|
T |
ừ hai năm nay truyện ngắn đang lấy lại được vị trí của nó trong đời sống văn học. Còn nhớ, mấy năm trước, tiểu thuyết là thể loại được ưa thích nhất. Người đọc ham tiểu thuyết, nhà văn lao vào viết tiểu thuyết, nhà xuất bản chỉ in tiểu thuyết. Truyện ngắn cơ hồ khó tồn tại, đất sống bị thu hẹp lại chỉ còn trên mặt báo. Vậy nhưng qua thời gian, tình thế đổi khác: Truyện ngắn lại lên ngôi. Nhìn trên thị trường văn học và quan sát đời sống văn học hôm nay có thể nói chắc là có một mùa truyện ngắn đang đến.
Các báo vẫn in truyện ngắn là đương nhiên, lại còn in nhiều nữa. Các nhà xuất bản bây giờ liên tiếp cho ra các tập truyện ngắn, phần nhiều là của các cây bút mới mà vẫn tiêu thụ được. Nhà xuất bản Hà Nội tổ chức hẳn một cuộc thi viết tiểu thuyết và tập truyện về thủ đô thì trong số các sách dự thi đã ra chủ yếu là truyện ngắn (Các tập Cát đợi, Mỹ nhân quyên sinh, Biển cứu rỗi, Bức tranh màu huyết thạch, Tháng có 25 ngày, Bão đêm...). Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh mở cuộc thi truyện ngắn dành cho các cây bút mới (in thành tập Miền cực lạc). Nhiều nhất là các cuộc thi truyện ngắn do các báo chí khắp nước mở ra trong hai năm nay. Cuộc thi của Báo Văn nghệ (in thành tập Ánh trăng). Cuộc thi Tác Phẩm Tuổi Xanh (lần 2) của Báo Tiền phong (in thành tập Những đêm thắp nắng). Cuộc thi của Tạp chí Văn nghệ quân đội kéo dài hai năm (1992-1994) hiện đang vào chặng cuối. Cuộc thi của Bán nguyệt san Thế Giới mới cho loại truyện rất ngắn dưới một nghìn chữ.
Cuộc thi của Tạp chí Sông Hương ở cố đô. Đấy là chưa kể còn vài ba cuộc thi truyện ngắn khác của vài ba tờ báo kinh tế mở ra để dựng nên hình ảnh nhà doanh nghiệp trẻ Việt
Thật ra nói truyện ngắn "sống lại" không hẳn đúng. Cái "gu" của người thích đọc tiểu thuyết mấy năm trước và thích truyện ngắn bây giờ đưa tới chỗ các thể loại này thay nhau lên xuống trong cơn xuất bản là có nguyên nhân tâm lý - xã hội của nó. Nhu cầu hiện thực vẫn là nhu cầu lớn nhất của người viết và người đọc ở nước ta. Và mỗi khi nhu cầu này có điều kiện để thỏa mãn, được đáp ứng thì tiểu thuyết là thể loại đắc dụng. Sau năm 1975, chính nhu cầu hiện thực về chiến tranh đã làm xuất hiện một loạt tiểu thuyết của các nhà văn quân đội (và nói thêm ở bên thơ là thể loại trường ca bỗng phát triển đột biến), trong đó chiến tranh được thể hiện đầy đủ diện mạo, tính chất hơn so với trước. Đến thời kỳ đổi mới, tiểu tuyết lại cần để đáp ứng nhu cầu hiện thực và quá khứ lịch sử. Cái được quan tâm hàng đầu, cái muốn biết, cần biết là sự kiện, hành động càng nhiều càng tốt của một hiện thực xã hội, một tâm thế xã hội mà bấy lâu nay chưa được thông tỏ. Tiểu thuyết nói đúng hơn là "truyện" có thể mạnh ở mặt này nhờ đặc trưng thể loại của nó và được người đọc vồ vập đón nhận.
