Ngày xuân, đôi điều về văn hóa tâm linh và tín ngưỡng cổ truyền
HỒ SĨ VỊNH

Văn hóa tâm linh là thuật ngữ xuất hiện trên văn đàn vào vài ba thập kỷ gần đây, khi các nhà nhân học quốc tế thừa nhận yếu tố tâm linh là một trong bốn thuộc tính của con người: Con người xã hội, con người sinh học, con người tâm lý, con người tâm linh. Khi nghiên cứu con người: cái tự nhiên và cái phi tự nhiên, lý trí và tình cảm, trí tuệ và cảm xúc, cái thiêng và cái tục,… được nhiều nhà triết học “giải mã” để hiểu biết toàn diện con người không phải là “một bí ẩn”. Văn hóa tâm linh có những đặc điểm sau:

Tính thiêng: Khi chúng ta nói, vùng đất địa linh nhân kiệt, hào khí núi sông, cơ trời vận nước, miền đất rồng cuộn hổ ngồi, hồn thiêng núi rộng sông dài, khí phách cha ông thuở trước,… chính là tinh, khí, thần của một làng văn hóa linh thiêng, với những con người linh thiêng của một làng như Thành hoàng làng, một cụ tổ làng nghề, những anh hùng chính sử như Trần Hưng Đạo, Quang Trung, những danh nhân văn hóa như Chu Văn An, Lê Quý Đôn và xa hơn là một anh hùng huyền thoại như Thánh Gióng, một biểu tượng thờ Mẫu như bà Liễu Hạnh,… đều là đối tượng sùng kính, ngưỡng mộ tôn vinh và noi gương.

Có linh hồn hay do thần giao cách cảm hoặc các luồng điện hiện lên trong trường sinh học? Hay chỉ là chuyện người đang sống hướng tất cả tinh thần, khí chất, tình cảm về người đã khuất? Đây là đề tài đòi hỏi sự nghiên cứu công phu của nhiều ngành khoa học. Có điều, việc hướng về cội nguồn, biết ơn người đã khuất, tri ân công trạng của các bậc tiên hiền, tôn vinh những danh nhân có công với nước, với dân là một phong tục đẹp ở nước ta. Ở đây không có chỗ cho những hành vi mê tín, dị đoan, hiện tượng trục lợi tình cảm linh thiêng của con người đối với thần thánh, cho những kẻ làm ăn phi pháp “buôn thần bán thánh” để lừa bịp những ai nhẹ dạ, cả tin.

Tính hòa giải: Giáo lý của các tôn giáo lớn ở nước ta có một đặc điểm chung là tính hòa giải. Ba tôn giáo là Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo giáo được du nhập từ nước ngoài, nhưng khi vào nước ta đều được bản địa hóa, dân gian hóa, phong tục hóa để dễ bề truyền bá. Giáo lý của ba tôn giáo cũng có nhiều điểm rất khác nhau, có những tri thức rất cao siêu, suy lý tư biện, thậm chí huyền bí, nhưng ở cả ba đều mang tính nhân văn, lấy con người làm trung tâm: yêu con người, cầu mong xã hội thái bình, quốc thái dân an, mở rộng lòng bác ái công bằng, từ bi, hỷ xả, triết lý sống gắn với thiên nhiên,… Lấy giáo lý đạo Phật làm ví dụ: Đức Phật tổ đắc đạo là nhờ tìm được hai thuyết lớn: Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Tứ diệu đế là khổ, tập, diệt, đạo được coi là bốn chân lý: đời là bể khổ (khổ); nguồn gốc của khổ là dục vọng (tập); phải làm mất nguyên nhân sinh ra khổ (diệt); con đường dẫn đến giải thoát (đạo). Tuy cách giải thích còn có chỗ khoảng trống huyền bí, nhưng phải thừa nhận rằng, những người chân tu đều hiểu rằng, nỗi khổ lớn nhất không chỉ ở tâm lý, sinh lý cá nhân mà còn là do nguyên nhân xã hội: nghèo đói, áp bức, chiến tranh, phân biệt chủng tộc, hủy hoại môi trường sống. Còn Thập nhị nhân duyên gồm: lão, sinh, hữu, thủ, ái, thụ, xúc, lục nhập, hình danh, thức, hành, vô minh. Ngoài việc giải thích theo ý nghĩa sinh học (có sinh tất có lão, bệnh, tử); theo qui luật tâm - sinh lý: thủ là ý muốn kéo dài cuộc sống đời người; ái, thụ, xúc là những nhân duyên thường tình của con người; thức là ý nghĩa về bản ngã; hành là làm cho con người hành động; vô minh là thiếu sáng suốt không biết đúng, sai,… đều gắn với ý thức con người và thực tiễn xã hội. Trên thực tế, đại đa số nông dân, thợ thủ công, người buôn bán không biết những triết lý sâu xa của đức Phật tổ, chỉ biết việc cầu phúc, chuyện quả báo luân hồi, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, tu nhân tích đức để hưởng hạnh phúc kiếp sau. Đây chính là dáng nét lấp lánh của văn hóa tâm linh. Người ta nói triết lý Phật giáo chuyển thành đạo đức học là vì vậy.

