1. Quan niệm về nhân vật của tiểu thuyết đương đại Việt Nam
|
T |
rong quan niệm của các nhà sáng tác tiểu thuyết truyền thống, nhân vật luôn là yếu tố then chốt của tác phẩm. Nó giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và là “chiếc loa phát ngôn” cho những tư tưởng của tác giả. Từ quan niệm đó nên cách xây dựng và thể hiện nhân vật của các nhà tiểu thuyết truyền thống thường theo những khuôn mẫu và ràng buộc nhất định: nhân vật bao giờ cũng gắn với một cuộc đời, một số phận, một tính cách cũng như các mối quan hệ xã hội rạch ròi cụ thể. Nhân vật trở thành những giá trị thẩm mĩ được chú trọng và được đẽo gọt nhiều nhất. Tính cách của nhân vật vì thế được định hình khá rõ ràng trở thành nguyên nhân lí giải cho mọi hành động, cách ứng xử. Chính lẽ đó nhân vật của tiểu thuyết truyền thống thường không chứa đựng nhiều bất ngờ trong hành động và ít nổi loạn về tính cách, thường “hiền hơn” và “yên vị” trong khuôn khổ thân phận và tính cách mà tác giả đã tạo ra.
Trong quan niệm của các nhà viết tiểu thuyết đương đại, nhân vật cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhưng trong cách thể hiện của họ nhân vật không còn là yếu tố then chốt quy định những giá trị thẩm mĩ của tác phẩm. Nguyên nhân chính là sự thay đổi về sự tồn tại và vị thế của con người trong đời sống xã hội. Đời sống có quá nhiều bất trắc, ngả rẽ, trong mỗi con người đều chứa đựng những “ẩn mật bản ngã” khiến nhà văn không thể thuyết phục độc giả tin vào cái gọi là “ở hiền gặp lành” “thiện thắng ác” một cách giản đơn trong việc xây dựng số phận của nhân vật trong tác phẩm hay những nét phác họa để tạo nên những mẫu hình chung cho một tầng lớp, một hạng người nào đó trong xã hội. Từ đó nhân vật của tiểu thuyết đương đại đã có nhiều thay đổi. Những dấu hiệu về ngoại hình, hành động gần như là biến mất mà thay vào đó nhân vật được tái hiện như những mẩu, những mảnh, những kí họa, có khi chỉ còn là những ý nghĩ, những mảng đối thoại vu vơ, những câu nói không chủ đích... Đặc biệt tiểu thuyết đương đại chứng kiến sự biến mất của loại nhân vật điển hình. Nhân vật trong tiểu thuyết đương đại không có tính cách tiêu biểu, hoặc từ chối những khuôn mẫu sẵn có. Họ là những con người vô danh. Con người trở nên nhỏ bé và dị biệt đến nỗi nó chỉ là đại diện duy nhất của chính bản thân nó. Con người phong phú đến mức không ai có thể thay thế được. Nhà văn không còn chú tâm xây dựng những điển hình. Những yếu tố như tên, tuổi, xuất thân, câu chuyện có tình tiết… không còn quá quan trọng. Và cái mà tiểu thuyết giai đoạn trước dựa vào như sự độc đáo của tính người, hay tính anh hùng… trở thành phi lý, bởi thực chất không ai có thể làm kiểu mẫu cho một loại người lí tưởng nào đó. Mỗi người mang một nỗi niềm, một số phận, là một trường hợp riêng. Nhân vật được xác định bằng sự hiện diện, bằng sự tồn tại của nó với những hành vi, những ứng xử trước mọi hoàn cảnh; không cần giải thích vì không thể giải thích mà chỉ có thể quan sát.
Có thể thấy, thế giới nhân vật trong tiểu thuyết đương đại hầu hết khác lạ so với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống. Chúng ta nhận ra một ý thức thẩm mỹ mới đang được các nhà văn thể hiện trong cách xây dựng các kiểu, các tuyến nhân vật (kiểu nhân vật tính cách, nhân vật bản năng, nhân vật tâm linh; tuyến nhân vật đối lập, tuyến nhân vật song trùng, tuyến nhân vật ảo - thực…) Những kiểu và tuyến nhân vật đó đã đưa đến cho tiểu thuyết một thế giới đa dạng, thể hiện được chiều sâu triết lý về con người thời đại. Và điều này đã góp phần phá vỡ cấu trúc kết cấu tiểu thuyết, thay đổi quan niệm thẩm mĩ của người đọc về nhân vật và tác phẩm văn học.