Nhưng rồi khi được bão hòa về số lượng người ta lại đòi hỏi cao hơn về chất lượng. Tiểu thuyết thỏa mãn phần nào ý muốn biết của người đọc lúc ban đầu đổi mới, nhưng chưa thỏa mãn được bao lăm ý muốn hiểu, bởi phải nói thật là chỉ trừ một số cuốn ít ỏi, còn lại phần đông tiểu tuyết của ta thời gian qua có truyện mà không có thuyết nghĩa là không có tư tưởng. Bởi vì trong một dung lượng hạn chế, với một khoảng đời, một cảnh huống, người viết phải lập truyện sao cho có ý tưởng thì truyện mới tồn tại được. Người đọc lúc này đang cần có tư tưởng để suy ngẫm. Cố nhiên ở đây còn có nguyên nhân tâm sinh lý bình thường là sau khi đã đọc dài nhiều thì người ta thích đọc ngắn.
Văn học thời đổi mới, ở những tác phẩm đúng là văn học, mang cảm hứng nhìn lại và soát xét, mang âm điệu buồn đau. Đó là dấu hiệu của một xã hội trưởng thành. Hơn thế, văn học còn có trách nhiệm với người đọc và dám chịu trách nhiệm. Truyện ngắn hôm nay tiếp tục xới lật các mảng hiện thực của cuộc sống ở cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong góp một tiếng nói định vị cho người đọc một thái độ nhìn nhận, đánh giá những việc những người của bây giờ, của nơi đây. Do đặc trưng của nó, truyện ngắn thường không bắt người ta nhớ truyện mà phải nhớ suy tư, ngẫm nghĩ những điều chất ẩn sau một vài cảnh đời, một vài chốc lát cuộc đời. Nhà văn thường chọn góc độ nhìn nhân bản, đạo đức, những giá trị con người mà cũng có khi không né tránh mà dũng cảm, thẳng thắn nhìn dưới góc độ chính trị. Tôi không nghĩ một đề tài như cải cách ruộng đất sẽ bị "cấm kỵ", bị "kiêng húy" trong văn học ta. Không phải là bản thân sự kiện đó xét trên bình diện chính trị - lịch sử, mà cái chính là tác động ảnh hưởng của nó đến số phận con người lúc đó và về sau. Văn học là nhân học, vậy làm sao nó bỏ qua những vấn đề của số phận con người được. Vả chăng nếu yêu cầu văn học phản ánh hiện thực thì hiện thực được phản ánh làm sao có thể cắt khúc biệt lập quá khứ và hiện tại, hôm qua và hôm nay. Hiểu như vậy mới thấy truyện ngắn Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê là một thành công của chị, của thể loại truyện ngắn (thực ra truyện này đã có dung lượng một truyện vừa) và của văn học. Bi kịch trong truyện thực ra là lớn, rất lớn. Một típ Vọng Phu, nhưng nguyên nhân gây nên nó rất thời đại nên cũng đòi hỏi nó có cái nhìn và cách giải quyết thời đại. Người con đã chọn cái chết vì những lỗi lầm của người cha. Kết cục có thể khác không? Tác giả có đưa ra tình huống cho một giải pháp khác. Một kẻ sát nhân giết cha mình mà vẫn dửng dưng vì người cha đó quá khốn nạn, táng tận lương tâm với con cái. Cái cách tàn ác đó không phải là ý muốn của truyện. Nhà văn kết truyện bằng cái chết tự sát của người con không hẳn là nhằm phê phán, dù không có sự phê phán nào đau đớn, khốc liệt hơn cái chết của người vô tội thay cho người có tội. Chị muốn thức tỉnh lương tâm con người: Đừng bao giờ để xảy ra những bi kịch như vậy nữa, đừng để thế giới này bị mất đi những người đàn ông đẹp. Quá khứ phải nhìn thẳng vào nó để không còn cơ hội lặp lại theo chiều hướng xấu, chiều hướng ác, để hiện tại thanh thản đi tới. Trong tập truyện của Lê Minh Khuê còn có truyện Một buổi chiều thật muộn cũng được viết trên chủ đề này. Hạnh phúc của cô gái trong truyện, hơn thế cả cuộc đời trong sáng của cô, đã vĩnh viễn mất đi vì quan niệm ấu trĩ và thô bạo của một thời "nhìn ai cũng là địch, nhìn đâu cũng là địch", vì những nguyên tắc cứng đờ, bóp chẹt những run rẩy của con tim. Có phải thế nên hạnh phúc "mong manh như là tia nắng" khi dẫu bây giờ có cuộc sống đầy đủ rồi, người mẹ kia vẫn chôn sâu một nỗi buồn một niềm khao khát của một phút giây cõi lòng con gái thật sự rung lên trong tia nhìn với người lính thuộc chiến tuyến bên kia bị bắt làm tù binh. Đau đớn nhìn lại quá khứ không phải là chối bỏ, phủ nhận nó. Con người luôn có nhu cầu nhìn lại hoàn cảnh đã qua để kiểm nghiệm mình sắp tới. Đọc truyện ngắn hôm nay ngưới đọc nhận được điều đó.
