|
M |
ột tập tục cổ xưa – nay đa phần chỉ còn thấy lưu qua sách vở. Hàng năm cứ đến hăm ba tháng chạp, sau lễ đưa ông táo lên trời trình báo công việc giám hộ từng nhà dưới hạ giới với Ngọc Hoàng Thượng Đế - Kể từ ngày này cho đến bữa trừ tịch (ngày cuối năm) tùy theo từng ngành nghề sinh kế, từng địa bàn dân cư và tùy điều kiện gia cảnh mỗi nhà: Người Việt có thói quen dựng trước nhà ở, đình chùa, miếu vũ, các dinh phủ quận huyện, cả ở trong kinh thành... một cây tre đực cao, làm “tiêu chí trấn trị như một định lệ của tính hiệu Tết” gọi là trồng cây nêu. Và chỉ khi dựng xong cây Nêu (Có kèm theo một nghi lễ nhỏ) thì mới bắt tay vào dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, lau chùi hương án bàn thờ, đồng thời mổ lợn giết trâu bò, nấu bánh chưng làm các lễ khác để tạ ơn trời đất, và thỉnh mời liệt vị tổ tiên, các vị thần về thưởng hưởng, để được cùng với các con cháu chuẩn bị đón giao thừa năm mới.
Người Việt vốn xem trọng lễ Tết, nhất là tết Nguyên đán. Một sự kiện hàng đầu trong năm và có liên quan thành bại đến năm sau. Nói đến tết Nguyên đán, người xưa thường nhắc đến cây nêu. Có thể xem việc trồng cây nêu là yếu tố bắt buộc cho một điều kiện đủ để đón tết, có câu “Bất nêu bất thành Tết” là vậy.
Cho nên người Bắc có câu đối:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh
Người
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Trông mau đến Tết, dựng Nêu ăn chè.
Còn người Trung (thuở Huế còn vua) thì hăm hở:
Hăm ba ông Táo về trời
Dựng Nêu trước ngõ, ăn chơi suốt tuần.
Những ý tưởng cũng như điều kiện, hoàn cảnh, quan niệm và hương vị Tết của người Việt xưa phần nào được khắc họa gửi gắm vào ca dao tục ngữ. Cho ta thấy cây Nêu đã đi vào lối sống, thấm sâu vào tâm hồn, thể hiện tính biểu tượng nhất thống cho cả ba miền Bắc Trung Nam mà người Việt dùng nó để trưng lên trước nhà những ngày thổ công ông Táo về trời, âm dương khai hợp, ma quỷ và các linh hồn cùng hiện, con người nghỉ ngơi đón tết vui xuân.
Tuy nhiên, cây Nêu và tập tục trồng Nêu đã có từ ngàn xưa, nhưng cưa ai dám chắc chắn nguồn gốc cùng sự xuất hiện của nó. Trịnh Hoài Đức (Đầu thế kỉ XIX) đã phải thừa nhận mà kêu lên rằng: “không rõ nguồn gốc từ đâu, mà có thuyết nói là chia ra ba giới thống trị, ấy là thuyết hoang đường không nên tin.” Song ngày tết ngoài nhân gian và cả trong triều đình vẫn cứ thượng nêu.
Những giả thuyết về huyền thoại
Có người đồng ý với thuyết cho rằng cây Nêu là nguồn gốc từ Lão giáo, thuộc văn hóa Trung Hoa ở phía nam sông Dương Tử đã theo chân đội quân xâm lược của Cao Biền tràn xuống. Nó là dấu vết của thời Cao Biền cưỡi điều. giấy đi trấn yểm các long mật dọc khắp nước Việt.
Lại có người giải thích, cây Nêu thuộc vùng văn hóa Nam Đảo Mã Lai, cùng với người di dân vượt biển lên phía bắc, là những dấu vết của cây phi lao. Nhưng có một số nhà nghiên cứu dân gian lại khẳng định chắc chắn cây nêu là thói tục của người chàm - phái cây cau!
