|
T |
ính dân tộc và tính hiện đại là hai thuộc tính căn bản của nền văn học dân tộc, xử lý đúng đắn mối quan hệ của chúng có ý nghiẽa hệ trọng đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới của chúng ta, đưa dân tộc ta tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Xử lý không tốt có nguy cơ làm chậm bước phát triển nhiều mặt của văn hoá dân tộc, trong đó có văn học và lý luận văn học. Hiện nay có băn khoăn cho rằng tính hiện đại vốn là phản truyển thống, do đó không tránh khỏi mâu thuẫn với tính dân tộc; còn tính dân tộc là sự bảo lưu truyền thống, vì thế mà xung đột với tính hiện đại. Từ đó, xem tính hiện đại là phạm trù cần cảnh giác, bởi vì nó có cơ mài mòn tính dân tộc. Lại có người hiểu tính hiện đại bây giờ trên thế giới là phương Tây, bởi phương Tây là hiện thân của hiện đại, do đó hiện đại hoá cũng đồng nghĩa với phương Tây hoá, tính hiện đại tức là mức độ giống với phương Tây hiện đại, từ sản xuất, tiêu dùng, suy nghĩ, sáng tác… càng giống phương Tây, càng hiện đại,, càng có tính hiện đại. Theo cách hiểu này thì dễ hiểu là càng phương Tây hoá thì càng ít tính dân tộc, tức là đối lấp tính hiện đại với tính dân tộc.
Theo chúng tôi, những cách đặt vấn đề như vậy đều có tính siêu hình và chưa hiểu mối liên hệ khăng khít không thể tách rời của hai phạm trù tính dân tộc và tính hiện đại, đồng thời còn thể hiện định kiến Đông Tây có phần lỗi thời. Trong lịch sử tính dân tộc luôn gắn liền với tính hiện đại. Tính dân tộc hiểu làm tinh thần, tính cách dân tộc, ý thức chủ thể dân tộc, hệ giá trị của dân tộc, gắn liền với sự quan tâm cá tính, sự sinh tồn và phát triển của dân tộc mình. Cứ sau mỗi chiến thắng ngoại xâm, đối diện nguy cơ dân tộc hay đổi thay triều đại thì tính dân tộc lại được thức tỉnh cùng một lúc với nhu cầu hiện đại hoá. Việc Lí Công Uẩn dời đô ra Thăng Long thể hiện ý thức dân tộc mạnh mẽ với khát vọng về sự nghiệp đế vương bền vững muôn đời. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi thể hiện một ý thức dân tộc không phải với nội dung tộc người (ethnics), mà là dân tộc (nation), biểu hiện ở ý thức quốc gia Đại Việt, một ý niệm hiện đại thời ấy. Và kết thúc bài cáo với “Ban bố duy tân khắp chốn” chắc hẳn là có nội dung “đổi mới, hiện đại” mà ta cần tìm hiểu. Tính dân tộc Việt Nam được đặt ra bức thiết nhất vào thời cận đại trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm gắn liền với nhu cầu canh tân. Từ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, đến các nhà tri thức trong Đông Kinh nghĩa thực… không ai là không nói đến tính dân tộc với yêu cầu hiện đại hoá: mở mang việc học, chấn hưng thực nghiệp để có thể cạnh tranh sinh tồn. Tính dân tộc của họ rất mãnh liệt, đồng thời đã mang một nội dung khác xa với tính dân tộc trong quá khứ. Từ yêu cầu của tính hiện đại mà họ nhìn thấy sức mạnh và nhược điểm của người Việt Nam so với người Nhật, người phương Tây, và hiện đại hoá là một nhu cầu, một biểu hiện bức thiết của tinh thần dân tộc.
