|
T |
ừ trước tới nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng. Đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được khẳng định tại Đại hội VII. Đến Đại hội VIII và trong Đại hội IX khẩu hiệu: Lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt được đặt ra cho đúng tầm cỡ Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Nói nhiệm vụ then chốt, bởi nó đụng chạm tới con người, nhất là cán bộ lãnh đạo, đảng viên; bởi nó là cái quan trọng nhất, có tác động quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp đổi mới. Dẫu vậy, khi nghiên cứu các nghị quyết, trong đó có Nghị quyết T.Ư VI (lần 2 khóa VIII) và các tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Ban Tư tưởng - Văn hóa T.Ư, chúng tôi thấy thiếu một cái gì đó. Những điều suy nghiệm sau đây chúng tôi chỉ xem như những gợi ý bổ sung vào quy trình thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết cả Đảng về tổ chức và cán bộ.
I- Xây dựng Đảng là xây dựng con người đảng viên, trước hết là đảng viên lãnh đạo
Phải thừa nhận rằng, trong nhiều văn kiện về tổ chức và cán bộ, khi bàn đến con người cán bộ, đảng viên, Đảng ta quan tâm đúng mức đến những phẩm chất của cán bộ như: lý tưởng, đạo đức, lối sống, tri thức nghề nghiệp, năng lực hoạt động thực tiễn, tác phong công tác v.v… Còn phương diện tâm - sinh lý như truyền thống, huyết thống, những nhu cầu, thể lực v.v… của con người lãnh đạo dường như được ghi còn mờ nhạt. Truyền thống đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự hình thành mỗi con người. Truyền thống danh gia, vọng tộc, truyền thống cách mạng, yêu nước không chỉ là niềm tự hào, mà còn là động lực của sự hình thành, phát triển mỗi thành viên. Truyền thống cộng đồng Nhà, Làng, Nước của người VIệt là trụ cột làm nên sức mạnh dân tộc, nó thật sự bền vững và có quan hệ hữu cơ với nhau. Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh vượng thì nhà yên, dân cường. Không thể có một nhà lãnh đạo giỏi mà sinh ra trong một gia đình thiếu nề nếp gia phong. Có thể chưa giàu nhưng các thành viên trong gia đình sống trong sạch. Không phải vô cớ mà các cụ ta xưa truyền tụng câu nói chí lý của Khổng giáo: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. Muốn lãnh đạo tốt đất nước, cán bộ lãnh đạo từ cấp vĩ mô đến cấp xã, cấp huyện phải biết “Tề gia”. Gia đình thiếu nề nếp gia phong, con cái học hành chẳng ra gì, lại dính líu đến các tệ nạn xã hội, vợ dựa vào quyền lực chồng để kinh doanh phi pháp, làm giàu bất chính, dù công khai hay vụng trộm, thì cán bộ lãnh đạo đó “ăn nói với thiên hạ” ra sao?, quản lý các cấp dưới quyền như thế nào? Nói gì đến uy tín?!. Ở chỗ này, chúng tôi đề nghị, đến Đại hội X Đảng ta nên bổ sung một điều gì đó trong Điều lệ để cũng cố gia phong đảng viên. Tôi nói gia phong, chứ không nói đến thành phần giai cấp, thành phần xã hội. Mỹ tục gia phong là sản phẩm của lịch sử. Nó chịu sự biến đổi của chiều dọc lịch đại (truyền thống) và chiều ngang đồng đại (hiện đại). Dù biến đổi đến đâu thì gia phong chính là gốc của thiên hạ. Người xưa nói: “Gốc thiên hạ ở tại gia đình. Có dạy bảo được người trong gia đình nhiên hậu mới dạy được người trong nước…”(1).