Ở nước ta tính đến nay có khoảng trên 8.000 lễ hội với qui mô to nhỏ khác nhau. Lễ hội là hình thái tín ngưỡng có từ thời cổ đại, khi con người bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên. Người ta biết rằng, những vị thần, vị thánh của người lao động lý tưởng, những bậc thầy nghề nghiệp, những tài năng đã chiến thắng thiên nhiên, những anh hùng dân tộc, đã đại thắng các thế lực xâm lược, giữ gìn bờ cõi. Lễ là niềm tin, là tín ngưỡng. Hội là vui chơi, ca hát là chuyện thế tục. Vậy mà hai hình thái văn hóa mang hiện tượng đối nghịch: thiêng và tục, đạo và đời, duy lý và duy cảm, trí tuệ và tâm linh lại hòa quyện vào nhau tạo nên luồng giao hòa tâm linh giữa người với người, giữa người với thần thánh, với vũ trụ. Lễ hội là hiện tượng tâm linh hướng tới cái cao cả, cái thiện, cái mỹ. Chính hạt nhân hợp lý này đã làm cho hai nghịch lưu hòa nhập vào một, làm cho đời sống văn hóa đương đại thêm phong phú, hữu ích. Dưới đây là hai hiện tượng tín ngưỡng dân tộc:

Đốt vàng mã: Nhiều người mê tín cãi lý rằng đốt vàng mã là công đoạn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, việc gì phải cấm đoán. Nói như vậy là sai. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ lâu đời, là nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn và phát huy. Bảo tồn cái đức và cái tâm của con cháu đối với các bậc tiên liệt. Người còn sống tin rằng, tổ tiên, ông bà đã khuất là thiêng liêng, linh hồn vẫn còn “sống” bên cạnh con cháu. Những khi xuân về, Tết đến, những ngày giỗ chạp, tổ tiên phù hộ cho con cháu khi gặp điều không may, ân thưởng con cháu lúc làm điều lành, quở trách kẻ hậu sinh làm chuyện vô luân, vô đạo. Còn chuyện đốt hương tùm lum nơi đình, chùa càng nhiều được coi là lòng thành càng lớn, đốt vàng mã ở gia đình với tâm niệm “dương sao âm vậy” có khi tốn bạc triệu. Hiện tượng những lò lửa hóa vàng tàn bay tung tóe ở đền bà Chúa Kho với những mâm lễ bạc triệu với vàng, bạc giả, “đôla âm phủ” để dâng Bà cứ tưởng sẽ được lộc lớn… là những chuyện vừa phi lý vừa nhảm nhí. Bà Chúa Kho là biểu tượng văn hóa của người xưa tri ân người phụ nữ tận trung với nước, hiếu nghĩa với dân, liêm khiết bảo vệ kho lương thực dự trữ quốc gia sao để những kẻ cuồng tín biến thành nơi mua bán, vay trả một cách thô tục!? Tiếc rằng, trong số đó có không ít những người là cán bộ, viên chức nhà nước muốn sống “ký sinh”, bất chấp bất minh vào sức mạnh của thần thánh từ mùa lễ hội này sang mùa lễ hội khác vẫn tái diễn. Những hiện tượng nói trên cần được công luận lên án và pháp luật cưỡng chế.