Lại có một thuyết khác được truyền tụng trong dân gian vùng Huế - nơi từng xem là kinh đô thứ hai của phật giáo Việt Nam, xếp sau Yên Tử, cũng là nơi hiện còn lưu giữ khá nhiều tập tục văn hóa cổ xưa của người Việt, người chàm, là nơi giao thoa với các dòng văn hóa khác, thì cây nêu chính là cây Bùa của đức phật “tặng” cho tăng chúng để làm vũ khí trị ma quỷ. Nó là một hình thức khác của cây gậy trong tay của các hòa thượng mà ta quen gọi là “Thiền Trượng, Tích Trượng” đã cùng các nhà sư truyền đạo hành cước vào nước ta. Truyền thuyết kể rằng: Thường năm, vào những năm giáp Tết dân chúng nô nức sắm sửa, chợ búa. Tối về xay giã gạo thâu đêm để kịp chuẩn bị các vật phẩm, hoa quả bánh trái và các món ăn ngon; là kết quả trong năm của người làm nông dâng lên tổ tiên. Thừa dịp sơ hở cùng khêu gợi, bọn ma đói quỷ dữ lưu vãng khắp nơi kéo nhau về phá dân lành, chúng làm uế tạp các lễ vật rồi còn tấn công các linh hồn tổ tiên, gây rối các vị phúc thần, hộ thần không cho họ vào nhà hưởng lễ. Dân chúng khổ sở mới lấy kinh phật ra tụng, thì thấy dạy rằng. “bọn ma quỷ rất sợ phép của phật”. Và cùng chỉ ngài mới đủ pháp lực trị chúng”. Cho nên dân làng mới cùng nhau đánh lễ “kiện” lên với phật tổ kính xin ngài dùng pháp lực trừ ma quỷ đem lại bình yên cho con người. Phật tổ mới dùng quyền năng vô biên của mình truất đuổi ma quỷ, lệnh cho ma vương phải quản lý chặt chẽ thuộc hạ. Đồng thời phải phân định rõ ranh giới. Nơi nào đất Phật thì chúng không bén mảng tới. Nhưng làm sao mà biết được đâu là đất Phật? Như Lai người dạy rằng: “Ở đâu có vệt vôi trắng có vẽ hình cung tên là ranh giới đất Phật”. Ma Vương nghe xong lãnh chỉ, lệnh cho đám ma quỷ thuộc hạ từ nay không được kiếm ăn ở nơi có dấu hiệu trên, phải tránh xa đất Phật.
Còn Phật tổ lại bày cho các tín đồ đạo hữu của ngài, hãy dùng một cây tre đực cao, trên ngọn treo chuông khánh, cờ phướn trồng ngay trước sân nhà. Xung quanh nhà lấy vôi bột trắng rải đều rồi vẽ hình cung tên để xác lập ranh giới. Từ đó ma quỷ trông thấy dấu hiệu trên thì tránh. Cho nên hễ đến Tết dân chúng nhà nào cũng làm một mâm cỗ dâng lên cúng Phật đồng thời dựng cây tre trước nhà gọi là cỗ Lên Nêu.
Lại có điển tích, nước ta vào triều Lý đời vua Nhân Tông đã có tục trồng cây tre đực vào các mùa vụ, lễ hội hay các tiết trong năm, (Có nơi dùng cây lau) trồng trước sân nhà, trồng ngoài vườn ruộng, ngoài bãi ao hồ, trồng những nơi chủ quyền con người... Trên ngọn cây tre treo nhiều giấy tiền vàng bạc, cau trầu vôi và một số lá dâu tằm, bông lúa để dâng cúng thần linh đồng thời trấn yểm ma quỷ...
Trai qua hàng thế kỷ, tục lệ mỗi ngày một thêm bớt, đổi thay, người Việt chắt lọc giữ lại thói trồng cây tre trước nhà vào dịp tết nguyên đán mà thôi.
Tục trồng cây Nêu qua sách sử
Qua những trang sách sử được người xưa ghi lại việc họ từng thấy và chứng kiến lễ dựng Nêu ngày Tết. Mặc dù vậy, nhưng những trang nghi chép ấy vẫn còn sơ sài, song giúp chúng ta ngày nay hình ra không khí văn hóa lễ tết xưa, cùng những quan niệm biểu trưng đạt thành tiêu chí của cây Nêu.
