|
K |
hi bàn về văn hóa, có một nhà dân tộc đã nói rất đơn giản rằng:Tất cả những gì không phải là thiên nhiên thì đều là văn hóa. Dĩ nhiên, bản thân thiên nhiên không phải là văn hóa nhưng thiên nhiên chịu sự khúc xạ của người cảm nhận. Trong hoài niệm, nhà văn Vũ Bằng nhìn thiên nhiên lung linh hơn, ảo diệu hơn, với một niềm yêu mến đến đắm đuối. Thiên nhiên ấy có ý nghĩa thanh lọc tâm hồn con người, đủ sức vực con người ra khỏi những toan tính đời thường để hòa lẫn vào thiên nhiên với cảm xúc viên mãn nhất, tinh khôi nhất.
“Thương nhớ mười hai” là một bức tranh lớn, mỗi tháng mỗi mùa là những gam màu xinh xắn tạo nên vẻ đẹp muôn màu sắc dưới nét vẻ tài hoa của “họa sĩ Vũ Bằng”. Những vần chuyển của năm tháng kéo theo sự đổi thay của cảnh sắc thiên nhiên. Hơn ai hết, nhà họ Vũ cảm nhận sự đổi thay ấy tinh tế vô cùng để rồi bật ra thành những dòng miêu tả thiên nhiên Hà Nội làm say lòng người. Ở đây xin được khảo sát thiên nhiên “trăng non rét ngọt”, “rét nàng Bân”, “mùa thu” như là những biểu tượng của bản sắc văn hóa Hà Nội.
Tháng giêng, tháng mở đầu của một năm, non nớt và tinh khôi như đứa bé mới chào đời. Cuộc đổi thay kỳ diệu của tiết trời tháng giêng như men say thấm vào da thịt tác giả đến nỗi anh tương tư nó đầu tiên trong dòng hoài niệm triền miên của mình. Tháng giêng không còn cái rét căm căm tím tái của da thịt mà Vũ Bằng gọi cái rét ấy là “rét ngọt”. Đó là cái rét của cảm xúc, của yêu thương. “Bảo là nóng ư ? Không. Bảo là rét ư ? Không. Thời tiết lúc đó kỳ lạ lắm: mịn màng như thể đất rừng Đà Lạt sau một đêm sương, và, qua những kẻ lá chỏm cây, có những bông hoa nắng rung rinh trong bể nước”. Cái rét ngọt ngào ấy khiến lòng người rạo rực, muốn yêu thương. Tố Hữu có cảm nhận rất tinh tế về cái rét Hà Nội:
Hà Nội duyên thầm lặng lẽ xuân
Lưa thưa mưa bụi rét tần ngần
(Duyên thầm - Một tiếng đờn)
Nếu “rét tần ngần” của Tố Hữu đọng lại thành “duyên thầm” Hà Nội thì cái “rét ngọt ngào”, “rét một cách tình tứ nên thơ” của Vũ Bằng làm nên chất kỳ ảo của tiết trời tháng giêng Hà Nội. Và trong nỗi nhớ, cái rét ấy làm ấm lòng người khách xa xứ luôn khắc khoải hướng về cố hương.
Cái rét ngọt của Vũ Bằng làm cho những ai chưa đến Hà Nội lần nào cũng giăng mắc một nỗi niềm gì đó trong lòng. Và trong đêm xanh biêng biếc, trời rét nên thơ ấy có điểm xuyết một vầng trăng non làm cho bức tranh thiên nhiên tháng giêng thêm thú vị. Vũ Bằng đã ví von cái đẹp của trăng tháng giêng “non như người con gái mơn mởn đào tơ”, lộng lẫy và đáng yêu vô cùng. “Cái đẹp của trăng tháng giêng là cái đẹp của nàng trinh nữ thẹn thùng, vén màn cao ở lầu cao nhìn xuống để xem ai là tri kỷ , mặc dầu không có ai thấy để đoán biết tâm sự mình, nhưng cứ thẹn thùng bâng khuâng, thẹn với chính mình. Ánh trăng lúc ấy không vàng mà trắng như sữa, trong như nước ôn tuyền. Đi vào giữa ánh sáng mơ hồ ấy, mình cảm như thấy mình bay trong không gian vô bờ bến”.
“Trăng non rét ngọt” làm nên bản sắc tháng giêng Hà Nội. Và trong hoài niệm của Vũ Bằng, cái đẹp ấy lung linh hơn, tỏa ngời hơn.