Trong lịch sử nước ta, gia pháp của các bậc vua chúa đời Trần rất nghiêm về danh phận trên dưới. Tác giả cuốn sách trên kể: Hoàng phi Huy Tư là vợ vua Anh Tôn, cái kiệu của hoàng phi đi là của Bảo Tử hoàng hậu ban cho, vua Anh Tôn cho là không phải phép quy định, chưa được đi. Không được dùng…
Cán bộ, đảng viên cũng là những con người cụ thể. Đã là con người thì ai ai cũng có những nhu cầu thiết yếu sau: nhu cầu ăn mặc, nhu cầu bản năng, nhu cầu văn hóa, nhu cầu tâm linh. Các Mác có lần lấy mấy câu châm ngôn cổ để cải chính sự ngộ nhận của một số nhà triết học tư sản cho rằng Chủ nghĩa Mác chỉ quan tâm đến những vấn đề xã hội, mà lãng quên vấn đề con người. Mác nói: Không có gì thuộc về con người mà lại xa lạ đối với tôi. Ở nước ta, vào mười năm gần đây, dưới ảnh hưởng của tư tưởng đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng nhu cầu tâm linh. Hiện tượng phục hồi và tổ chức các lễ hội; việc trùng tu các thiết chế tôn giáo; phong trào tìm về cội nguồn, về quê cha đất tổ, về với tông tộc của những người xa xứ; những hình thức tôn vinh các anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa đều được tổ chức trọng thể v.v… Đó là những nét đẹp văn hóa đang lấp lánh đáng ghi nhận. Nhưng cũng từ đó, đã xảy ra nhiều hiện tượng cường điệu nhu cầu tâm linh. Người ta nhân danh đủ thứ, không loại trừ nhân danh nhà khoa học , nhà duy vật chính cống trước đây mà bây giờ buộc phải tin vào những hiện tượng tâm linh mới như nói chuyện với người cõi âm, chuyện người trần hướng dẫn đi tìm mộ người đã khuất v.v… Từ đó có những kẻ xấu lợi dụng bùa mê thuốc lú lúc đau ốm, kỳ phương dị thuật lúc hoạn nạn, nhằm mục đích kiếm kế sinh nhai. Hiện tượng sau cần được lên án và trừng trị theo pháp luật.
Vậy sao có nhu cầu tâm linh ở con người? Thật ra, nhu cầu tâm linh cũng không hoàn toàn mới đối với văn hóa phương Đông. Dưới thời phong kiến, việc thờ cúng thần linh là một hình thái đặc biệt, một phương thức ứng xử văn hóa đối với nhân thần, thiên thần mà người dân ngưỡng mộ. Còn thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng, các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ ngành nghề… là một đặc trưng đáng trọng, có ý nghĩa giáo dục nhiều thế hệ. Vậy tâm linh là gì? Theo nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, tâm linh là một khái niệm tâm lý nói lên sự gắn kết ba phạm trù thời gian = quá khứ - hiện tại - tương lai với nhau. Mà chỉ có ở con người mới có các phạm trù thời gian. Điều này thấy rõ trong việc thờ cúng tổ tiên và thờ thần linh có ích cho làng, nước(2). Còn chuyện có linh hồn thật hay không, gọi người cõi âm, chuyện thần giao cách cảm, các dòng điện trong trường sinh học v.v… thì đó là những vùng tối mà khoa học cho đến nay vẫn chưa tìm được đáp số.
Tầm vóc và thể lực là những đặc điểm sinh thể quan trọng, phản ánh phần nào thực trạng cơ thể con người,có liên quan đến hoạt động trí tuệ, năng lực lao động của con người. Cán bộ lãnh đạo, quản lý mà yếu về thể lực, thiếu sức sống, thì nói gì đến chuyện có trí tuệ sáng suốt, thì giờ chữa bệnh choán hết các điều kiện để học tập, nghiên cứu. Lãnh đạo quản lý là sáng tạo. Sáng tạo ấy là sức khỏe. Không có sức khỏe làm cơ sở, sáng tạo chỉ là chuyện nói suông. Những thí nghiệm của nhiều nhà y học - dân tộc học cho ta biết rằng, đại bộ phận các nhà khoa học lớn, các nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo có uy tín, các nhà chỉ huy quân sự lỗi lac, các nghệ sĩ xuất sắc v.v… đều có xuất thân từ những huyết thống tuyệt đối khỏe mạnh, trong số đó có từ các ông tổ vốn lao động nông nghiệp hay làm nghề thủ công.