Ở đàng ngoài (Đầu thế kỉ 17) theo nhà truyền giáo A.derohodes cho biết: “Có tục cây trồng cây Nêu vào những ngày cuối năm, trồng bên cạnh nhà, cây Nêu cao hơn nóc nhà, trên ngọn buộc một cái thúng hay một cái trắp nhỏ đục nhiều lỗ, bên trong có đựng nhiều thỏi giấy vàng bạc... nhằm để dùng cho cha mẹ ông bà quá cố chi trả nợ vào cuối năm khi cần.!”
Ở xứ Thuận Hóa, nơi Chúa Nguyễn đứng chân mở đất phương Nam đã gần hai trăm năm tính đến thời võ vương phúc khoát (giữa thế kỉ 18) nhà buôn tu sĩ nhân vật thân cận của chúa, là coffler đã mô tả trong “lịch sử xứ đàng trong – dẫn theo li tana”(1): ‘ Ngày Tết có tục dựng cây Nêu trước nhà dân cũng như phủ chúa. Trên ngọn cây Nêu buộc một chùm lá xanh, một túm giấy vàng bạc, với ít cọng rơm và một cái giỏ, trong giỏ để mấy đồng tiền thật”. Còn những người dân theo đạo thiên chúa, ông viết: “Họ cũng được cha cho phép trồng cây Nêu trước nhà, nhưng không phải buộc những thứ trên”.
Ở Sài Gòn và lục tỉnh (đầu thế kỉ 19), Trịnh Hoài Đức tác giả của Gia Định thần thông chí, bộ sách đầu tiên và sáng giá nhất viết về đất nam kỳ, cho biết: “Ngày tết có tục dựng cây tre đực, trên ngọn buộc cái giỏ cũng bằng tre, trong giỏ đựng cau trầu vôi, ở bên giỏ có treo vàng bạc và ít lá dừa – gọi là lên Nêu”.
Đầu thế kỉ XX đến những năm giữa thập kỷ năm, sáu mươi nước ta vẫn giữ được tục trồng cây Nêu. Thái Văn Kiển đã mô tả trong Đất Việt trời
Sách địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh cho biết: “Sau lễ đưa ông Táo về trời. Cũng ngày này, người ta trồng cây Nêu ở trước nhà, ngoài ý nghĩa đuổi ma quỷ cho chúng biết là đất đã có chủ, còn có nghĩa để cho ông Táo nhận ra nhà của mình để khi trở về. Thông thường Nêu chỉ cây tre phạt hết cành trừ ngọn. Vào khoảng lưng chừng, có nơi buộc cành đa lá dừa, có nơi treo ít tờ giấy tiền, vài thoi vàng có màu sắc khác nhau, có nơi không buộc gì cả?.”
Theo nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Văn Huyên: “Cây tre tước hết cành, để lại túm lá trên ngọn hoặc buộc vào đó dó một túm lông gà trống, một nắm lá đa hay vạn niên thanh. Gần đỉnh treo một cái võng tre, có buộc những con cá nhỏ, những chiếc chuông con và khánh bằng đất nung phát ra âm thanh nhẹ và êm khi gió thổi. Dưới võng buộc cái mũ thần. Những miếng trầu, lá dứa và gai xương rồng. Ở đỉnh cao treo ngọn đèn để thắp vào ban đêm. Cây Nêu được làm như vậy để chỉ đúng đường cho tổ tiên về ăn tết với người đang sống. Ánh sáng, gai các cành cây mà Nêu mang, bằng âm thanh của các vật làm bằng đất nung phát ra lúc gió thổi làm ma quỷ phải sợ hãi. Ngoài ra người ta còn buộc vào cây Nêu một tấm phên đan gồm 4 thanh dọc, 5 thanh ngang – là thứ bùa yểm trị các cô hồn vất vưởng rất nổi tiếng của các thầy pháp xưa”:
Như đã trình bày ở phần đầu, thời điểm dựng cây Nêu diễn ra sau ngày hăm ba tháng chạp, có nơi lấy ngày hăm nhăm, hăm tám, nhưng đa phần vào ngày trừ tịch (cuối năm). Dẫu thời điểm lên nêu khác nhau, song ngày hạ nêu khá thống nhất – Mồng 7 tết hạ nêu, trước ngày hạ nêu người ta còn làm nhiều lễ nữa, mà các lễ ấy đều phải dựa vào cây nêu. Thí dụ ở vùng Nghệ An (huyện Yên Thành), trước lễ hạ nêu vài ngày người ta làm lễ khai canh. Vật tiến lễ được chuẩn bị là một cái cày nhỏ như đồ chơi trẻ em làm bằng tre khô, phía ngoài có dán giấy ngũ sắc và 2 chiếc thuyền tre nhỏ, trên thuyền có hình người vác cày, vác cuốc, vác bừa, có trâu và người cưỡi trâu, người gánh gồng, người bưng thúng mạ,...rồi đưa tất cả đến nhà thờ Triệu Cơ, là vị sáng lập làng mà nhiều nơi gọi là ông khai canh – treo cày lên ở lưng chừng cây Nêu. còn thuyền thì đặt ở gốc, sau khi dân làng về tựu đông đủthì nổ pháo báo hiệu, lễ khai canh bắt đầu. Một số trai làng mình mặc áo tứ thân, đầu chít khăn thủ rìu, ngang lưng buộc dây lưng xanh, đỏ hoặc vàng, cầm chiếc cày tượng trưng và chiếc thuyền, lượn quanh cây Nêu. Người đi đầu cầm cuốc, người thứ hai vác cày, một vài người sau đi khiêng thuyền, sau cùng có mấy người đánh trống phèng la, và đồng thanh hát bài ca mở hội... Cứ một lần hát xong là cả đoàn quay ngược chiều lên trước gốc Nêu và lại hát bài ca khai canh mở hội... Tiếp đến làm lễ ách mắc trâu mà chủ tế sẽ long trọng đóng vai người cầm cày...
Ngày mồng 7 tết làm lễ trồng Nêu, còn gọi là lễ khai Hạ. Xưa có câu: Khai hạ thì ngã tay Nêu. Ngày khai hạ còn gọi là ngày Nhân Nhật, theo phương sóc Chiêm Thú của Đông Phương Sóc là ngày đấng tạo hóa sinh ra con người, nghĩa là ngày lễ của Người với Trời Đất. Ngày hạ Nêu là ngày vui chung của cả nhà, cả làng, có thể có rước sắc thánh, tế thần thánh, tế Thành Hoàng, tổ chức những cuộc vui như vật cù, cờ thẻ, đánh đu, thi chạy, thi dọn cổ thổi cơm, giờ hạ Nêu có tục hóa vàng mã.
Sang mồng 8 tết, công việc cày cấy, xây dựng, lên rừng xuống biển kiếm kế sinh nhai lại tiếp diễn thường nhật, kéo dài đến hết năm cho đến Tết sau...Cây Nêu trong cung vua Nguyễn
Cây Nêu bấy giờ không còn là thói tục riêng của văn hóa dân gian nữa-ngày Tết triều đình Huế còn ban lệ dựng Nêu. Cây Nêu trong hoàng cung không khác ngoài dân gian mấy, nhưng là những cây tre đực cao to hơn loại thường được dựng trước dinh phủ, đình chùa, dựng trước điện Thái hòa và các miếu trong Đại Nội. Lễ dựng Nêu uy nghiêm, triều đình cử quan tam phẩm trở lên nhận chỉ dụ của vua ra đứng chủ lễ. Trên ngọn cây Nêu treo ấn triện, bút lông, đoản kiếm, cờ phướn; bên cạnh còn treo nhiều giấy tiền, thoi vàng bạc thật. Ngày lên Nêu từ phủ huyện đến triều đình đều nghỉ làm việc, chơi Tết thăm viếng lẫn nhau đến ngày hạ Nêu mới nhập sở khởi sự. Có câu: “Dựng Nêu trước ngõ, ăn chơi suốt tuần” là vậy. Tuy nhiên, Tết trong cung, các quan hàm từ tứ phẩm trở lên phải đến làm lễ chúc mừng nhà Vua, Hoàng Thái Hậu, đến lễ các miếu thờ các Chúa, các vua tiền triều. Cây Nêu trong Đại Nội trên ngọn treo nhiều đồ Quốc bảo và tiền vàng kéo dài đến ngày khai hạ nên phải cắt lính canh giữ cẩn mật. Lễ dựng Nêu triều đình cho bắn chín phát súng lệnh, cáo với đất trời.