Chìm đắm ngất ngây giấc mộng về hoa đào trong đêm tháng hai, Vũ Bằng bất chợt tỉnh giấc xuân và ngỡ ngàng bước vào thế giới huyền ảo của tiết trời tháng ba. Và anh đã vận dụng mọi giác quan để cảm nhận sự tinh tế, ảo huyền của trời đất. Anh lắng nghe tiếng thở của đất trời buổi tinh sương “Sương móc ban đêm rửa hóa lá cỏ cây, rửa cả cát bụi trên các nẻo đường thành phố”, tiếng chim hót ríu ran “đánh thức những người đang còn thiêm thiếp” , “tiếng reo của gió, của mây, của cây, của lá”. Anh say sưa nhìn lên trời với cảm xúc viên mãn lắm thì thấy “những đám mây hồng tỏa ra một thứ ánh sáng trắng như sữa, nhẹ như bông, tràn lan trong không khí và úp chụp lấy các lùm cây nội cỏ”. Chỉ trong khoảnh khắc, anh cảm nhận được những cánh gió cõng cái rét đầu xuân trở về. Anh nhạy cảm đến nỗi “giẫm đôi giày lên trên đất mịn màng, anh cảm thấy cái mát mẻ của đất, của sương vương trên cỏ thấm vào lòng anh y như thể anh đi chân không vậy”…Không cần bảng vẻ, bút màu, không cần công phu pha màu nhưng Vũ Bằng đã vẽ nên một bức tranh đất trời kỳ ảo tháng ba đẹp hơn mọi bức tranh bằng những chuỗi ngôn từ. Và nếu không có tấm lòng hướng vọng quê hương đau đáu, không có nỗi nhớ da diết về quá vãng làm sao anh viết thành thực và say mê đến vậy.
Tâm trạng của một tình nhân đối với cố nhân và cố hương hồi hộp dẫn ta vào lối thiên thai.Và vì “yêu không kỳ quản” nên Vũ Bằng ví tháng ba với cô gái có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành thật có ấn tượng. Chao ôi! Thương nhớ quá nên Vũ Bằng phân bua: “Tôi chỉ thích nghĩ rằng cái rét đôi khi bất ứng trở về với tháng ba là một cái rét thơ mộng, cái rét của một trời đầy hương và ngát hoa”. Tháng ba ảo diệu hơn bởi cái rét muộn màng: rét Nàng Bân. Nàng Bân buồn ứa lệ vì “Thương người ở bên trời, ngay từ khi giá rét bắt đầu, nàng đã lo gửi áo cho chồng” nhưng đan “ba tháng ròng mới được cửa tay” nên Vũ Bằng đã gửi gắm tâm sự của mình đằng sau câu kết nhỏ này: … “ai đã từng rét cái rét ấy, sầu cái sầu ấy đôi lần, tất đều nhận thức được rằng cái rét ấy còn chứa đựng một cái đẹp như thế hay hơn thế…”.
Dẫu tháng ba được ghi bằng tên huyền thoại rét nàng Bân trong niềm nhớ nhung cồn cào, Vũ Bằng không thể không nhớ đến đặc trưng cây quả tháng ba là cây sầu đông và cây bàng. Tháng ba với vẻ đẹp mỹ nhân cà lá bàng, lá sầu đông cũng đẹp vô tư như con gái dậy thì. Đầu tháng, “lá xanh non màu cốm gió dún dẩy đu đưa một cách đa tình làm cho người đa cảm tưởng tượng như cây cối giơ những khăn tay bé nhỏ xanh xanh vàng vàng ra chào mừng, vẫy gọi”. Lá bàng ấy đâu còn là thực nữa mà trong hoài niệm của tác giả, lá bàng mang hơi thở của một khách đa tình và làm say lòng người đa cảm. Trong miền ký ức xa xôi, lá bàng của quê hương luôn vẫy gọi anh về với chính anh đã nâng nó lên tầm văn hóa.
Cảnh sắc tháng ba thêm huyền diệu bởi dáng hoa sầu đông bé bỏng “phơn phớt màu hoa cà êm êm”, mùi thơm mát mẻ, dịu dàng níu chân người khách đà xuân tứ. Và giữa cái ân sủng của đất trời như thế “anh thấy tim anh nhoi nhói”. Một cảm giác rất thực, rất nhân văn bởi lẽ trái tim nhạy cảm của Vũ Bằng sung sướng quá, yêu si mê quá và bé nhỏ quá trước vẻ đẹp kỳ diệu của đất trời.
