|
C |
ó hai sự kiện nổi bật đối với đời sống văn học trong hai năm qua, Ngày thơ Việt Nam cùng với sự xuất hiện Cờ Thơ và Báo Thơ ra đời. Đây là những sự kiện có ý nghĩa xã hội rộng lớn, nhất định sẽ được ghi vào lịch sử Văn học nước nhà đầu thế kỷ 21.
Sự kiện thứ nhất biểu thị thái độ, xác định vị trí của thơ trong xã hội. Thơ cũng như mọi lĩnh vực khác cần có một chỗ đứng xứng đáng, một ngày để kỷ niệm, dù thơ đã xuất hiện hàng vạn năm nay. Sự kiện thứ hai biểu thị khát vọng của người đọc cũng như người viết, cần có một diễn đàn nghiêm túc dành cho thơ, một mảnh đất tốt để thơ gieo hạt giống thể nghiệm, trải nghiệm. Qua đây chứng minh rằng thơ Việt đang chuyển đổi có tính cách mạng, một mặt do thúc bách của xã hội, mặt khác tự bản thân nội tại, thơ cần phải đổi mới.
Sự chuyển đổi này, mặc nhiên, độc giả lẫn người sáng tạo dễ bị phân hóa làm hai cả về nhận thức, cả về sáng tác. Đây là sự phân hóa mang tính ngẫu nhiên khách quan, nhưng chưa hẳn đi đến thống nhất trong một thời gian ngắn. Có thể xem đây là một cuộc chuyển đổi mang ý nghĩa văn hóa, một cuộc chuyển đổi mỹ học, một cuộc chuyển đổi sáng tạo ra cái đẹp.
Bây giờ, nếu có bài thơ in trên mặt báo, lập tức kéo theo hai luồng cảm nhận, đánh giá, khen chê, nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau, có khi đối lập nhau. Người khen cho rằng hình tượng, biểu cảm mới, câu thơ bật ra ngoài ý thức người viết. Kẻ chê cho rằng bí hiểm, đánh đố, làm xiếc ngôn từ trên dây. Hoặc là, người khen khen câu thơ đậm đà hương vị dân gian, nhịp điệu cuốn hút người nghe, thấm đẫm chất truyền bá và, kẻ chê chê viết như vậy chỉ cần đọc một bài là đủ, con đường ấy quen thuộc đến nhàm mòn cả cảm xúc... Người khen và kẻ chê đều có sức lôi cuốn cả ngàn người về phía mình, có khi không thể gặp nhau mà ngày một xa ra. Trong khi bài thơ là một thực thể đứng yên. Nó chính là nó, không phải là của anh hoặc của tôi. Khen không đúng nó vẫn là nó, chê không đúng nó vẫn là nó. Sự dằng kéo về nhận thức dẫn đến tất cả đứng ngoài nó.
Vấn đề không phải tìm cách hòa giải nhận thức, mà làm sao vươn tới nhận thức đúng tác phẩm nghệ thuật?
Bài thơ không phải là một sản phẩm của người đi gom nhặt, kiểu như sưu tập các hiện vật lạ trong trời đất. Cái võ chai này khác cái võ chai anh từng có. Cái mũ này anh chưa đội lên đầu bao giờ. Thơ không là sản phẩm cụ thể sờ thấy, dễ nhận biết. Thơ là sản phẩm trừu tượng, đã là trừu tượng thì có cả ngàn cách thể hiện, ngàn con đường đi tới. Hơn nữa nó là sản phẩm trừu tượng của cảm xúc được viết ra bằng ngôn ngữ người đời. Chính nó đấy mà nhiều khi đâu phải là nó. Bởi rằng cái mà thơ hướng tới không chỉ có mỗi một mục tiêu, một con đường. Thơ đang hướng anh đi tới mục tiêu này, đồng thời có khả năng giúp anh tìm đến mục tiêu khác. Thơ đang hướng đạo cho anh qua con đường này, nhưng anh có thể tự mình rẽ sang lối khác nữa. Thơ linh diệu là thế.
Hai câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Một thời bị các nhà phê bình coi đó là những hạn chế về tư tưởng định mệnh của Nguyễn Du. Bởi tại người ta chỉ đọc nó, đánh giá nó ở một góc nhìn hạn hẹp. Ở góc nhìn khác, câu thơ trên ứng vào nhiều hiện tượng trong cuộc sống như một triết lý nhân sinh giúp người ta tự cảnh báo chính bản thân, cảnh báo trong nhiều tình huống xã hội khác nữa.