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật tính cách trong tiểu thuyết Việt Nam hiện nay
GS Phương Lựu đã khẳng định: “Phân tích một nhân vật văn học suy cho cùng là đi tìm một tính cách, tính cách như là đối tượng chủ yếu của nhận thức văn học”…“Nhân vật tính cách thường có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lý, những chuyển hóa và như vậy tính cách có một quá trình tự phát triển, và nhân vật không đồng nhất giản đơn vào chính nó”. (Lý luận văn học, trang 288 - 289, nhà xuất bản Giáo dục, 1999)
Trong tiểu thuyết đương đại hầu hết các nhân vật chính đều được tác giả “cá tính hóa tính cách” một cách rất rõ nét. Qua những nhân vật này đã thể hiện một xu hướng sáng tác dựa trên nền tảng của sự thay đổi trong nhận thức đời sống xã hội và con người hiện đại. Khi nhân vật mang trong mình những cá tính sẽ trở nên Người hơn và cũng Đời hơn rất nhiều so với các kiểu nhân vật trước đây. Bởi “cá tính làm cho nhân vật sinh động, có sức hấp dẫn, để lại trong lòng người đọc một ấn tượng rõ nét và sâu sắc”.
An Mi trong tiểu thuyết và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng là nhân vật có quá trình tự phát triển về tính cách. Một con người dám vượt lên tất cả những ràng buộc, định kiến của xã hội để thể hiện tận cùng cái Tôi của mình: “Tôi muốn mang chiếc bình lên một ngọn đồi ở miền trung du, đổ mớ tro của anh xuống đám cỏ và mang chiếc bình không về đặt ở thành cửa sổ, nơi tôi đã đứng suốt bảy ngày nhìn xuống con đường trước nhà. Nhưng không ai cho tôi làm như vậy…”
“…Ở nơi tôi sinh ra, mầu trắng là mầu tang chứ không phải đen. Tôi tưởng đã quên điều này, vậy mà tôi lại nhớ, và khi nhớ lại rồi điều đó trở nên quan trọng. Quan trọng tuyệt đối trong một cuộc đời không còn gì là quan trọng nữa. Ngày tang lễ anh tôi mặc một chiếc áo trắng, dài. Lúc tôi bước vào nhà nguyện, mọi người nhìn tôi rồi vội quay đi, như tế nhị tránh nhìn một điều sai sót lớn lao. Tôi nghĩ: đừng bắt tôi làm khác, tôi chỉ có một lần này trong đời để mặc chiếc áo trắng dành cho anh”.
Cá tính mạnh mẽ của An Mi còn được thể hiện qua một loạt những chi tiết khác trong truyện như chứng minh cho chúng ta thấy được sự chuyển hóa do những mâu thuẫn nội tại bên trong con người phức tạp này là một tất yếu hoàn toàn hợp logic: Mất chồng chán nản cuộc sống chọn những chuyến tàu để đi tìm cái chết cho mình (thực chất là chạy trốn thực tại và quá khứ) hành trình “nhặt nhạnh lại chính mình” lại nhìn thấy mình qua những con người khác (Anita, Kemf, Micheal, Marcus) dằn vặt với quá khứ (tội lỗi) thức tỉnh (khát khao được sống hơn bao giờ hết).
Trong cách thể hiện của Đoàn Minh Phượng, An Mi là một con người mới hoàn toàn lột xác từ hành động suy nghĩ cho đến tính cách. Sự thể hiện đó không chỉ tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm mà còn giúp cho chúng ta thấy được sự phát triển nhảy vọt của kiểu nhân vật này trong tiểu thuyết đương đại. An Mi không đại diện cho bất kì ai chỉ đơn giản là một cô gái khát khao được là chính mình, là của riêng mình.
Trong cuốn tiểu thuyết Đức Phật, nàng Sivatri và Tôi của tác giả Hồ Anh Thái, có một nhân vật làm chúng ta vô cùng ấn tượng đó là nàng công chúa Sivatri - một cô gái mạnh mẽ đầy cá tính, luôn sống và yêu bằng những suy nghĩ mà trái tim mình mách bảo. Không khiên cưỡng chấp nhận hay bắt mình tuân theo những quy định và ràng buộc nào kể cả đó là ràng buộc của Đạo Sư (người có quyền tối cao trên cả Đức Vua). Cá tính đó nhìn qua thì dễ nhận thấy như là một sự thống nhất từ đầu đến cuối: (từ nhỏ đã thể hiện sự quyết đoán trong ngày cùng chị gái ra mắt Thái tử Siddatda; bỏ trốn không chấp nhận hỏa táng theo chồng; giả trang thành nam nhi, giao du với vô số kẻ xấu người tốt; lấy cắp những bảo vật của Đạo Sư; dám hiến thân mình cho những khao khát dục vọng bản thân…). Nhưng cái đáng nói hơn cả là nằm sau những cá tính đó của công chúa Sivatri đó là một tình yêu duy nhất, tình yêu mãnh liệt suốt đời với Thái tử - người mà sau này và mãi mãi trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cuộc đời và con người của công chúa Sivatri rõ ràng đã có những biến chuyển gần như là nghịch lý để làm nên một nhân vật không bao giờ là đồng nhất với chính mình.