Nhìn ra các nước phương Tây là cũng thấy tình hình tương tự. Trong phong trào Phục hưng ở châu Âu người ta Phục hưng truyền thống Hy Lạp và Do Thái nhằm chống lại truyền thống trung cổ, theo tinh thần nhân văn. Phong trào cải cách tôn giáo, tức hiện đại hoá tôn giáo của Matin Luther không phải là chống Cơ đốc, mà chỉ là chống giáo hội, bởi vì tín ngưỡng là việc của cá nhân, “tôi tin Chúa Trời thì Chúa Trời tồn tại cùng tôi”. Hiện đại hoá không phải giản đơn chỉ là đối lập với truyền thống mà là phát huy truyền thống. Phạm trù tính dân tộc được đề xuất như là phạm trù ý thức của các dân tộc trong tương quan với các dân tộc khác. Các nhà Khai sáng Đức thể kỉ XVII – XVIII như Herder, Lessing, Goethe đưa ra yêu cầy về tính dân tộc nhằm thống nhất đất nước, chống lại sự phận tán, cát cứ của hàng trăm “nước” nhỏ, trở ngại thông thương làm cho nước Đức lạc hậu. Herder nói “Văn học dân tộc Đức không thể là nô lệ của văn hoá Hy Lạp, không thể không thể là vật phụ thuộc vào các nền văn học mạnh. Ông chủ trương không thể dùng tiêu chuẩn Hy Lạp để đánh giá Shakespeare, không đòi hỏi nước Anh phải sáng tác sử thi như Hy Lạp.” Goethe chủ trương phải là nước Đức thống nhất mới có không gian co các tài năng văn hoá và tài năng nghệ thuật phát triển. Tính dân tộc ở Nga cũng gắn với nhu cầu hiện đại hoá nước Nga. Pushkin đã học rất nhiều ở Byron, nhưng đồng thời ông vượt qua Byron để sáng tạo ra Evgenie Onegin bất hủ, còn nhà văn Gogôl đã viết rất hay về tình trạng lạc hậu của nước Nga trong Những linh hồn chết. Sơ lược vài nét về lịch sử cho hiện đại là hệ giá trị, phương hướng nâng cao tính dân tộc. Nhưng thế xét trong cơ chế phát triển tự nhiện của văn hoá, tính dân tộc và tính hiện đại không phải là xung đột nhau, loại trừ nhau mà gắn kết nâng đở nhau, thúc đẩy nhau. Tính hiện đại trong một nền văn học phải là tính hiện đại của dân tộc, và tính dân tộc phải là tính dân tộc hiện đại.
Chẳng những thế, tính hiện đại có vai trò quan trọng trong việc phát triển tính dân tộc. Nếu không có ảnh hưởng phương Tây hẳn chúng ta chưa có phong trào thơ mới, một đỉnh cao chưa từng có trong thơ ca Việt Nam. Trong bài một thời đại thi ca Hoài Thanh đã nói đến ảnh hưởng văn hoá và thi ca Pháp đối với thơ mới của Việt Nam, nhận thấy “Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp”. … Sự thực đâu có thế. Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hoá hoàn toàn, đồng thời nâng chất lượng dân tộc lên một bước. Điều đó chứng tỏ Việt hoá là động lực nội tại của sự tiếp nhận ảnh hưởng và vai trò của tính hiện đại đối với việc nâng cao tính dân tộc.
Tất nhiên sự bắt chước mù quáng các mẫu mực nước ngoài thời nào cũng có, nhưng như Hoài Thanh nhận xét, mọi sự bắt chước mù quáng tự nó sẽ lập tức bị đào thải. Sự học đòi một thời lối thơ 12 chân, hay những câu thơ leo thang kiểu Maiakovski chẳng có ấn tượng gì trong lịch sử thơ Việt.
Có thời do mục đích đấu tranh nhất định chúng ta dề xướng dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá văn hoá, trong đó, dân tộc hoá và đại chúng hoá thực hiện chủ yếu theo quan điểm giai cấp luận, con khoa học hoá thực chất là ý thức hệ hoá (theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm được coi là khoa học nhất đương thời), chưa thấy hết những cố gắng hiện đại hoá có thành tựu trong giai đoạn văn học 1932 -– 1945, xem phần lớn là lai căng, mất gốc và kết quả là chưa thực sự nhận thấy vai trò của tính hiện đại đối với tính dân tộc.
