Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 29/09/2022 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Một ngày tháng 5 năm 1967.

Anh Phạm Ngọc Thuần, chủ nhiệm Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài, thủ trưởng của tôi, giọng Nam Bộ nhỏ nhẹ: “Em ngưng mọi công việc, lên ngay dinh Chủ tịch, nhận lệnh của Bác Hồ”.

Xe vừa đến trước sân trải sỏi của Chủ tịch phủ, tôi đã thấy bốn anh giám đốc các xưởng phim Tài liệu thời sự trung ương, xưởng Phim truyện Việt Nam, xưởng phim Quân Đội Việt Nam, xưởng phim Giao thông vận tải đang đứng dưới bóng cây hoàng lan. Khoảng năm phút sau, anh Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, xuất hiện trên thềm phòng khách lớn: “Mời các anh chị vào”.

Bác Hồ đang ngồi nói chuyện với hai khách nước ngoài. Vị khách nam tóc bạc bồng bềnh, ngồi cạnh một phụ nữ dáng người nhỏ nhắn, rất đặc biệt với bộ tóc màu hung đỏ và đôi mắt xanh xám rất đẹp. Cả ba đang cười nói.

Thấy chúng tôi vào, Bác quay lại: “Bác giới thiệu với các cháu, đây là hai người bạn thân thiết của Bác, là những nhà điện ảnh cách mạng nổi tiếng trên thế giới. Ông Joris Ivens đã làm hàng chục phim tài liệu nói về các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Người bạn đời của ông, bà Marceline Loridan, là một phụ nữ Do Thái đã bị tập trung vào lò thiêu người Auschwitz của phát xít Đức. Chỉ còn năm ngày nữa là đến lượt bà bị vào lò thiêu, rất may mắn là quân Đồng Minh đã kịp đến giải phóng”.

Ông bà Ivens tươi cười quay lại bắt tay chúng tôi...

Buổi gặp gỡ đầu tiên ấy đã mở đầu cho hành trình làm bộ phim “Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân”.

Một ngày tháng 5 năm 1967.

Sau hai ngày đêm vượt phà, vượt những con đường lổn nhổn hố bom cày nát, mò mẫm đi trong đêm với ánh sáng leo lắt của một ngọn đèn nhỏ gắn ở gầm xe, chúng tôi từ Hà Nội đã đến địa phận tỉnh Thanh Hóa.

Cả ba chiếc xe jeep, lá ngụy trang phủ đầy, được cất giấu trong một con hào nửa chìm nửa nổi. Mười một anh em trong đoàn chia nhau mấy tấm phên tre đặt dưới hào, sát bên cạnh là những chiếc hầm sâu hơn để tránh bom. Đang mệt nhoài và ngủ mê mệt, bỗng những tiếng nổ chát chúa bên tai, những tia chớp xanh lét làm tôi bừng tỉnh dậy. Quay phim Đào Lê Bình hét lên: “Bom bi, bom bi”. Chỉ kịp với tay giật chiếc túi cấp cứu, tôi nhảy vội xuống hầm. Ông bà Ivens đã ngồi nép vào một góc hầm, ba anh bảo vệ ngồi xung quanh. Mỗi phút trôi qua, bom bi càng nổ chát chúa, những tia chớp xanh lạnh, chói lòa cả căn hầm. Bình hét lên: “Tôi bị thương rồi”.

Tôi đưa tay chạm vào cổ anh. Một dòng nước ấm nhơn nhớt chảy nhầy nhụa. Tôi cầm vội con dao mổ nhỏ, sờ soạng vào cổ Bình và cảm nhận được một vật tròn tròn dưới làn da cổ. Một tia chớp, một đợt bom bi lại nổ. Ông Ivens hét lên: “Phượng, hãy bình tĩnh! Săn sóc gấp cho Bình”. Tôi cầm con dao mổ, một tay bóp mạnh để gắng cố định viên bi đang nằm dưới làn da, tay kia khía mạnh. Viên bi tròn còn nóng máu người rơi thỏm xuống lòng bàn tay tôi. Máu ngừng chảy, vết thương được dán kín.

Cuộc thả bom chớp nhoáng đột ngột dừng. Không gian trở lại yên tĩnh một cách khác thường.

Trời mờ sáng. Ba chiếc xe jeep bị bom phá tan hoang, két nước thủng lỗ chỗ, đệm ngồi văng tứ tung. Phi Hùng, người phụ trách an toàn của đoàn, gọi điện về Hà Nội xin chỉ thị. Như đoán biết trước, ông Ivens đi men theo vách hầm đến đưa cho tôi một mảnh giấy: “Chưa đi được một phần mười của hành trình. Chúng tôi quyết định vẫn đi tiếp vào Vĩnh Linh. Chúng tôi không trở về đâu. Ký tên Joris và Marceline”. Chiều hôm ấy, lệnh hỏa tốc từ Hà Nội vào: “Bổ sung cho ba xe khác. Đoàn tiếp tục lên đường. Gắng bảo vệ tính mạng cho khách”.