II- Cách mạng nhất là tổ chức, mà bảo thủ nhất cũng là tổ chức:
Đó là câu nói của Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khi bàn về tổ chức và cán bộ của Đảng và Nhà nước ta, mà đến nay vẫn còn có ý nghĩa thực tiễn. Có nhiều chuyện để nói về tổ chức và cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bài này, chúng tôi chỉ xin nêu một điều đã được nêu trong Nghị quyết T.Ư VI (lần hai) (khóa VIII) và trong văn kiện Đại hội IX ở phần chủ trương, lại nêu : “Có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trọng dụng những người có đức, có tài”(3). Nói khái quát là chính sách lựa chọn hiền tài trong thời kỳ mới. Lựa chọn hiền tài là chuyện không mới. Dưới các triều đại phong kiến thịnh trị, các vị vua anh minh đã coi trọng điều này. Nhân tài là cội gốc để làm chính sự. Làm chính trị cốt là chọn được người giỏi. Một trong những quốc sách đầu tiên dưới thời đại mình là vua Quang Trung ban Chiếu lập học, một văn bản chính thống kêu người hiền tài ra giúp nước, lo toan việc công, giữ gìn công cuộc thái bình, cùng dân trăm họ có tài học rộng, kiệt xuất hơn người, kể cả những ai giấu tài, ẩn tiếng thì nay hãy đến phò tá nhà vua, phụng sự vương hầu. Đến thời Nguyễn, Minh Mạng, Tự Đức đã có nhiều chính sách trọng dụng, quy tụ người hiền, nhất là giới sĩ phu Bắc Hà. Có lần Minh Mạng hỏi đình thần: -Trẫm lo chấn hưng văn giáo mà hiền tài ít ỏi thế!?
Trong thời đại Hồ Chí Minh, Bác Hồ là người lo rất sớm đến việc xây dựng cán bộ vừa hồng vừa chuyên; vừa có đức, vừa có tài. Nội dung hai khái niệm này có quan hệ khăng khít, chuyển hóa lẫn nhau. Đã là người có đức (lý tưởng chính trị, lý tưởng nghề nghiệp, có đạo đức, lối sống lành mạnh...) thì thế nào người đó cũng có một tài năng gì đó. Còn nếu đã có tài thực, thì con người ấy có đức rồi đó! Đạo đức cao nhất, phẩm chất chính trị cao nhất của nhà nghệ sĩ, chính là tác phẩm nghệ thuật hay, sống mãi với thời gian. Còn nếu người nghệ sĩ có những cử chỉ làm người khác khó chịu, không ưa, thì đó chỉ là cá tính; mà cá tính thì nên bao dung, vì nó hình thành từ trong bụng mẹ.
Việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo chính trị và việc bình xét chức danh các chuyên gia khoa học là hai trong nhiều hiện tượng xã hội nhằm lựa chọn nhân tài. Ai cũng bảo: hiền tài nước ta không hiếm, nhưng cứ mỗi dịp đại hội Đảng từ cấp cơ sở đến Trung ương, vấn đề nhân sự có lẽ là công việc mất nhiều công sức, trí tuệ, thì giờ của các tổ chức Đảng nhất. Một trong nhiều nguyên nhân là do tổ chức chưa năng động, thiếu đổi mới để xác định mối quan hệ cơ cấu người tài giỏi với cơ cấu các thành phần khác (dân tộc, phụ nữ, địa phương, đoàn thể, độ tuổi, chức vụ). Việc lựa chọn người hiền tài ở cấp Trung ương (bao gồm những nhà chính trị giỏi, nhà quân sự tài ba, nhà chuyên môn thông tuệ) thì hàng đầu phải là những nhân vật có lý tưởng chính trị sáng suốt, có bản lĩnh vững vàng, có ý chí kiên định, có trí tuệ sắc sảo, có tư duy chiến lược, có trí thức lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn. Còn những phẩm chất khác như lòng trung thành, yêu nước, đức hy sinh, ý thức tổ chức kỷ luật, lối sống lành mạnh v.v… thì ở họ cũng giống như ở đảng viên, công dân bình thường(4). Vì vậy, khi cơ cấu người hiền tài ở cấp Trung ương không nên thiên lệch nhiều về các thành phần cơ cấu. Ví dụ: Điều lệ Đảng quy định, đảng viên chính thức muốn ứng cử vào BCH TƯ lần đầu, phải có độ tuổi dưới 55. Nhưng có đảng viên nhiều hơn một hai tuổi là một hiền tài thực sự thì không nên máy móc. Điều lệ, pháp luật, quy chế đều do con người làm ra, chúng chưa bao giờ là bất biến. Vì vậy, người làm tổ chức phải thấy được quy luật xã hội đó để “ứng vạn biến”. Tính cách mạng của tổ chức là ở đó.
Ở các hội đồng bình bầu chức danh khoa học, danh hiệu giáo dục, nghệ thuật, y học; các Hội đồng giải thưởng quốc gia do Đảng lãnh đạo cũng cần được cải tổ để đạt được mục tiêu: công bằng xã hội đối với những tài năng. Khi công bằng được thể hiện, thì không có sự may rủi, hạn chế sự đố kị của những thành viên Hội đồng. Các chuẩn mực bình bầu cũng cần được tính toán, có thay đổi theo giai đoạn, có cân nhắc đến tính lịch sử của vấn đề, của đối tượng bình xét, miễn là cuối cùng đủ tổng số điểm quy định, đặc biệt là phải tính đến hiệu quả xã hội. Trong khoa học, văn hóa và các lĩnh vực sáng tạo, các tài năng không phủ định lẫn nhau. Ở đó có đủ chỗ cho mọi người miễn là họ có tài năng. Nhà tổ chức, các cơ quan tổ chức của Đảng và Nhà nước chính là bà đỡ cho những hiền tài.