Có một thời chúng ta hiểu tính dân tộc như là biểu hiện hình thực, đề ra khẩu hiệu sáng tác theo hình thức dân tộc (1951), cụ thể là hình thức ca dao, dân ca. Trong kháng chiến chống Pháp xu hướng dân tộc hoá theo kiểu học tập ca dao như bài Bầm ơi, Bà bủ trong thơ thắng thế so với xu hướng sáng tạo hình thức mới, nhưng kết quả chỉ tạo ra những sáng tác “nhại ca dao”, một hiện tương “lại giống”, cho nên sau 1954 xu hướng sáng tạo hình thức mới lại trỗi dậy, ngoài sự tiếp nối hình thức thơ mới trước 1945 còn có các mẫu mực xô viết và nhiều hình thức thi ca của một số nước Âu Mỹ qua sự giới thiệu của Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh… Một số nhà thơ thầm lặng sáng tạo hình thức mới, hiện đại. Sau đó trong các văn kiện chính thức chúng ta đã điều chỉnh lại, không gọi “hình thức dân tộc” mà gọi là “tính dân tộc” (1960), rồi sau nữa, gọi bằng “bản sắc dân tộc” (1986).
Có thời chúng ta hiểu tính dân tộc như là phạm trù khép kín, bản sắc bất biến và cho rằng càng dân tộc thì tự nhiên càng có tính quốc tế, vì góp phần cá tính dân tộc cho sự đa dạng của văn học thế giớ. Quan niệm ấy tuy là có cơ sở, nhưng không tính đến sự tương tác, đối thoại, giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn học. Chỉ cần so sánh văn học Việt Nam qua các thời kì tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Trung Hoa, văn học Pháp, văn học các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô và ngày nay, văn học của toàn thế giới, tính dân tộc của văn học Việt Nam đã biến đổi rất nhiều, bao gồm cả sự tụ phủ định để vượt lên chính mình. Phải chăng do coi nhẹ tính hiện đại mà đã làm chậm bước phát triển của văn hoá, văn học Việt Nam?
Sự phát triển mạnh mẽ của các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Đài Loan… khiến chúng ta suy nghĩ về mối quan hệ về tính dân tộc và tính hiện đại của họ. Khẩu hiệu “tiếp thu có lựa chọn, có phê phán” tính hoa nước ngoài mà chúng ta ta thường khẳng định thực tế là một sự hạn chế theo quan điểm giai cấp nhất định, những tinh hoa tư sản nhất định là phải phê phán và không tiếp thu.
Ngày nay không còn có điều kiện cho tính dân tộc tự nhiên nhi nhiên nữa. Nhiều yếu tố phương Tây đã thành yếu tố nội tại của văn hoá dân tộc mình trong thời hiện đại. Chẳng hạn quan niệm về thời gian (theo lịch Tây, tuần Tây, ăn tết Tây, nghỉ thứ bảy, chủ nhật…), về lịch sử (lấy công nguyên làm chuẩn, tính lịch sử theo thế kỉ, phân biệt cổ đại, trung đại, hiện đại…), khoa học (các hệ đo lường, hệ thuật ngữ…), kinh tế văn hoá, các thể loại văn học hiện đại. Nhưng tính dân tộc không hề mai một. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá đã xác nhận vị thế ở giữa các nền văn hoá lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, văn hoá Việt Nam ít có tính độc sáng mà thiền về tính thực dụng, tính hỗn dung trong tu duy và có độc sáng, và ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá khuynh hướng đó càng bộc lộ đạm nét. Đây là điểm khác với nhiều nước châu Âu do truyền thống giao lưu mật thiết lâu đời văn học của họ cũng có tính hỗn dung, nhưng điều đó không trở ngại cho tính độc sáng.
Là ý thức về dân tộc, tính dân tộc gắn liền với tâm thế dân tộc, thân phận dân tộc, tức là lấy hạt nhân giá trị văn hoá dân tộc làm cơ sở của mình. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hôm nay, lòng tự hoà về võ công không xoá bỏ được mặc cảm về sự thua lép, lạc hậu, về khoảng cách xa so với các nền văn học tiên tiến trên thế giới. Cái mặc cảm ấy tạo nên tư cách, tư thế của người cứ lẽo đẽo chạy theo, bắt chước giá trị của các nền văn học có thành tựu tiên tiến, mà tính bắt chước có thể nhìn thấy được trong nhiều biểu hiện của văn học và lí luận, phê bình. Đằng sau mặc cảm thua lép ấy tuy vẫn là khát vọng vươn tới các giá trị nhân loại và tự khẳng định giá trị văn hoá của dân tộc mình, nhưng bản tân mặc cảm đã làm tê liệt tinh thần phê phán và sáng tạo. Làm sao vượt qua mặc cảm bắt chước, nêu cao tinh thần phê phán, tìm con đường riêng để có tính độc sáng là vấn đề bức thiết nhất đối với văn học là lí luận văn học Việt Nam hiện nay. Tinh thần phê phán mà tôi nói đây là phê phán trên lập trường khoa học nhằm tim ra chỗ khuyết để sáng tạo chứ không phải phê phán theo quan điểm giai cấp định kiến thời nào.
