|
G |
ỗ trở thành một trong những chất liệu kỳ diệu của nghệ thuật điêu khắc hàng ngàn năm nay khi chạm vào gỗ là những bàn tay khéo léo biết cách thể hiện những ý tưởng sáng tạo tài hoa vì cái đẹp. Với nghệ sĩ điêu khắc Hồ Uông, gỗ là ngôn ngữ máu thịt và sáng tác trên gỗ là niềm say mê của cuộc đời. Cùng với năm tháng đi qua trên cây rừng, trên tuổi đời và tuổi nghề, thứ ngôn ngữ máu thịt và niềm say mê của Hồ Uông đã đưa ông đến tầm cao của thẩm mỹ nghệ thuật tượng gỗ.
Ngoài pho tượng ximăng Sức mạnh miền núi được dựng ở công viên Lênin (Hà Nội) từ năm 1977, những tác phẩm điêu khắc của Hồ Uông đều bằng chất liệu gỗ. Khí thế người Vân Kiều, Cộng sản trong bụng tôi, Cha và hai con, Tục trực nhà mồ, Đến với cái chữ Nội Hồ, Khát vọng… là những bức tượng nhấn mạnh đến kỹ thuật phạc, chặt, xăm xước, đẽo trên gỗ một cách đơn giản, mộc mạc của Hồ Uông. Những bức tượng này cho người xem cảm giác nguồn cảm hứng điêu khắc đã đến với Hồ Uông khi ông nhìn thấy những bức tượng tả thực của mình từ trong tâm nguyện của người Vân Kiều ở miền Tây tỉnh Quảng Trị. Đặc điểm này bộc lộ rõ những ý tưởng sáng tác của Hồ Uông rất gần gũi với đời sống, tâm hồn, tình cảm của người Vân Kiều, đến mức trong mỗi lúc cảm thụ bao giờ cũng thấy sự thu gần của hình tượng. Đấy chính là điểm bắt đầu để Hồ Uông đưa tượng gỗ của ông đến tính phổ cập cần thiết. Lên nương, Đến với cái chữ Nội Hồ, Tục trực nhà mồ,… là những bức tượng được hiểu theo phong cách diễn tả trực diện về đời sống xã hội, đời sống tinh thần của một dân tộc ít người giữa đại ngàn Trường Sơn. Vì vậy mà các tượng gỗ được Hồ Uông tạc nên đều là chân dung người Vân Kiều trong phương pháp tả thực của nghệ thuật điêu khắc rất rõ chất gỗ. Tay ôm cặp sách, đứng liền nhau trong cùng một tư thế thẳng và vươn lên như cây rừng, các nhân vật trong tượng gỗ của Hồ Uông hệt như những người Vân Kiều thật trong đời sống bước vào tượng với vẻ đơn giản, hiền dịu, mộc mạc và bộc trực.
Không hư cấu hình tượng nghệ thuật, không khái niệm hóa hoặc trừu tượng hóa ý tưởng sáng tạo, không cầu kỳ trong phương pháp thể hiện, Hồ Uông đem đến với nền mỹ thuật của đất nước những bức tượng gỗ giản dị khắc họa được tinh thần dân tộc bền bỉ của người Vân Kiều trong đời sống. Đó là tình yêu xứ sở, tình yêu nòi giống làm nảy nở khát vọng trường tồn, no ấm, niềm vui được học hành, là sự kính tín thần linh, là tâm thức yêu quý Bác Hồ, là lòng trung kiên với cách mạng và ý thức chuộng lẽ công bằng… Những biểu hiện đó của tinh thần dân tộc trong đời sống chính là vẻ đẹp mà Hồ Uông nhận thức được, cảm thấy cần được tôn vinh bằng nghệ thuật và chúng đã truyền vào ông nguồn cảm hứng sáng tạo vẹn nguyên và chung thủy, đã thổi vào ông niềm đam mê sáng tạo những hình tượng chân thực về chính dân tộc mình. Với những miếng phạc, miếng chặt, miếng đẽo và những mảng khối đơn giản trên gỗ, tượng của Hồ Uông là hình ảnh nghệ thuật của những giấc mơ về mùa vàng, cái chữ, sự duy trì và tiếp nối huyết thống, sự kiên định, sự sống và sự chết cao đẹp mà tiêu biểu là các bức tượng Lên nương, Đến với cái chữ Nội Hồ, Cộng sản trong bụng tôi, Giữ gìn công bằng, Sinh tồn,…
Với Hồ Uông, cảm hứng chủ đạo và đề tài xuyên suốt trong sáng tác của ông là cuộc sống và tình cảm dân tộc đã phần nào quyết định phong cách điêu khắc của ông. Dường như ông đục đẽo những bức tượng trong sự thăng hoa của phẩm chất của người Vân Kiều. Chính Hồ Uông đã ý thức một cách sâu sắc rằng, với những thân gỗ được lấy từ núi rừng quê hương, ông làm cái tượng biết nói lên một điều là người Vân Kiều luôn yêu mảnh rừng, con suối của ông cha và sống chết vì chúng. Cho nên, những bức tượng gỗ của ông có tên Khát vọng, Khí thế người Vân Kiều, Sinh tồn, Nhà chung,… có giá trị đóng góp chân dung và tinh thần của người Vân Kiều vào nghệ thuật điêu khắc. Những bức tượng này không trau chuốt và theo môtip gióng thẳng, chồng