Im lặng thầm kín là một tâm thế cảm xúc rất gần với thơ. Tôi đến với thơ bằng tâm thế ấy. Rụt rè, trĩu nặng lo âu. Nỗi lo âu làm hao khuyết nhan sắc, hẩng hụt cảm xúc đời thường. Có cái gì đó mơ hồ vang vọng từ trái tim mềm yếu. Không biết từ bao giờ đáy lòng nén lệ, nuốt vào gan ruột. Đánh mất cái im lặng và nỗi buồn thầm kín, vô cớ sẽ đánh mất bản thân? Lúc ấy thơ không còn là cái bóng, không còn là niềm si đắm thiếu nữ? Làm người mất bóng hẳn khiếp đảm lắm, mà cùng đồng nghĩa với sự đánh mất bản ngã thơ ngây tự thuở ấu thơ, nhờ bú dòng sữa mẹ mà có.
Cái thầm kín, thoạt nghe dễ nhầm, liên tưởng về một mối tình đơn phương. Yêu thơ cũng là một mối tình chỉ mình nghe, đáp. Tơ tưởng, mộng mị, dâng hiến không cầu lợi. Gìn giữ, nuôi dưỡng đã có cho không xẩy ra biệt ly với thơ. Yêu thơ, sáng tạo thơ, đối tượng phản bội thơ, không lẽ chính là thơ?
Im lặng thầm kín của thơ có ánh riêng, dựng nên tường lũy độc thoại, đối thoại, tạo nên trường liên tưởng cảm xúc trữ tình cho thơ.. Hồn cốt thơ chứa chất lay động rất nữ tính. Chút vang vọng điệu cười nửa miệng. Tiếng thở dài nén sâu bất chợt dâng nghẹn ở ngực vì nhớ nhung, tuyệt vọng. Cơn tuyệt vọng được cuộn chặt như bắp cải giữa đông giá. Sự cuộn chặt bao nhiêu, niềm tự tin, lòng can đảm lớn bấy nhiêu. Một nỗi kinh ngạc ùa tràn bản thể con gái trước thiên nhiên. Phấn hoa các loài cây nhờ gió thu, nhờ ong bướm thụ phấn. Tiếng rên rỉ các loài giống cái khi gặp tiết xuân giao hoan bảo tồn nòi giống. Thơ can dự vào sự phồn sinh, là nửa vòng âm chu kỳ vũ trụ chạm đến nửa vòng dương mặt trời để phát sáng thành ngọn lửa phía ngực bên trái con người.
Ai có thể nhiều lời với nơi chôn nhau cắt rốn. Máu đỏ nối khuất mỗi số phận đơn lẻ vào nghĩa đồng bào, trong một bọc trứng Âu Cơ. Khi Tổ quốc lâm nguy, bị kẻ thù dày xéo, thơ dội các tầng số vang vọng tâm hồn dân tộc, bám sâu vào tâm khảm người ra trận. Trước khi ra trận, trai làng vốc nắm đất nơi chôn nhau cắt rốn, thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Đấy thời khắc của lòng quả cảm, thơ kỳ vọng tả được thời khắc ấy đúng với tầm vóc của người lính, mà biết bao người đã hóa vô danh, Sống gởi nạc, thác gởi xương trong đất.
Im lặng thầm kín là một góc khuất ở mỗi chúng ta cuộn nén, cúi kề với đất dưới chân. Mỗi thế hệ gieo trồng thức gì, gặt hái thức ấy. Vĩ thanh lịch sử là nối dài máu huyết của cha ông vang vọng vào anh vào tôi. Ngân vọng của thơ, làn rung sau chót nối một dấu lặng từ bản giao hưởng Quốc ca đến lời ru của mẹ?
Sự rung động thầm kín vốn là những yếu tố bản chất cấu thành nên cốt cách thơ. Đến với thơ, có thơ, tôi có thêm một cuộc đời thứ hai, luôn tự biết chưa kịp nắm bắt, thơ đã tuốt ngoài tầm tay. Có lẽ từ rung động đến biểu đạt thơ, lúc nào cũng gặp phải con đường ngõ cụt. Do vậy mỗi bài thơ đều một tác phẩm đầu tay, viết rất chật vật, trừ khi xuất thần, xuất vía. Như Bức tranh quê của Anh Thơ. Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang. Thuyền và biển của Xuân Quỳnh, Hương thầm của Thanh Nhàn, Khoảng trời hố bom của Mỹ Dạ, Những mùa trăng mong chờ của Lê Thị Mây, Người đàn bàn ngồi đan của Y Nhi...Một đời thơ, ngay trên mỗi câu thơ, chữ thơ phải biết vùi kín trong đó cái lấp lánh của hình tượng ngôn ngữ, mang dấu ấn tác giả. Trường liên tưởng, trường cảm xúc thơ được ủ trong sự im lặng thầm kín của trái tim. Có khi gác tay lên trán tôi sợ chưa đủ lắng, tự lắc đầy cho hồn vía một cơn lốc gặp tứ hay, khi bất thần trút vào trang viết, lệ cũng tuôn theo.