Truyện ngắn được giải nhất cuộc thi của Báo Văn nghệ năm 1991 đặ ra một vấn đề cấp bách và đưa ra một giải pháp quyết liệt dưới tên gọi Kẻ sát nhân lương thiện (Vở diễn sân khấu dựa theo truyện này đưa ra một cái kết dung hòa hơn, ý kiến vẫn còn đang bàn cãi). Một truyện ngắn khác có tên là Kịch câm làm bao người đọc giật mình, choáng váng trước cuộc đấu không lời của đứa con gái với người cha phản bội khoác áo đạo đức. Cả hai tác giả nói đây đều thuộc lớp trẻ, mới cầm bút lần đầu. Sức nghĩ, sức đặt vấn đề của họ thật là lớn. Những vấn đề họ đặt ra trong những truyện ngắn nhỏ bé thật lớn lao. Và tôi nghĩ chính ở lĩnh vực truyện ngắn lớp người cầm bút trẻ mới này sẽ tạo được sức công pah1 lớn cho thể loại nhỏ và gây được ảnh hưởng xã hội mạnh mẽ. Bằng chứng là họ biết cảm nhận thời hiện tại bây giờ của họ tàn nhẫn, gắt gao không kém phần truy tìm quá khứ hay lục vấn thế hệ đi trước.
Các nhà văn lớp trước khi nói về hiện tại thường thiên mô tả những trạng huống nghịch lý, đảo lộn là biểu hiện bên ngoài của mâu thuẫn giữa nền kinh tế thị trường đang bung ra trong một xã hội đang chuyển mình với những nền tảng luân lý cổ truyền, những giá trị chuẩn mực nhân văn. Người kiên trì gióng lên tiếng chuông báo động này là Ma Văn Kháng. Tập truyện Heo may gió lộng của anh cho thấy trong thời thế này giữ được tình người, tính người, chất người chống lại sự băng hoại của thời gian và nhân thế là cả một cuộc vật lộn của con người với hoàn cảnh, với chính mình.
Tôi biết quanh tập truyện của Lê Minh Khuê, tập truyện dự thi Bút mới, quanh một số truyện của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ đang có dư luận khác chiều nhau. Tựu trung lại vẫn là vấn đề muôn thuở: Thiện-Ác. Nhưng không có cái Thiện cái Ác mơ hồ, trừu tượng. Chúng là cụ thể, có thể chỉ mặt gọi tên. Xã hội tốt về bản chất, nhưng trong đó thế hệ con còn phải gánh chịu hậu quả của thế hệ cha, trong đó có người còn phải tự mơ để tìm về miền cực lạc, trong đó có thân phận người còn muốn so đo với thân phận chó thì làm sao văn học viết khác được. Có thể về mặt nghệ thuật chỗ này chỗ kia, chi tiết này chi tiết khác nên cân nhắc hơn, ý tưởng cần phải kín đáo hơn trong câu văn. Nhưng không nên quên rằng, chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm có những yêu cầu chặt chẽ của nó. Và hoàn toàn không nên dựa vào một số câu chữ, tình tiết trong truyện để đọc "sai" truyện, từ đó nghĩ "sai" cho ý đồ của người viết. Truyện ngắn ở những cây bút thành công hôm nay, gợi ở ta lòng yêu con người, thúc giục ta hãy làm cho con người hạnh phúc, chí ít thì cũng để con người bớt khổ đau, bất hạnh trên cõi nhân gian bé tí này. Chẳng phải là người sáng lập ra chủ nghĩa nhân văn cộng sản đã bảo "gốc rễ của con người là chính bản thân con người" và "cần phải làm cho hoàn cảnh trở nên có tính người hơn" đấy sao.