Tôi xin dẫn hai đoạn thơ của mình, hàm ý muốn bàn thêm đôi chút về thơ:
tôi không có gì
tôi như cái bóng vô tích sự
khi tôi không là tôi
trong tôi còn một con người khác nữa
người ấy nói rằng:
- tôi là cái chính tôi không nhìn thấy
Bạn có đồng ý với tôi rằng, cứ mỗi lần làm xong bài thơ, câu hỏi đầu tiên sẽ là cái gì giúp ta sáng tạo ra nó? Những câu thơ ta viết lên mặt giấy kia dường như không phải của ta, nó quen quen đấy nhưng cũng rất lạ. Ai đó đã giúp ta. Ai thế? Thật khó trả lời. Bởi vì kích cỡ ngôn ngữ, âm thanh nhịp điệu tạo ra nó không phải là lối tư duy mực thước thông thường trong đời sống giao tiếp hàng ngày.
Đã là sản phẩm sáng tạo, thơ có khả năng tạo ra nguồn năng lượng không nhìn thấy. Không nhìn thấy, không có nghĩa là không có, chỉ chưa nhìn thấy được, nhìn thấy hết mà thôi. Nguồn năng lượng bí ẩn ấy đi trước cả ngôn ngữ, một xung năng ngoài ý muốn chủ quan của cảm xúc, gây nên những bùng nổ bất ngờ. Như vậy, tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng mang đến cho người đọc, người xem, người nghe những cảm xúc mới mẻ, mở ra trường hấp dẫn, một thế giới thẩm mỹ phong phú. Vì thế sự phân hóa trong nhận thức là điều tất yếu không tránh khỏi. Tôi cho rằng cuộc chiến nhận thức diễn ra thường xuyên trong đời sống văn học. Đôi khi có thể hòa đồng nhất thời. Nhưng rồi nhà thơ lại tiếp tục công việc sáng tạo liên tục của mình. Họ lại bước vào cuộc phiêu lưu, vượt lên phía trước hình thành nguồn năng lượng nghệ thuật mới hơn. Trái ngược nhau trong các lĩnh vực đời sống dễ dàng dẫn tới bi kịch xã hội, nhưng trong thơ ca nghệ thuật thì đây là những mâu thuẫn tất yếu thúc đẩy công việc sáng tạo tốt hơn.
Thơ đối với đời sống tinh thần con người cũng như nước đối với đất đai cây cỏ. Đất cần có nước, người cần có thơ. Thơ như những chớp sáng trong trời đất. Cây ăng - ten tâm hồn mỗi nhà thơ luôn luôn nhạy cảm khám phá, hút về mình những chớp sáng ấy để làm nên bài thơ. Vì vậy nhiều người cho rằng thơ là thiên phú. Nhà thơ được trời ban cho công việc đó.
Nika Turbina sinh năm 1975 trong gia đình trí thức ở một thành phố nhỏ bên bờ biển Đen, sau lần thứ hai bị rơi trên tầng năm một ngôi nhà, nữ thi sĩ tài hoa vĩnh viễn từ bỏ cuộc đời chưa tròn 28 năm. Dịch giả Thúy Toàn viết: "Nika Turbina xuất hiện như một thần đồng thơ ca và rồi ra đi như một ngôi sao băng trên bầu trời thơ Nga, biến mất ở đâu đó xa xăm". Có lần trả lời về việc làm thơ của mình, Nika nói: "Em làm thơ như thế nào ư? Khó nói cho rõ được. Đột nhiên em cảm nhận được một chấn động nội tâm nào đấy, vào một thời điểm bất chợt, ở một địa điểm bất chợt. Em liền viết ra trên bất cứ mảnh giấy nào đó tình cờ có trên tay". Thơ Nika không đem lại cho người đọc một niềm tin cậy, trái lại nó mang một tâm trạng lo lắng phấp phỏng, bởi trong từng câu thơ ẩn náu những nỗi buồn sâu thẳm như định mệnh được báo trước:
Cuộc đời của em - là một bản nháp
Trên đó các con chữ - là những chòm sao
Tất cả những ngày thời tiết xấu
Đều đã sẵn bày trên đó từ lâu
Cuộc đời của em - là một bản nháp
Tất cả may mắn của em, xui xẻo của em
Đều ở lại trên đó