Xem sao đoán mệnh: Đây là một hành vi “rởm” của Đạo giáo phù thủy. Mấy năm gần đây, nhiều người biết mình có sao xấu như Kế Đô, La Hầu, Thái Bạch thì lo lắng, tìm mọi cách cúng sao để giải hạn, tìm thầy giỏi, chùa thiêng hy vọng tai qua, nạn khỏi nhất là những người độ tuổi 49 - 50 (ngũ thập tri thiên mệnh). Có khi mất cả chài lẫn chì, lúc phải bỏ ra cả chục triệu đồng làm lễ giải hạn. Có cầu thì có cung, nhiều chùa lập lễ giải hạn, cúng sao, niêm yết lịch dâng sao giải hạn với mức chi phí mà người được giải hạn phải đóng góp. Xem sao giải hạn để đoán mệnh một con người là tập tục lâu đời của Đạo giáo nhằm giải quyết phần tâm lý - tâm linh cho đối tượng được xem, được đoán. Trong quan niệm của người phương Đông thời cổ đại, mọi người sinh ra đều có một vì sao chiếu mệnh tùy theo năm, có sao tốt và sao xấu. Có tất cả hai mươi bốn sao chia thành chín chòm: La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Thái Âm, Kế Đô, Mộc Đức. Trong giáo lý đạo Phật không có chuyện cúng sao chiếu giải hạn. Trên thực tế, số đông người ít nghĩ đến chuyện đồng bóng, xem sao giải hạn mà vẫn gặp vận may, dù có đi chùa hay không (ở họ tu tại tâm là chính) dù có gặp sao tốt hay không, thì họ vẫn an cư lập nghiệp, sức khỏe dồi dào. Niềm tin vào sao đoán mệnh là chuyện nhảm nhí đối lập với chuyện cầu an, cầu phúc của Phật giáo.

Tại sao lễ hội thường tập trung vào mùa xuân? Bởi mùa xuân, theo qui luật muôn đời của vũ trụ là thời gian sinh sôi, phát triển của mọi vật, là thời khắc giao hòa giữa vũ trụ và con người, giữa trời và đất, giữa dương và âm. Nước ta là nước nông nghiệp, quanh năm làm lụng vất vả, hai sương một nắng để có cái ăn, cái mặc. Chỉ có mùa xuân là thời gian nông nhàn. Câu ca dao “Tháng giêng là tháng ăn chơi” không nên hiểu theo nghĩa đen. Ăn chơi ở đây nên nhận thức theo nghĩa biểu tượng của một phong tục mùa xuân: mùa lễ hội, nơi gặp của những người lao động bình dân, của những đôi trai gái với nhiều trò chơi, trò diễn mang ý nghĩa phồn thực. Mùa lễ hội thường diễn ra ở miền đất thiêng: chùa, đình, miếu, nhà thờ họ, nơi tưởng niệm tôn vinh các nhân vật siêu nhiên, các anh hùng dân tộc, thành hoàng làng, cũng có nơi thờ “thiên thần”.

Thời hiện đại, thời hội nhập, lễ hội không mất đi trái lại còn phát triển, gắn với du lịch. Song, cần nhìn nhận lễ hội, tín ngưỡng bằng con mắt xanh, rộng mở, biện chứng giữa lý và tình, cộng đồng và cá nhân. Có như thế chúng ta mới kế thừa phát huy lễ hội thành hành trang tinh thần để đi vào đời sống văn minh hiện nay.

H.S.V

 

 

_________________________________________________
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 294, tháng 3 năm 2019
Ngày cập nhật: 18/3/2019



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com