Mạch cảm hứng này cũng dồi dào trong truyện ngắn hôm nay. Có những truyện đầy nhân ái thương yêu, gây men cho người đọc lòng tin yêu cuộc sống, con người. Hiện thực là biện chứng phức tạp. Văn học cũng vậy. Nước mắt nụ cười, niềm vui nỗi buồn kề cận bên nhau, hòa trộn vào nhau, làm sao tách bạch chia lìa được. Ánh trăng là nỗi luyến tiếc cái đẹp không tới được, xa xôi mờ ảo, nhưng cũng là niềm vui có cái đẹp thật trong đời để hướng tới (ai đọc truyện này thành chuyện tình(1) giữa em và chị thì thật là uổng phí cả ánh trăng nghệ thuật). Mùa đông ấm áp, đọc xong muốn khóc, vì mừng ở đời còn có những người đàn ông cao thượng, tốt đẹp đến vậy. Đó là lý do cho những người vẫn tin lòng tốt trên đời dám sống và biết sống. Ở đây các tác giả không tỏ ra dễ dãi, đơn giản để chỉ cho người đọc thấy ngổn ngang phức tạp nơi trần thế vẫn có chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho lòng nhân ái.
Một nét đặc biệt của mùa truyện ngắn hôm nay là sự xuất hiện đông đảo, tự tin của đội ngũ viết trẻ và nhất là của các cây bút nữ. Ở trên tôi đã nói đến sự chín chắn đôi lúc như già giặn khiến vui mừng giật mình của lớp trẻ đi vào văn đàn Việt
Cuộc sống luôn luôn vỗ sóng vào văn học. Mỗi thể loại như một con thuyền vượt sóng. Con thuyền truyện ngắn hôm nay có những tay chèo lái khá không bị chìm dưới lớp sóng mà biết khai mở những luồng lạch riêng vượt lên nhìn bao quát và sâu khắp biển cả. Dăm năm trước, khi đổi mới bắt đầu văn học có "hai cây" truyện ngắn: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài mở một thế giới hiện thực ít được khám phá, gây một hiệu ứng chói gắt. Mấy năm gần đây truyện ngắn phát triển trên một nền cao hơn, có những hứa hẹn một số tác gia sẽ còn đi xa. Thời gian mãi mãi trôi. Tiểu thuyết của cái thời bây giờ sẽ chẳng đọng lại bao nhiêu. Nhưng truyện ngắn sẽ còn nhiều cái sẽ được đọc, được lấy làm suy ngẫm cả khi cái thời này đã qua đi, lịch sử đã khép lại bình yên. Con người thì không thôi thao thức về số phận mình, truyện ngắn là những mảnh đời họ sẽ tìm lại.
Tiểu thuyết là tấm gương lớn kéo lê trên đường, văn hào Pháp Stendal đã nói vậy. Truyện ngắn là những mảnh vỡ từ tấm gương đó. Mảnh này phản chiếu trời xanh. Mảnh kia phản chiếu vũng nước đục. Không sao. Người đến soi vào mảnh trời xanh có thể gặp ác quỷ. Người đến soi vào mảnh vũng nước có thể thấy thiên thần. Hãy đừng trách ai cả, trời xanh, vũng nước hay tấm gương. Đó là cuộc sống. Đó là văn học. Và tôi nghĩ, qua truyện ngắn hôm nay, con người tồn tại thì cuộc sống và văn học tồn tại
P.X.N