Thầm kín và im lặng đấy là không gian của bọc bào thai tác phẩm. Thầm kín sinh ra rụt rè, có khi tự gút những mối buộc thiếu khôn ngoan. Bản tính này hình thành từ tấm bé, ăn sâu trong tính cách đời thường đã in dấu vào trang thơ thế nào? Trẻ con, ngoài năm sáu tuổi, rồi đến độ chín mười tuổi, mười lăm mười bảy tuổi chúng hướng ngoại, biến động khôn lường nên mới có câu Cha mẹ sinh con trời sinh tính. Cái hướng nội vào bản thân, úp mặt vào vú mẹ được xem ngày hôm qua ấu thơ, khó quay trở lại. Đi ra khỏi bản thân để gặp cái ta, cái chúng ta là con đường ở phía trước. Là chiều tương lai mở, trục không gian thời gian hai chiều, khi nghệ sĩ xây dựng tác phẩm. Hướng ngoại để có tầm vóc cao lớn, hướng nội để có chiều sâu số phận. Đất nước có giặc, bất kể trẻ già trai gái, ai cũng có bổn phận dám hy sinh, vì độc lập dân tộc. Thơ đi từ một số phận đơn lẽ để đến với nhân loại, thiết nghĩ đấy là sự hướng ngoại mang tính công dân cao cả nhất của thơ.
Những cây bút trẻ, bút lực đồng nghĩa với thể nghiệm thơ. Tôi chờ đợi và mong được tiếp nhận trang thơ trẻ từ gốc độ mới và hay. Nhiều độc giả giật thột, kinh ngạc sợ thơ, khi cầm trên tay những tập thơ phô diễn cái tôi trần trụi. Thậm chí, có những bài, khúc, đoạn thơ thiếu "tấm yếm thâm" bảo vệ cái đẹp truyền thống của đàn bà con gái...
Đất nước đã qua hơn hai mươi năm lặng tiếng súng, những trang thơ hướng nội của một tâm thế cảm xúc thời bình, lấy cái tôi công dân, cái tôi trung thực đời thường trong nỗi lo cơm áo, hàn gắn vết thương chiến tranh của người nghệ sĩ hình như bị chới với, bị phân thân nhọc nhằn. Cảm xúc đời sống bình lặng, cũ mòn có một sức ì trệ khinh khủng. Với người cầm bút trẻ, cái tôi thời bình là một sân chơi nghệ thuật đa chiều, nhưng không dễ làm chủ ngòi bút?
Có sự chia tách thơ hướng nội và thơ hướng ngoại phải đấy là một chút làm mình làm mẫy của số ít, chỉ gây ngộ nhận với chính họ. Có người cố tìm nhưng lại vấp, tắc tị về cảm xúc lẫn chữ nghĩa, kêu phải được cởi trói, phải được quay về hướng nội mới mong có thơ hay. Từ lúc mới đặt chân vào làng thơ, ngòi bút hướng đi đâu bây giờ thi sĩ lại muốn quay về với chính mình? Tuyệt vọng, quay cắt cận cảnh cái đời thực méo mó, không cần lựa chọn, mà vắt nặn nên nỗi những ý tứ, những bài thơ, tập thơ hay được ư? Tôi thực lòng chờ đợi, ở cả chính mình, có được một phong cách hướng nội, bằng lối viết trung thực, giản dị mà rất đời, đầy ắp hơi thở cuộc sống, nhưng không lúng túng, dễ thành công?
Làm cách mạng phá xiềng nô lệ, đánh thắng thực dân Pháp, sản sinh ra một dòng thi ca kháng chiến, là một cơ hội không lặp lại trong lịch sử dân tộc. Đối với các thế hệ nghệ sĩ chiến sĩ, hướng ngoại, là đi ra khỏi cái tôi của một giấc mơ con đè chết cuộc đời con, để mang vác trên vai cây bút tinh thần Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Giai đoạn thi ca này Trần Mạnh Hảo đã xưng tụng, gọi lên có một thời đại thi ca, in ba số liền trên Báo Văn nghệ đọc ấn tượng.
Mở đầu cho nền thơ ca cách mạng là nhà thơ - Chủ tịch Hồ Chí Minh với tập thơ Nhật ký trong tù, Tố Hữu, với Từ ấy, Việt Bắc. Đặc trưng dòng thơ ca cách mạng, lấy cái tôi chiến sĩ, cái tôi trong nghĩa đồng bào đồng chí làm cảm hứng trung tâm. Tư tưởng Tuyên ngôn độc lập được chọn làm tư tưởng nghệ thuật, cân đong đo đếm các giá trị do người nghệ sĩ sáng tạo nên. Chính vì thế khi đọc tác phẩm của Quang Dũng với Tây Tiến - Hoàng Cầm với Bên kia sông Đuống, Hữu Loan với Màu tím hoa sim...ta rất hiểu cái tôi ấm áp, cái tôi đầy góc cạnh, lãng mạn của các anh sâu sắc hơn, soi thấy chính lòng mình rõ hơn khi mỗi lần trở lại đọc những bài thơ này. Chúng như một bình rượu ngon, chưa dốc cạn, ủ men trong trái tim người đọc để ngân vọng vang xa.
