết quả thống kê hiện đại chứng minh rằng, hễ cứ hai người đàn ông có khả năng toán học cao cấp, thì chỉ có một người phụ nữ có khả năng tương tự. Ngoài ra, vẫn có những ví dụ hùng hồn: Chúng ta lại nhớ rằng, mười lăm năm về trước, tại trường Đại học Tổng hợp quốc gia Maxcơva mang tên M.V.Lômônôxốp, một nữ nghiên cứu sinh trẻ Việt Nam tên là Lê Thị Hồng Vân đã bảo vệ thành công xuất sắc luận án Tiến sĩ khoa học về toán học, lúc chị mới hai mươi sáu tuổi.
Tất nhiên, giữa nam giới cũng như giữa nữ giới, chúng ta đều có thể gặp những người thông minh và những người chưa thật thông minh lắm. Nhưng nên chú ý đến những đặc trưng vốn có của từng giới.
Những nhà nghiên cứu hiện đại thường nghiêng về kết luận sau: đại bộ phận nam giới thường ham thích hoặc là tầng lớp trên, nơi có những nhà sáng chế và phát minh thông minh nhất và tài năng nhất; hoặc là tầng lớp dưới mà ở đó tập trung những người có những phẩm chất đối lập. Những người đàn ông trung bình về trí tuệ thường tương đối ít gặp. Ở nữ giới tình hính có khác: tính cực đoan thường hiếm, tính trung bình được quan sát thấy...
Vào thời gian gần đây tại nước Anh, với tư cách là một ví dụ người ta dẫn ra một sự kiện được khảo sát từ năm này sang năm khác: Tại các trường Cao đẳng, Đại học Tổng hợp người ta trao bằng tốt nghiệp cho các sinh viên theo ba cấp độ: Hạng đầu (là những sinh viên tốt nghiệp giỏi nhất); hạng thứ hai (là những sinh viên tốt nghiệp trung bình); còn hạng thứ ba (là những hạng sinh viên được đào tạo kém nhất). Phần lớn bằng cấp cho sinh viên tốt nghiệp hạng nhất và hạng ba đều thuộc về nam sinh. Nữ sinh nhận được phần nhỏ thuộc hạng đầu và hạng ba, thế nhưng phần lớn bằng hạng hai đều thuộc về họ.
Một ví dụ khác, ở nước Nga, tại các công sở, số đàn ông đang làm việc có trình độ giáo dục cao đẳng trở lên ít hơn so với những người phụ nữ đang làm việc có trình độ học vấn tương đương.
Thật là khó nói hết những xu hướng, những ví dụ mà khoa học cố gắng chứng minh và sẽ được tiếp tục khảo sát. Điều quan trọng cần nói thêm là, nữ giới tham gia vào khoa học, và giáo dục tại các nước châu Âu, châu Á, trong đó có Việt Nam muộn hơn nhiều so với nam giới. Nhưng những tiến bộ của họ trong lĩnh vực lao động trí tuệ là rất lớn: trong khoa học, trong y học, trong công việc tổ chức quản lý, trong kinh doanh, trong hoạt động truyền thông, truyền hình, trong báo chí, trong các trường trung học phổ thông và đại học, cao đẳng.
Mátxcơva tháng 4.2003
- N.I.N
(P.V dịch)