Ở đây cần khắc phục quan điểm tiến hoá luận giản đơn trong văn hoá và văn học. Theo quan niệm này (mà người đề xướng đầu tiên là Herbert Spencer, 1820 - 1903), các nền văn hoá cũng giống như các loài trong sinh vật, phát triển từ thấp lên cao, văn hoá cao thì tồn tại, văn hoá thấp thì bị đồng hoá, các nền văn hoá trên thế giới đi theo hường đồng quy, và văn hoá thế giới không tránh khỏi theo hướng Âu, Mĩ hoá. Lý thuyết này tuy biện hộ cho quan điểm bá quyền văn hoá trên thế giới, phủ nhận đa dạng văn học và hăn hoá, nhưng không phải không có chút cơ sở thực tế do sự phát triển không đồng đều của các nền văn hoá, văn học trên thế giới. Do đó sự phân hoá giữa nền văn hoá, văn học phát triển và nền văn hoá, văn học ít phát triển là một sự thật. Chúng ta cần học hỏi họ, nhưng không phải bắt chước những thủ pháp bên ngoài. Văn học giai đoạn 1932 – 1945 để lại nhiều mẫu mực về việc học tập sáng tạo mà chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc. Chủ nghĩa đa nguyên về văn hoá và văn học (bắt nguồn từ Oswald Spengler, 1880 – 1936, Franz Boas, 1858 1942) chủ trương các nền văn hoá và căn học có giá trị độc lập không thể so sánh, do đó, “càng có tính dân tộc càng có ý nghĩa thế giới” thì tuỳ biện hộ cho giá trị văn hoá của các dân tộc nhỏ, yếu, song lại không thấy sự giao lưu, tác động lẫn nhau tạo nên giá trị nhân loại và thế giới. Toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại vừa là có tính nhất nguyên, vừa có tính đa nguyên, chỉ dựa vào một trong hai tính chất đó đều là không đúng. Tuyệt đối hoá sự độc đáo dẫn đến hạn chế giao lưu, tiếp nhận sẽ làm nghèo văn học dân tộc.
Cơ sở của sự thống nhất trong nhân tính. Nhân tính, theo nhà văn hoá học Anh Bronislaw Malinowki (1884 - 1942) trong sách Lí luận khao học về văn hoá là nhu cầu thoả mãn tính sinh vật của con người, như hít thở không khí, được ăn, uống khi đói khát, khi “bức xúc” được bài viết, nhu cầu được ân ái, mệt được nghỉ ngơi, ốm đau được chửa trị, buồn chán được giải toả, gặp nguy hiểm được giải thoát…đều là nhân tính. Với nhân tính đó mọi người đều hiểu nhau. Nhưng mặt khác, sự thoả mãn các nhu cầu ấy lại rất khác nhau do trình độ sản xuất và sắc thái dân tộc: từ cách sản xuất, chế biến thức ăn đồ uống đến kiểu cách ăn uống, phong tục tập quán, giá trị tinh thần…phủ lên nhân tính một cơ chế văn hoá, hệ thống giá trị rất khác biệt, ngoài ra từ nhu cầu thoả mãn nhân tính kia còn nảy sinh hàng loạt quan hệ thân sơ, xã hội, các quan niệm về dân chủ, công bằng, lương tri, nhân đạo, lí tưởng…vừa có giá trị nhân loại vừa có giá trị dân tộc. So với giá trị dân tộc có tính phạm vi, tính địa phương, tính lịch sử bền vững, giá trị nhân loại có tính phổ quát, vĩnh hằng. Những cộng đồng người một dân tộc sống trong lòng đất nước khác, tiếp nhận giá trị văn hoá của dân tộc khác trong đời sống, nhưng không thể bỏ các giá trị văn hoá sơ đẳng của dân tộc mình như tiếng mẹ đẻ, thờ cúng gia tiên, hiểu biết lịch sử. Những nhà văn định cư nước ngoài, sáng tác bằng tiếng nước ngoài trong sâu xa vẫn có dấu ấn dân tộc (Kundera, Cao Hành Kiện…). Tính nhân loại là thước đo giá trị của tính dân tộc và tính hiện đại.