lên nhau, không có những lắt léo, phần lớn chuyển tải thực tế cùng ước vọng đời đời kiếp kiếp của dòng tộc. Trong khi bộc bạch đời sống xã hội và tình cảm của dân tộc mình trên tượng gỗ, Hồ Uông đã kết hợp hiện thực với truyền thống dân tộc. Những vết xăm xước trên tượng như những sợi dây, những dòng liên kết các thế hệ. Điển hình của ý đồ nghệ thuật này trong tượng gỗ của Hồ Uông là bức tượng Cha và hai con. Cha và hai con là bức tượng được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật tượng gỗ của Hồ Uông từ đề tài đến phương pháp thể hiện. Những yếu tố cấu thành tác phẩm đã được bộc lộ rất rõ với hình tượng người Cha và hai con đứng kế tiếp nhau và trên đầu người Cha có cặp sừng cong vút. Bên cạnh thực tế người Cha luôn che chở các con của mình, một truyền thuyết dân gian của người Vân Kiều đã được Hồ Uông sử dụng để thể hiện một triết lý nhân sinh thâm hậu. Chi tiết nghệ thuật này góp phần khẳng định phương pháp sáng tác của Hồ Uông chịu ảnh hưởng của tượng nhà mồ. Ông đã tái hiện tập tục trực nhà mồ của người Vân Kiều trong bức tượng Tục trực nhà mồ với tâm niệm hoàn toàn nghiêng về tâm linh dân tộc với các biểu trưng tín ngưỡng dân gian, dân tộc cụ thể. Ngẫm kỹ, đề tài đời sống xã hội trên tượng gỗ của Hồ Uông cũng bị chi phối bởi tâm linh dân tộc Vân Kiều trong dáng dấp, mô hình của tượng nhà mồ. Cuộc sống của dân tộc, cho dù ở hiện tại hay sâu xa được Hồ Uông phản ánh bằng tượng gỗ đều mang âm hưởng tâm linh thông qua các họa tiết, tập quán, quan niệm, cách lý giải về hiện tượng tự nhiên, nhân sinh và xã hội với những nét đặc trưng của dân tộc… Với những yếu tố này, nghệ thuật điêu khắc của Hồ Uông đã có được tiếng nói riêng, phong cách riêng tương đối ổn định và Hồ Uông đã ít nhiều thành công trên chất liệu gỗ.
Cần phải thấy rằng, nghệ thuật tượng gỗ của Hồ Uông còn bị giới hạn trong những sáng tác bởi chính phương pháp tả thực, phong cách diễn tả trực diện, đơn giản. Hồ Uông và các đề tài, phương pháp thể hiện của ông đã tạo ra những bức tượng có tính khái quát và ấn tượng nghệ thuật không thật sự sâu sắc. Bố cục của tượng chưa đa dạng và có sự lặp lại môtip. Dù với thể tài nào, hình tượng nào, vẻ đẹp nào cũng trong khuôn khổ gióng thẳng, chồng lên hoặc liền kề nhau và miếng phạc, miếng đẽo, nét xăm xước của các tượng na ná nhau trên những thớ gỗ mít. Đặc điểm này cho thấy tượng gỗ của Hồ Uông còn nghèo về phong cách, thiếu sự đi sâu vào các vấn đề xã hội của đời sống hiện đại nên ngôn ngữ điêu khắc không mới. Bởi khi đưa sự thật đời sống vào tượng càng nhiều sẽ làm tăng sự mới mẻ của hình tượng và khi sự trừu tượng có trong mỗi bức tượng sẽ tạo nên sự điêu luyện của nghệ thuật điêu khắc. Cho nên, nếu biết cách vượt ra khỏi ảnh hưởng của đặc trưng dân tộc để thay đổi xu hướng sáng tác, chú ý đến thủ pháp ước lệ để nâng tính khái quát của hình tượng, chắc chắn Hồ Uông đã có những tượng gỗ thành công hơn.
Điêu khắc, cũng giống như những loại hình nghệ thuật khác, có tính nâng cao và hướng dẫn thẩm mỹ của công chúng trong sự tiếp biến không cùng của sáng tạo và cảm thụ. Tượng gỗ của Hồ Uông ít nhiều đã đem đến trong những tư duy và thị hiếu thẩm mỹ hướng vào điêu khắc những hình dung và liên tưởng về đời sống xã hội, đời sống tâm hồn của người Vân Kiều qua vẻ đẹp đã được miêu tả. Trong sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc nước nhà, Hồ Uông và quá trình sáng tạo của ông đã có những tác phẩm được ghi nhận qua các tác phẩm được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, giải Nhì triển lãm Mười năm Điêu khắc Quốc gia (1983-1993) do Bộ Văn hóa và Hội Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam tổ chức, giải Ba triển lãm Mỹ thuật các dân tộc ít người năm 1993, giải Nhì triển lãm Mỹ thuật khu vực năm 2000,… Tượng gỗ của Hồ Uông, trong tinh thần phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
N.B.N