III- Mối quan hệ giữa dân và Đảng.
Câu nói người xưa nói: “dân vi bản” là để nói vị trí và vai trò của nhân dân là gốc trong quan hệ đối với những nhà cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Nhận thức sâu sắc mọi lực lượng đều ở dân, mọi lợi ích đều do dân, cán bộ là công bộc của dân, Bác Hồ sớm đề ra chính sách “thân dân”. Thân dân là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Điều này đòi hỏi mọi chính sách của Đảng và Nhà nước phải thấm nhuần phương châm “giữ chặt lòng người”. Đảng ta là Đảng cầm quyền. Muốn lãnh đạo được nhân dân thực hiện có hiệu quả mọi chủ trương, chính sách, thì cán bộ lãnh đạo càng cao càng phải gương mẫu. Trong quan hệ giữa Đảng và dân, có hai điều cần bàn thêm.
Một là, Hiện tượng xa dân có những biểu hiện đáng lo ngại sau: Một bộ phận đảng viên lãnh đạo thường ngại sinh hoạt, nếu có sinh hoạt thì không nghiêm túc phê bình và tự phê bình, sợ ý kiến đóng góp của người ngoài Đảng, trong lúc đó họ đủ mánh khóe để chạy chức, chạy quyền, chạy bằng v.v… không chỉ cho mình mà còn cho cả “êkíp” của mình. Họ thường ít xuống cơ sở, nhưng đầy nhiệt tình hào hứng xách cặp đi nước ngoài. Họ vừa giấu dốt, không dựa vào chuyên gia, “dị ứng” đối với người tài, vừa ít chịu khó học tập, đọc sách báo, để nâng cao trình độ trí thức. Những cấp ủy Đảng tại cơ quan khoa học, giáo dục, văn hóa thường ngại kết nạp những trí thức giỏi, nhưng có cá tính v.v… Nguyên nhân của tình hình trên, nói một cách khái quát là sự trì trệ của các tổ chức Đảng cấp trên, sự quan liêu thâm căn cố đế của các thủ trưởng trực tiếp.
Hai là, Để phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đi vào đời sống một cách có hiệu lực, đảng viên, cán bộ, người dân cần được thông tin. Không có thông tin, “nghèo đói thông tin”, thông tin không chính xác, thì nói chi đến chuyện bàn, làm, kiểm tra? Nhiều năm gần đây, hiện tượng phát tán tài liệu bất hợp pháp vẫn trôi nổi trong dòng chảy dư luận xã hội, chuyện tiếu lâm lành có, dữ có về các vị lãnh đạo cao đã nghỉ công tác hay đương nhiệm, hiện tượng thi hành kỷ luật theo kiểu “giơ cao đánh khẻ” nhằm bao che cho nhau trong nội bộ Đảng v.v… vẫn được bàn tán trong dân v.v… Đã đến lúc cần được giải quyết dứt điểm, không để cho tình trạng dân chúng cực đoan tiếp tục làm vẩn đục dư luận xã hội. Muốn vậy, cần dân chủ hóa, công khai hóa một số thông tin nóng. Việc này hết sức hệ trọng đối với công tác dân vận. Chúng ra không sợ các loại thù địch lợi dụng. Bởi bản chất của chúng là lợi dụng, xuyên tạc. Chúng ta chỉ sợ dân biết không đến nơi đến chốn, lẫn lộn trắng - đen, đúng - sai, không biết đâu đúng để mà tin. Trừ một số thông tin tối mật có tính chất quốc gia đại sự để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, còn lại thì nên thông tin để dân biết, mà tin yêu Đảng hơn. Trên thực tế, các cơ quan chức năng không thông tin đầy đủ, chính xác, có tổ chức, thì người dân sẽ nghe các nguồn thông tin khác qua các kênh truyền thông, qua internet, hoặc báo chí nước ngoài. Như vậy là ta thiệt, vì không dựa vào dân.