Tính hiện đại theo nhận thức hôm nay là một phạm trù văn hoá và văn học, có nhiều nghĩa, nhiều xu hướng mâu thuẫn, kể cả có lúc loại trừ nhau. Tính hiện đại từng được gọi là “suy đồi” (đecânt), là phản truyền thống. Tính hiện đại trong sáng tác văn học là sự hình thành những nguyên tắc sáng tác mới trong các trường phái văn học nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa. Trong văn hoá, xã hội học, chính trị học, triết học, triết học tính hiện đại là một sự phản tư về các giá trị hiện đại. Nhìn chung, tính hiện đại là sự thay đổi hệ hính tư duy, hệ thống giá trị, sự hình thành một giai đoạn văn hoá mới trong đời sống dân tộc và nhân loại. Tuỳ theo bối cảnh của mỗi nền văn hoá mà tính hiện đại có nội dung khác nhau. Đổi thay hệ hình tư duy thực chất là cách mạng trong tư tưởng, học thuật, là sự thay đổi truyền thống dân tộc. Đối với các nước đã trải qua thời kì Khai sáng, qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa, đi đến thời đại công nghiệp, hậu công nghiệp, nội dung hiện đại có thể sẽ chuyển sang hậu hiện đại, còn đối với quốc gia như Việt Nam, do điều kiện lịch sử, chưa qua khai sáng, chưa có kinh tế công nghiệp, nền dân chủ chưa phát triển, thiết nghĩ nội dung tính hiện đại phải bao gồm hầu như toàn bộ các yêu cầu của một xã hội hiện đại. Trước đây chúng ta nghĩ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, nhưng thực tế chúng ta không thể không thực tập làm kinh tế với một giai đoạn phát triển lớn của nhân loại. Cũng như vậy chúng ta cần phát triển toàn diện đến tận độ mọi giá trị hiện đại như tự do, dân chủ, chủ thể, cá nhân, cái tôi, lí tính, ý niệm quốc gia, công dân, đối thoại. Chúng ta cũng cần tiếp nhận các quan niệm hậu hiện đại bởi trong đó hàm chứa tinh thần phê phán tính hiện đậi. Đối với người Việt Nam cái quan trọng nhất hiện nay là tinh thần phê phán để chống lại sự bắt chước sống của thế giới của thời kì toàn cầu hoá.
Chưa bao giờ Việt Nam trải qua một thời kì văn hoá có nhiều đảo lộn về giá trị như hiện nay. Cả một xã hội đang rung chuyển và đổ vỡ vì sự chuyển mình thực dụng, thiển cận của cơ cấu kinh tế, cơ cấu đất đai, chế độ quản lí, các loại dự án, các loại dịch vụ… Toàn bộ môi trường sống và phong tục tập quán đang thay đổi dữ dội mà có lẽ chưa ai hình dung được nay mai xã hội ta sẽ như thế nào ngoài mấy con số dự báo sơ sài. Đây là thời kì làm tổn thương tính dân tộc và xây đắp lại tính dân tộc. Trước mắt chúng ta có thể nhận thấy tình trạng nửa vời trong sự phát triển các giá trị hiện đại. Nhìn đại thể có vẻ cái gì cũng có, mà chưa có gì thực gọi là có ta chưa có gì phát triển đến mức chín muồi hoàn thiện, nhưng đồng thời nó cũng đã nhiễm phải những căn bệnh thời đại của các nước mà lí tính đã bị lạm dụng. Chẳng hạn trong một nước mà luật pháp chưa phát triển đầy đủ thì đương nhiên quyền làm chủ của người dân còn rất hạn chế, ý thức cá nhân cũng chưa phát triển, có người chưa biết rõ được quyền của mình đến đâu và làm cách nào để bảo vệ quyền lợi của mình. Mà một khi con người chưa thực sự làm chủ bằng pháp luật thì mọi hoạt động của nó đều chưa thể được phát triển mọi tiềm năng sẵn có. Chúng ta đang muốn thay đổi toàn bộ giáo dục theo trình dộ quốc tế, liệu có truyền thống giáo dục dân tộc nào đáp ứng được yêu cầu đó? Một xã hội chưa chuẩn bị đầy đủ để hội nhập quốc tế mà bắt buộc phải nhanh chống hội nhập tất yếu nảy sinh nhiều vấn đề không lường hết được. Tính hiện đại của Việt Nam theo chúng tôi là những vấn đề đặt ra bức xúc nhất trong cuộc chuyển mình của xã hội lạc hậu Á Đông theo xu thế toàn cầu hoá. Với hệ hình tư duy hiện đại chúng ta sẽ nhìn rõ các giá trị bền vững của dân tộc cùng những lạc hậu, bất cập của nó trong cuộc đổi thay xã hội hiện đại. Bám sát số phận dân tộc, số phận đông đảo nông dân, trí thức trong suốt một thế kỉ và chuyển sang thế kỉ mới với rất nhiều bi kịch, hài kịch, hi vọng, thất vọng chắc chắn văn học ta có thể góp phầm làm phong phú cho văn học hiện đại.