Như tiếng kêu bị tiếng súng nổ cắt ngang
(Bản nháp)
Cũng trong quãng thời gian ấy, Lãng Thanh, nhà thơ trẻ ít người biết, một trường hợp lặp lại tương tự, chỉ khác là hai phương trời một Việt, một Nga. Sinh năm 1977 ở Phú Thọ, tốt nghiệp cùng lúc hai bằng đại học, thành thạo ba ngoại ngữ Anh, Pháp, Trung Quốc, giỏi về nghệ thuật thư pháp và hứa hẹn một tài năng hội họa, nhưng cuộc đời Lãng Thanh mãi mãi dừng lại ở tuổi 25. Sau cái chết bi thương của thi sĩ đoản mệnh này, nhóm bạn Chí Tâm và Nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản tập thơ duy nhất, 14 bài có tên là Hoa. Lãng Thanh là một hiện tượng khác thường. Thơ anh, là những mặc cảm sáng tạo sắc lạnh nảy sinh từ một đời sống nội tâm mãnh liệt. Câu thơ vọt ra như dòng chảy ẩn ức không kìm chế, không chọn lọc, những nét cuồng thảo lên bức tranh khát vọng bí ẩn:
Mẹ ơi! Ngòi bút của con mềm dịu như gió
Con phiêu lãng cùng non tận thủy
Nhưng những đóa hoa đánh con đau quá
Con trở về nhà băng vết máu đầy tay
(Thư pháp)
Âm thanh va chạm trong thơ như những mảnh vỡ của quá khứ còn vang vọng đâu đây:
Tôi trầm ngâm dạo trong nhà bảo tàng
Nghe hàm răng đã cười sáu nghìn năm trong miệng đất
Tiếng loảng xoảng gươm khua, tiếng hát ru từ các bộ xương.
(Những mảnh vỡ)
Phải mang trong hồn những cảm thức cá biệt, thiên bẩm Lãng Thanh mới viết ra những câu thơ ngõ hầu làm ta đam mê mà khó giải thích: Bông hoa thả chân trong bình cổ/ Một chiếc lá đỏ mặt, một chiếc lá lên gân/ Sắc mùa thu ấm hơn màu tình ái/ Nhà có người con gái đi mãi không về/ Cửa gỗ nhỏ không mọc răng mà day day rứt rứt... (Mùa thu 1)
Lưu Lam Thi, người làm thơ ở câu lạc bộ Tùng Lĩnh, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, một vùng quê xa các trung tâm văn hóa. Vậy mà chị có những câu thơ thật dữ dội khi viết về người đàn bà ăn vụng của chua. Cuộc sinh nở vừa cảm thương vừa bạo liệt: Một đêm mùa Đông/ Cây gạo bên sông rùng mình trở giấc/ Những lá cây bật khóc/ Những rễ cây xoắn vào nhau muốn đứt/ Những ngón tay bấu đất/ Cánh đồng tháng Năm nứt toác dưới hầm hập gió/ Núi chực bung ra chảy tràn những dòng nham thạch đỏ... Từ trong góc cây/ Mở ra điều bí mật kỳ diệu như mặt trời... Điều bí mật). Hoặc như Nguyễn Thị Anh Đào ở Huế, có cái nhìn day dứt, đa đoan về thân phận đơn côi của kiếp người: Khúc hòa tấu của những kẻ không nhà/ Ngoài hiên phố/ Những chú muỗi vo ve khóc tiễn ngày qua/ Trên khuôn mặt người đàn ông góa vợ/ Cõng con đi khắp xó xỉn chợ nghèo (Khúc du ca). Trần Tuấn ở Đà Nẵng trong bài Phù Lãng thật lãng tử khi mô tả gương mặt một người đầy ma quái:
cái miệng chảy lên đôi mắt
đôi mắt thắt thành lỗ tai
lỗ tai gài sang rẻo trán
rẻo trán rán xuống hai môi
Và:
đôi mắt há ra kinh ngạc
lỗ tai thốt ánh nhìn câm
rẻo trán dỏng nghe cảnh giác
hai môi toan tính ngấm ngầm.
Những người làm thơ sử dụng hình thức thơ tự do có cái thế mạnh trải hết sức vóc, không ràng buộc bởi niêm luật, vần điệu. Nhưng trong thể lục bát, thơ cũng tìm cách bước qua cánh cửa khắt khe để câu chữ được phóng túng, như trường hợp Lê Vĩnh Tài ở Đắc Lắc:
Thôi đừng say
đừng say
nheo con mắt nhớ mới hay mình buồn.