IV- Văn hóa Đảng là văn hóa hành động:
Thuật ngữ văn hóa Đảng không hoàn toàn mới. Bác Hồ đã nhiều lần ví Đảng ta là Đảng của trí tuệ, là đạo đức là văn minh. Tính gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, mối quan hệ mật thiết giữa dân và với Đảng là những dấu hiệu của văn hóa. Trong kháng chiến chống Pháp, khẩu hiệu “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” phải chăng là văn hóa Đảng trong thời chiến. Nhiều nhà lãnh đạo cao cấp đều coi công cuộc đổi mới là hiện tượng văn hóa. Trong các tôn giáo có phương châm “văn hóa hóa tôn giáo”, ta mới có phong trào “tối đời đẹp đạo, kính Chúa yêu nước” v.v… Tất cả cách diễn đạt trên đều hàm nghĩa: sự hiện diện của nhân tố văn hóa trong mọi hoạt động xã hội là động lực của phát triển. Văn hóa trước hết là hiểu sâu lịch sử văn hóa dân tộc, động lòng trắc ẩn với mọi số phận và mọi góc cạnh của đời người, là làm cho con người vươn dậy hành động. Xét theo nghĩa đó thì Đảng ta có bề dày văn hóa ứng xử của mình đối với tự nhiên, xã hội, con người. Phê bình và tự phê bình là quy luật của phát triển, là sự trưởng thành của từng cá nhân trước hết phải bắt đầu từ bước nhỏ cá nhân để đi đến bước lớn của xã hội. Không thể một lúc sửa chữa được toàn xã hội, nhưng có thể sửa chữa được lỗi lầm của từng cá nhân. Người ta gọi phê bình và tự phê bình là dấu hiệu văn hóa là ở nghĩa đó. Ở Trung Quốc trong xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản quan tâm xây dựng: phong cách Đảng. Nó là hiện tượng văn hóa. Nghiêm túc từ nội bộ Đảng ra ngoài quần chúng; từ trên xuống dưới; yêu cầu nghiêm khắc; quản lý nghiêm khắc, giám sát nghiêm khắc, kỷ luật và pháp luật được thi hành đến nơi đến chốn. Cán bộ đảng viên có chức có quyền phải biết vượt qua quyền lực và mọi dục vọng tầm thường mới nói tới chuyện phẩm chất, nhân cách. Đó là cán bộ lãnh đạo là phải biết “tri túc”, biết chỗ dừng. Nếu con người bắt đầu sục sôi, tham vọng vơ vét tài sản của dân, ham muốn công danh vô độ thì đó là con người vô văn hóa, thiếu nhân cách. Hiện tượng một số không ít đảng viên lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước dính líu chuyện mua quan bán tước, tham quyền cố vị cần được dư luận lên án, cần dùng những biện pháp phê bình và tự phê bình, nhưng trước hết phải có cơ chế, tổ chức để thanh tra, kiểm soát và ngăn chặn. Khi đã coi tham nhũng là quốc nạn, là kẻ thù của sự nghiệp đổi mới, thì phải có quốc sách chứ không chỉ dừng lại ở những biện pháp. Tham nhũng hối lộ là hiện tượng xã hội, vừa là hành vi tâm lý. Phải làm cho con người biết sợ, biết xấu hổ, nhất là những kẻ đang đứng trên bờ vực thẳm của vũng lầy sa đọa, đồng thời phải có những biện pháp phòng ngừa răn đe số đông quan chức khác. Kinh nghiệm chống tham nhũng ở một số nước trong khu vực cho ta hay rằng, chống tham nhũng hối lộ là việc làm quyết liệt, không ngừng, đồng bộ với trăm phương nghìn kế, cốt sao cho số đông công chức Nhà nước không dám, không thể, không cần, không muốn tham nhũng. Trong việc thi hành án, kể cả án tử hình có lúc, có nơi, có trường hợp cũng cần được công khai hóa. Đó là hình thức trừng phạt, răn đe có hiệu quả nhất đối với bọn tham nhũng, bọn phản động.
Văn hóa Đảng là văn hóa bao dung, thương người, trọng dân. Muốn thương dân, trọng dân thì không thể không tiến hành đấu tranh liên tục, không khoan nhượng đối với kẻ thù tham nhũng, dù gian khổ đến mấy. Lòng dân đã quyết, sức dân đã mạnh, chỉ chờ những quyết sách của Đảng mà trước hết là những kế sách về tổ chức, cán bộ.
H.S.V
___________
(1) Ngô Thi Sĩ: Việt Sứ Tiền An, Nxb Thanh Niên, 2001, tr.262
(2) Phạm Minh Hạc: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực, Đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr.227
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX; Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr.141