Trong “Thương nhớ mười hai”, tháng ba được ghi tên của một người đàn bà: rét nàng Bân. Tháng ba dịu dàng, tinh khôi và thẳm sâu như tâm hồn của một người đàn bà đất Việt. Giữa thời gian đầy ý vị, không gian thiên nhiên chợt khởi sắc, ngồn ngộn sức sống và tác giả bấu víu nó như niềm an ủi nhỏ nhoi. Rét nàng Bân, cây bàng, cây sầu đông trong một miền thiên lý tương tư của Vũ Bằng như một tình nhân đa cảm, đa sầu và dường như xa nhau đã lâu mà không hề lỗi nhịp trái tim. Nét văn hóa của thiên nhiên trong tiết trời tháng ba là ở chỗ đó.
“Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ…” lời hát du dương của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đưa tôi lạc bước vào thế giới huyền diệu của mùa thu Hà Nội. Nhưng chỉ đến khi lật “Thương nhớ mười hai”, tôi mới hiểu tường tận và yêu mến thiên nhiên Hà Nội vào thu.
Mùa thu mang cái buồn “se sắt, đẹp não nùng”. Vũ Bằng phải thốt lên: “Quái lạ cái mùa thu kỳ diệu: tự nhiên trời chỉ đổi màu, gió chỉ thay chiều làm rung một cái lá ngô đồng, thế là bao nhiêu cảnh vật đều nhuộm một cái màu tê tái, làm cho lòng người đa cảm tự nhiên thấy se sắt, tư lường. Thế là trời đất cỏ cây tự nhiên hiện ra dưới một lăng kính mới: trăng sáng đẹp là thế cũng hóa ra buồn, trời đất bát ngát yêu thương như thế mà cũng hóa ra tê tái, sông nước đẹp mênh mông như thế mà cũng hóa đìu hiu lạnh”. Nhà văn nhận ra rằng cái đẹp của mùa thu một phần tỏa ra từ ánh trăng thu huyền ảo “không có mùa nào trăng lại sáng và đẹp như trăng thu”. Ánh trăng thu trong trẻo quá, kỳ ảo quá đến nỗi phu thê dắt nhau đi vào ánh trăng ấy mà “có cái gì đẩy chân đi nhè nhẹ vào cõi mê ly thần thoại”.
Nếu Hàn Mặc Tử có một vầng trăng đa tình, lả lướt: Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi thì trăng trong hoài niệm của Vũ Bằng còn khéo đa tình hơn: “Trăng dãi trên đường thơm, trăng cài trên tóc ngoan ngoan của những khóm tre xào xạc; trăng thơm môi mời đón của dòng sông chảy êm đềm, trăng ôm lấy những bộ ngực xanh của những trái đồi ban đêm ngào ngạt mùi sim chín…trăng ơi, sao trăng khéo đa tình, cứ đi hoài theo chân cô gái tuyết trinh và lẻn cả vào phòng the của người cô phụ lay động lá màn chích ảnh? Trăng tan vào trong mắt, trong thân thể người vợ yêu thương và ngay cả nhà văn cũng chung niềm nao nức có trăng trong mình. Trăng ở trong lòng mình cũng lung linh một thứ ánh sáng màu xanh huyền diệu, thắm hoa hương, làm cho cả tâm óc chơi vơi, rung động”. Trăng và người đạt tới trạng thái hòa đồng tuyệt đích như thế đó. Và trăng làm cho con người ta yêu hơn cuộc sống này: “Làm cho người ta buồn nhưng vẫn cứ muốn sống để hưởng cái bàng bạc trong khắp trời cây mây nước - nếu chết đi thì uổng quá”. Trăng còn là biểu tượng cho những gì viên mãn đã qua của mảnh đời Vũ Bằng và trong nỗi nhớ cố hương, ánh sáng lung linh của trăng đưa tới cho cuộc đời ông một niềm tin dẫu còn rất mơ hồ.
Những thoáng run rẩy của thời tiết, những biến đổi kỳ diệu của đất trời cây cỏ đều được Vũ Bằng tiếp nhận hết sức tinh nhạy. Bởi thế, những trang văn miêu tả thiên nhiên Hà Nội như một ma lực hấp dẫn người đọc. Cái hồn văn hóa Hà Nội được nhà văn thổi vào “trăng non rét ngọt”, “rét nàng Bân”, “mùa thu” khiến nó trở thành những biểu tượng của bản sắc văn hóa Hà Nội. Chính điều này góp phần làm nên tinh hoa cho thiên tùy bút “Thương nhớ mười hai”.
N.T.T.H