Mưa đừng tuôn
đừng tuôn
đêm sau chới với tiếng chuông bất ngờ.
(Uống rượu với Phạm Doanh và Nguyễn Phi Trinh)
Nhiều nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ, các nhà thơ nối tiếp sau đó và các nhà thơ trẻ mới xuất hiện, mỗi người tiếp cận đời sống thực tại bằng một dạng thức, họ vượt qua những cản trở của thế tục, gỡ dần lớp son phấn bấy lâu được coi là tiêu chí, chuẩn mực, hiện diện trong nền thơ hiện đại với vị thế chủ nhân. Trong số ấy, nhiều nhà thơ vượt ra ngoài cái đang có, đang được công nhận, đang tồn tại. Đó là những người thức tỉnh trước giấc ngủ quen thuộc ấm áp, nhìn sâu vào hai mặt của bản thể, sẵn sàng chờ đợi và đón nhận cái đang đến, chưa có, chưa được gọi thành tên. Cũng giống như người trình diễn, các nhà thơ này đứng trước sự lựa chọn cay nghiệt của độc giả. Họ có thể được tán đồng vỗ tay, cũng có thể bị xỉ mắng. Nhưng thử đặt thêm một câu hỏi, nếu tất cả các giá trị nghệ thuật đều đứng yên, thế giới tinh thần con người sẽ đi về đâu? Câu trả lời sẽ là, không thể đứng yên! Nghệ thuật không bao giờ tự thỏa mãn, nghệ thuật mãi mãi chuyển đổi không ngưng nghỉ. Cái đẹp luôn vận động, luôn đổi mới, luôn khám phá. Người nghệ sĩ dấn thân phải nhìn thực tại bằng một quãng cách trước đó, xa trước ngày hôm nay. Thế giới tồn tại nhờ cái đẹp, thế giới giàu có lên cũng nhờ cái đẹp. Cái đẹp sáng tạo ra cả thế giới là vậy.
Xâu chuỗi những vấn đề nêu ra, rõ ràng tự thân thơ cần bung mở hết biên độ những gì bấy lâu đã có. Đây là sự bung mở đa chiều, nhiều kích thước khác nhau của một nội tâm luôn luôn trăn trở, vượt lên phía trước. Có thể ví thơ Việt những năm qua như chàng trai sức vóc, đang lớn. Tấm áo mặc hàng chục năm trước không ôm nỗi thân hình rắn rỏi, khỏe khoắn. Thơ cần có những tấm áo mới hơn, hợp hơn. Con người thơ đó không ai khác, vẫn là chàng trai Việt sinh ra và lớn lên trong vành nôi của người mẹ Việt thân thương.
Một vấn đề khác, là mối quan hệ giữa người viết với người biên tập, tổ chức xuất bản. Ở nước ta ngoài hàng trăm tờ báo, tạp chí, hàng chục nhà xuất bản ở trung ương, tại các trung tâm đô thị lớn cả nước, cũng còn ngần ấy báo chí ở các địa phương. Nhưng đáng tiếc thay trong khi thơ đang làm một cuộc cách mạng tự thân, một cuộc chuyển đổi tích cực, thì không ít tờ báo, tạp chí vẫn còn bị ràng buộc trong một quy trình cổ điển. Phải nói thẳng ra rằng, bên cạnh những trang thơ, những bài thơ hay,còn quá nhiều thứ thơ dưới tầm mỹ học. Nhiều tác giả thơ hoặc là không nhìn thấy sự chuyển động quyết liệt của thơ, hoặc là làm ngơ trước một thực tế đang thu hút đông đảo độc giả quan tâm. Tôi không bàn thêm thứ thơ phản lại chính thơ, phản lại cái đẹp, làm giảm sút đời sống thẩm mỹ của công chúng. Ấy là những điều cần báo động, hệt như báo động về tai nạn giao thông, sa sút về đạo đức xã hội.
Nhưng nhìn chung nhiều tờ báo, tạp chí đã làm hết sức mình để lọc tìm những bài thơ hay, chấp nhận các xu hướng tìm tòi, thử nghiệm, các khuynh hướng nghệ thuật, mở rộng cánh cửa cho những nhà thơ, các cây bút tìm đến. Đó chính là những mảnh đất tốt cho thơ để thơ tồn tại và phát triển. Tôi tin và kỳ vọng vào điều đó.
H.V.T