Xây dựng hệ hình tư duy hiện đại, bao gồm cả hậu hiện đại không phải đơn giản là bê nguyên xi theo lối bắt chước mù quáng mọi giá trị Âu Mĩ, mà có sự phản tư cân nhắc. Ở đây có nhiều đọc nhầm và ngộ nhận, định kiến và cố ý mà không phải lúc nào cũng có thể kiểm soát và đồng nghĩa với sai lầm. Chủ nghĩa phương Đông của E. Said là hiện tượng rất có ý nghĩa để nhìn lại quan niệm phương Tây về phương Đông mà nhiều người phương Đông đến nay vẫn tiêm nhiễm một cách sâu sắc. Văn học huyền ảo châu Mĩ La Tinh là một ví dụ độc sáng của văn học phi phương Tây. Tagore và Kawabata là những ví dụ kết hợp thành công của dân tộc và hiện đại của văn học phương Đông. Văn học Trung Quốc hiện đại từ thời cải cách mở cửa đã từ giả truyền thống Nga mà ngả hẳn về phương Tây, đặc biệt là Mĩ, nhưng theo nhận định mới đây của một nhà nghiên cứu Trung Quốc, cho đến nay văn học Trung Quốc vẫn chưa ra được vũ đài thế giứo, nghiên cứu lí luận Trung Quốc vẫn chưa được trích dẫn trên thế giới(1). Cũng vậy từ những năm 90 Trung Quốc đã đổ tiền của để xây dựng đẳng cấp quốc tế, nhưng theo thừa nhận của Bí thư Đảng uỷ Đại học Bắc Kinh năm 2008 thì đại học này vẫn còn khoảng cách xa đối với các đại học hàng đầu trên thế giới(2). Điều đó nói lên rằng sự nghiệp hiện đại hoá văn hoá, văn học không thể một sớm một chiều mà hoàn thành, và lối chạy theo, bắt chước không có gì hứa hẹn. Điều then chốt là nâng cao ý thức dân tộc, lòng tự trọng dân tộc và ra sức tiếp nhận hệ hình tư duy hiện đại, khắc phục lối tư duy cũ kĩ để sáng tạo những giá trị dân tộc ngang tầm thời đại
T. Đ.S
(1) Tác giả Khang Khải trên báo Trung Hoa độc thư báo, ngày 29 – 4 -2009 có bài: Những năm 90 đã qua văn học Trung Quốc vẫn chưa ra với thế giứo, trong đó dẫn lời của Ben Blanchard phát biểu ngày 23 – 4 – 2009 cho rằng “Nhà văn Trung Quốc trước sau vẫn chưa có được ảnh hưởng quan trọng có tính toàn cầu.” và Jo Lusby cho rằng “Nhà văn Trung Quốc viết về Trung Quốc, cho người Trung Quốc, tôi cũng muốn giới thiệu sang phương Tây, nhưng độc giả phương Tây không có được kiến thức lịch sử Trung Quốc để hiểu được họ”.
(2) Ông Mẫn Duy Phương, bí thư Đảng uỷ Đại học Bắc Kinh trả lời phỏng vấn ngày 11 - 6 - 2009 cho biết, sau 10 năm thực hiện dự án 985 xây dựng đại học hàng đầu thế giới đã thừa nhận: “Chúng ta còn cách các đại học hàng đầu thế giới một khoảng cách lớn”(http:// www.sina.com.cn)