Nhân vật tính cách không chỉ biểu hiện qua những hành động táo bạo, mạnh mẽ mà còn thể hiện một cách rất sâu sắc trong những kiểu người cô đơn, lặng lẽ. Cô đơn là sản phẩm của thời đại. Thời mà con người luôn bị cuốn vào vòng xoay của công việc và những cám dỗ của cuộc sống nên ít có thời gian để bày tỏ tình cảm cùng nhau. Con người luôn thu mình, sống một cách khép kín, tách biệt với thế giới… Có thể bởi họ mặc cảm với số phận, tự ti với chính mình; cũng có thể họ quá cá tính đã không tìm thấy cho mình sự đồng điệu chia sẻ với bất kì ai; và cũng có thể là họ quá đau khổ nên cuộc sống không còn nhiều ý nghĩa… Nỗi cô đơn là một ám ảnh lớn trong cuộc đời được thể hiện qua những cung bậc khác nhau trong tiểu thuyết đương đại. Nhân vật cô đơn xuất hiện nhiều trên các trang tiểu thuyết như một minh chứng cho nỗi khổ đau của con người hiện đại - cuộc sống càng sung túc bao nhiêu thì nỗi cô đơn trong mỗi người càng lớn bấy nhiêu.
Cô đơn còn là một nét tính cách mạnh mẽ của con người, là cách để họ phản ứng trở lại với cuộc sống. Có thể kể ra đây những nhân vật trong các tiểu thuyết của Thuận như Phương trong Made in Viêtnam, T trong T mất tích, nhân vật Tôi trong Phố tàu, và Liên trong Paris 11 tháng 8. Biểu hiện đầu tiên cho cá tính của các nữ nhân vật này đó là sự trầm lặng và rất ít nói. Nhưng đừng nhìn vào lối sống mà vội quy kết rằng họ là những con người tẻ nhạt. Những con người có cá tính mạnh - đặc biệt là phụ nữ - đều có một đời sống nội tâm mãnh liệt. Sự mãnh liệt trong đời sống nội tâm của họ được Thuận miêu tả bằng những thủ pháp khác nhau. Những dòng suy tưởng triền miên của nhân vật Tôi (Phố Tàu) đã cho thấy cô là một con người có bản lĩnh, có đời sống đầy trăn trở và bão táp. Cô đã tranh đấu và tranh đấu quyết liệt với cha mẹ, với những khó khăn ở Paris hoa lệ cho tình yêu của mình, cho tương lai của mình và con. Với Liên thì đó là những giây phút buông thả trong quán rượu của người Cu Ba, trong ngôi nhà có địa chỉ kỳ lạ quận 13, nhà 13, tầng 13, phòng 13 của Tanh. Cứ xem cái cách Liên lao ra đường, phóng xe, cái cách Liên sửa soạn dâng hiến… Đó chính là sự bùng nổ của những cảm xúc bị kìm nén quá lâu, của một khát khao sống mạnh mẽ trong cô. Trong Phương luôn tiềm ẩn một luồng năng lượng ngầm, cho phép cô linh cảm (khá chính xác) những điều sắp xảy ra với mình. Những linh cảm ấy bắt nguồn từ đâu? Chắc rằng những linh cảm ấy hẳn có một phần nguyên nhân từ trí tưởng tượng phong phú, từ nhạy cảm về bản thân và cuộc sống quanh mình của cô.
Số phận của Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế của tác giả Hồ Anh Thái cũng gắn liền với chuỗi hành trình những ngày đơn độc. Lúc bé không có đứa bạn thân nào dám lại gần bởi chúng phát hiện ở cô bé có một sức mạnh lạ kì khó giải thích. Bản thân cô bé cũng ý thức được điều đó, cô cảm thấy mình như một con cá đuối điện đụng đến ai là người ấy giật bắn nên tất cả đã tìm cách xa lánh cô. Nhưng có lẽ nỗi cô đơn lớn nhất của Mai Trừng là không thể đưa đến tình yêu trọn vẹn cho người cô yêu. Một mình lặng lẽ lẫn tránh nơi đô thị sầm uất để đến nương tựa tại một vùng thôn quê hẻo lánh. Nỗi cô đơn của Mai Trừng không phải do cô tạo ra mà bởi một lời nguyền của bố mẹ - “các chị khai sinh cho cháu là Nguyễn Thị Mai Trừng. Mai ngày cháu lớn, cháu sẽ đi Trừng phạt những kẻ ác...” Cái ác vẫn luôn ngự trị và tồn tại song hành đối trọng cùng cái tốt. Một mình Mai Trừng không đủ sức để chế ngự được nó. Tư tưởng của tác phẩm như thể hiện con người chấp nhận sự tồn tại của cái ác, lòng tham lam, sự ích kỉ để được sống một cuộc đời hạnh phúc trong tình yêu âu cũng là lẽ thường tình.
Như vậy nhân vật tính cách trở thành một kiểu nhân vật đặc trưng của tiểu thuyết đương đại. Chúng là hình ảnh phản chiếu của con người hiện đại luôn muốn là chính mình, là của mình bằng tất cả những gì thuộc về cá tính.
N.P