Dòng văn học hiện thực cách mạng - hiện thực xã hội chủ nghĩa là dòng văn học chính lưu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Cái tâm thế xây dựng tác phẩm, nhân vật trung tâm là tâm thế mở, lấy niềm tin, lấy nghị lực sống của mỗi con người va của cả dân tộc nhào nặn nên hình tượng nghệ thuật, mang tính truyền thống về chân thiện mỹ và tư tưởng chính trị thời đại.
Vào những năm đầu thập kỷ bảy mươi, vạch mặt bản chất chiến tranh của ba đời Tổng thống Mỹ, cố thi sĩ Chế Lan Viên đã cao giọng đối thoại cho cả thế giới yêu chuộng hòa bình nghe thấy, biết Việt Nam đánh Mỹ, Việt Nam đang đổ máu. Lời thơ đối thoại âý vang vọng mãi những cơn lốc của một nhân dân oai hùng không cam chịu mất nước. Chế Lan Viên là một nhà thơ trong một thế hệ thơ trẻ của đầu thế kỷ hai mươi mang hành trang thơ mới (với tập Điêu tàn) hướng ngoại, nhập cuộc theo Đảng theo kháng chiến. Đấy là lớp đàn anh như Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Hằng Phương, Anh Thơ...đã xây đắp nền móng lớn cho thi đàn Việt Nam nửa đầu thế kỷ hai mươi, làm một bước ngoặc lớn cho văn học đổi mới. Thơ mới và lớp các nhà thơ mới đã góp phần tác động khá đậm nét trong sự hình thành, thúc đẩy dòng văn học hiện thực cách mạng lãng mạn phát triển đến đỉnh cao. Nối tiếp người đi trước, sau năm 1954, thế hệ thơ trẻ, là những đứa con đầu đời của nền thơ cách mạng xã hội chủ nghĩa, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ vượt Trường Sơn có trong tay chiếc gậy tinh thần - cây gậy thơ của dòng thơ ca hiện thực cách mạng, hừng hực niềm tin và lòng tự tin chiến thắng.
Phạm Tiến Duật đối thoại với bom đạn Mỹ, với các kiểu hàng rào điện tử ở Dốc Miếu, Cồn Tiên. Quảng Trị bằng Vầng trăng quầng lửa.Nguyễn Khoa Điềm bằng trường ca Đất nước - Mặt đường khát vọng, cảnh báo cho họ rằng, bom đạn Mỹ bị chặn đứng, đối mặt trước những tầng sâu văn hóa của một dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng lại có cái vô cực di sản tinh thần, về cái đẹp phi vật chất ở trong máu mỗi con người cầm súng.
Tôi tin, trước khi Mỹ đổ quân xâm lược Việt Nam, chắc có lẽ người Mỹ chưa ai biết đến bốn câu thơ thần viết trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt. Nam quốc sơn hà nam đế cư / Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư...nên họ đã bại trận như quân Tống ở thế kỷ thứ X là phải lắm.
Làm xong cuộc kháng chiến đuổi ngoại xâm, những người lính đánh trận như Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Trần Vũ Mai, Anh Ngọc...các anh chưa kịp buông cây súng đã vội cầm ngay cây bút viết trường ca. Nghĩa là trong các anh dồn chứa khát vọng đối thoại mong muốn đúc kết lịch sử, để giải mã ý chí quật cường tựa núi cao sông thẳm nằm vùi sâu trong tâm hồn chiến sĩ, bằng hình tượng nghệ thuật thơ, như những biên niên sử văn chương hiện đại. Đây là một phần đóng góp lớn, có trường ca đã vươn đến được cái đỉnh, dòng thơ hiện thực cách mạng lãng mạn. Chất thép và chất ấm nóng của trái tim đan quyện, thổi hồn ngôn ngữ căng phồng lên, hứng hết sức gió của tư duy hiện thực chiến sĩ.
Tôi hiểu các nhà thơ viết trường ca, các anh luôn thấy lực bất tòng tâm, luôn thấy thiếu hụt, mắc nợ, luôn thấy con đường phía trước vẫy gọi như một nhiệm vụ sau chót của người lính đối với đồng đội đã hy sinh, để tìm lại tư liệu, để sống, để viết. Mỗi chữ là mỗi ngày tháng của tuổi trẻ đóng lịch lên cảm xúc...
Tôi tự nhủ hãy nghiền ngẫm và hãy tự tin. Cái tự tin của chữ thơ có thần có vía mà rất thầm kín để đi nốt con đường dài, từ trái tim nghệ sĩ đến trái tim độc giả yêu thơ bằng sự va đập của trái tim với trái tim trong im lặng.
L.T.M