Sử cũ cho biết rằng, đời Chúa Nguyễn đã có thói tục dựng Nêu trước phủ điện… Thời vua Nguyễn từ Triều Gia Long đến thiệu trị ngày Tết sai quan quân dựng Nêu, song quy định chưa thật rõ ràng ngày, giờ . Năm Tự Đức 29 (1876), Vua chuẩn định lệ dựng Nêu, hạ Nêu. “Lệ trước: Ngày 30 Tết trồng Nêu, mồng bảy tháng giêng năm sau hạ Nêu đều do Khâm Thiên giám chọn giờ lành, nay chuẩn cho đều lấy giờ Thìn làm nhất định”. (2). Nhưng định lệ này chỉ áp dụng đến Tết 1885- sau này Thất thủ kinh đô, đến triều Đồng Khánh rồi triều Thành Thái thì lễ dựng Nêu lại tùy định ở Khâm Thiên giám.
Năm Duy Tân thứ 9- lễ Tết năm mới (1915) sử chép: “Trước ngày Tết 30 tháng Chạp, từ sáng đến chiều ông Thượng thư Bộ Lễ cho đem các vật lễ (thức ăn, trầu, rượu, giấy vàng bạc,…) vào các miếu hoàng gia: Thái miếu, Thế miếu, Triệu miếu,… Các ông Hoàng và tôn tước được chỉ định do chiếu của Vua cho các sĩ quan cùng đi đến các miếu ấy. Từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều ở tại Kỳ đài, bắn 100 phát súng lệnh và trồng ở trước các miếu hoàng gia, chùa đền, và các cơ quan một cây tre đực. Trên ngọn treo các vật lễ dâng cúng thần, dưới gốc rải vôi bột, cắt người canh, vẽ hình cung tên đuổi ma quỷ”.
Năm Duy tân thứ 10 (vào mồng 4 Tết) “Làm lễ hạ các cây tre lớn mà trước tết quan quân nhận chỉ đã trồng lên tại các đền thờ của triều đình, các chùa, các công sở, các nhà ở của dân. “Bắn chín phát súng lệnh”. Sở dĩ năm ấy hạ Nêu sớm phá lệ cũ vì trước Tết dựng Nêu người ta cho treo ấn điện, nghiên bút lên ngọn, hơn nữa cây Nêu chưa hạ thì mọi việc quan, việc quân đều gác lại chờ. Theo sử cũ, năm ấy đơn kiện nhiều, lưu dân khiếu kiện ăn nằm la liệt ngoài phố phường kinh thành Huế. Vua Duy Tân động lòng trắc ẩn mới xuống dụ hạ Nêu sớm phá lệ là như vậy.
Những năm triều Khải Định thứ nhất, thứ hai… Ngày Tết làm lễ trồng Nêu. Lễ trồng cũng như hạ triều đình đều cho phép bắn pháo lệnh từ kỳ đài Huế. Cùng ngày ấy, quan dân phủ Thừa Thiên khi nghe dứt tiếng súng lệnh mới được phép dọn bày cỗ, làm lễ Thượng Nêu,…
***
Lan man dông dài về những tập hợp cây Nêu ở các vùng, ngoài dân gian cũng như trong triều đình Huế, cho ta thấy rằng: Việc trồng Nêu là một thói tục văn hóa, mặc dù tâm linh tín ngưỡng mang màu sắc thần giáo, ảnh hưởng của đạo giáo khá đậm; xem cây Nêu như là một tổng hợp cây Bùa, người ta trồng Nêu nhằm để trấn yên ma quỷ tà khí, khống chế được những kẻ bất trị trong thế giới siêu nhiên. Cây Nêu trồng thường phải cao hơn nóc nhà, bởi cây càng cao thì bóng ngã càng xa, diện tích lấn càng lớn, thân cây Nêu là một loại cây thiêng nên ma quỷ trông thấy là phải khiếp sợ. Người ta tin rằng những ngày Tết ông táo thổ công đã về quê trời không có ai cai quản lãnh địa gia cư của người; đêm trừ tịch lại diễn ra cuộc bàn giao nhiệm sở theo dõi giữa hai vị Hành Khiển của ông trời phái xuống nên phòng sự tranh tối tranh sáng ma quỷ quấy rối. Con người phải trồng Nêu vào những ngày tết để gác giữ. Tất cả những thay đổi chấp chính ấy nếu thiếu phương pháp trị thì rất dễ sinh ra loạn. Dựng cây Nêu trước nhà, gió xuân thổi, chuông khánh kêu, lá phướn bay để chứng tỏ quyền bất khả của người chủ đất .
Cây Nêu ở nhiều nơi người ta phân chia ra ba phần: Ngọn treo các vật thiêng dâng tiến thần linh và trời, thân giữa treo vật tổ tiên, tổ nghề, khai canh khai khẩn, dưới gốc cúng tạ rắn rết, thổ địa, thần tài, các oan hồn thiêng. Ngoài ra còn treo lên Nêu các loại lá cây chống tà, các loại bùa “tự tạo” của các thầy phù thủy, các bài văn sớ cùng nhiều loại giấy ngũ sắc….lập nên một bàn thờ giữa trời –một bàn thờ chỉ tồn tại trong mấy ngày tết dưới hình thức Nêu! Nó biểu thị các mối giao cảm liên kết giữa ba giới của vũ trụ: Người – Đất – Trời; giữa cái vô hình và cái hữu hình, giữa âm và dương, giữa chính và tà. Cây Nêu còn là một hình thức thờ cúng của cư dân nông nghiệp với việc tôn thờ thần hồn lúa, thần hộ vệ khai phá, đồng thời còn là dấu vết văn háo di dân mở đất.
Trong sách Quốc Âm và cả cách hiểu ngày nay, thì Nêu có nghĩa là bày ra, trưng ra, làm bật rõ vấn đề lên cho mọi người cùng hiểu, rồi đưa lên (trồng cây tre) cho mọi người cùng thấy, là một cách gây sự chú ý khi treo các thứ (chuông, khánh, cờ phướn) vào quanh ngọn để lúc có gió thổi tức thì phát ra những âm thanh kỳ lạ. Người dân vùng huyện Ý Yên, Vụ Bản ( tỉnh
Hồi kỷ niệm Đà Lạt tròn một trăm tuổi, tôi có dịp lên thành phố cao nguyên này dự lễ. Tôi “vô tình” nhìn thấy cây Nêu của tộc người Mạ, người Srê, người Chu Ru cắm trước lán trại dựng dưới lưng núi Lang Biang. Quan sát kỷ cây Nêu của họ không khác mấy cây nêu trong sách vở. Duy có nhiều thứ họ treo thêm của rừng: Lông chim, sừng thú, cung nỏ, một chùm lục lạc bằng bạc, quả bầu khô, gùi nhỏ, tay rượu cần và cả những “lá bùa” làm bằng vỏ cây. Xêm ra nó cũng giống cây Nêu của người Ba Na ở Gia Lai, người Mường ở Thanh Hóa, người Tày ở Cao Lạng …. Bây giờ chỉ thỉnh thoảng mọc lên trong khuôn viên các lễ hội cồng chiêng, lễ đâm trâu, các hội giao lưu văn hóa các dân tộc thiểu số, hoặc mừng cúng cơm mới…
Một ngày trước Tết Canh thìn, tôi theo thuyền đánh cá của gia đình anh bạn người làng Thuận An bơi ra giữa lòng đầm phá, thả câu buông lưới. Cả khoảng trời nước mênh mông xám bạc, tôi ngơ ngác nhìn quanh, đã thoắt hiện vài cánh chim sâm cầm, diệc lửa, cò mồi tụ về sau trận lụt khủng khiếp nhất thế kỷ vừa rồi. Thấp thoáng trong sương mù phía làng nổi Thủy điện, tôi đã thấy một cây Nêu mọc vút lên giữa bãi cắm đầy nò sáo, trên ngọn Nêu dải lụa điều thay lá phướn chập chờn bay. Tôi chợt nhận ra, Chúa xuân đã về chớm đậu trên nóc ngôi nhà chồ xác xơ tiêu điều, đang lần hồi sống lại của cư dân đầm phá Tam Giang
D.P.T