Và cứ thế, khi mặt trời lên, cả đoàn tìm vào các hầm trú ẩn của địa phương, hoặc chui vào các hốc đá, các hang đá nghỉ ngơi. Đôi khi vất vưởng ngồi dưới những hàng cây chạy dài ven suối. Chờ lúc chạng vạng tối lại lên xe, vượt bom, vượt pháo sáng, qua cầu phao, qua các đèo nham nhở đất đá tung tóe. Khó chịu đựng nhất, gây căng thẳng nhất và đáng sợ nhất là những đợt ánh sáng xanh ma quái khét lẹt kết hợp với tiếng gầm rú điên cuồng của đủ loại máy bay Mỹ chằng chịt xuyên qua bầu trời.

Đêm ấy, sau khi vượt an toàn qua hai phà, chiếc xe của Ngọc với ông bà Ivens, Phi Hùng, Bình và tôi nghiêng ngả chạy như say rượu trên con đường chằng chịt hố bom, dưới ánh sáng xanh ma quái của pháo sáng. Tôi lim dim ngủ. Một tiếng động chát tai. Xe Ngọc chạm phải phía sau một xe vận tải. Chiếc xe jeep nhảy chồm lên, những mảnh kính vỡ vụn bắn vào mặt tôi, máu chảy ròng ròng. Tôi nhảy vụt ra khỏi xe. Tiếng Marceline thét lên: “Ôi cái chân tôi!”. Trong bóng tối, hàng chục cánh tay của các em thanh niên xung phong đang lấp hố bom gần đấy dìu chúng tôi vào một hố to khoét sâu bên thành vách đất. Những mảnh kính vỡ vụn được từ từ rút ra khỏi mặt tôi. Tôi mở mắt và thấy Marceline đang nép vào Joris, chân phải đã được băng lại, cứng đờ. Đến một trạm quân y nằm khá xa tuyến lửa ở Hà Tĩnh, bác sĩ khám cho hai chúng tôi. Tôi được rửa sạch những vết thương trên mặt. Kỳ diệu thay tuổi trẻ, máu đã ngừng chảy. Vẫn còn bỏng rát, nhưng tôi đã có thể sẵn sàng lên đường. Riêng Marceline thì nghiêm trọng hơn, vết thương đầu gối khá nặng, phải nhập viện. Trạm quân y dã chiến này nằm cách đường khoảng hai mươi cây số, lẩn khuất trong những lùm tre. Ông Ivens quyết định ngay: “Để Marceline nằm điều trị tại đây. Tất cả đoàn chúng ta tối nay lên đường”. Lúc ấy, nhà quay phim Thái Dũng đang bị thương và cũng đang nằm điều trị tại trạm quân y này. Tôi nhờ Thái Dũng trông nom giúp bà Marceline, rồi cả đoàn vội vã lên đường.

Xe ì ạch vượt đèo Đá Đẽo. Lại tiếng bom nổ, lại những ánh chớp xanh khét lẹt của pháo sáng, lại những lúc xe đang vượt cầu phao, bỗng máy bay ào đến, cầu phao nghiêng ngả, ba chiếc xe mấy lần suýt rơi xuống sông... Hết bom, lại mò mẫm trong đêm hướng về Vĩnh Linh. Ivens có lẽ lo lắng cho Marceline nên ít chuyện trò hơn, đầu nghiêng nghiêng qua cánh cửa xe, đăm đăm quan sát bầu trời chằng chịt pháo sáng.

Hết địa phận Quảng Bình, ba xe dừng lại. Bốn năm người trong Ủy ban Vĩnh Linh từ trong hầm bước lên chào đón.

Tính theo thời bình và xe chạy đàng hoàng dưới ánh mặt trời, đoạn đường Hà Nội - Vĩnh Linh là gần sáu trăm cây số.

Sau này, Phi Hùng thuộc xưởng phim Giao thông vận tải, đã tổng kết:

- Ba xe jeep ngày nghỉ đêm đi trên một ngàn cây số, hành trình mất hai mươi tám ngày.

- Ba xe jeep bị phá nát, được cấp ba xe jeep khác, một xe để lại ở trạm quân y Hà Tĩnh cho bà Marceline đi sau.

- Năm ngày nằm ở hang động Quảng Bình vì bị tắc đường, hai mươi hai lần tránh bom, hai lần suýt chết. Còn nhảy ra xe, nhảy vào xe rồi lại nhảy ra xe, rồi lại nhảy vào xe… thì đếm không hết.

- Nhai lương khô mất ba thùng trong mười lăm ngày, được hai bữa ăn thịt gà, ba bữa ăn tươi ở Thanh Hóa, ngoài ra, khoai, sắn, bắp luộc thay bữa ăn không kể.

- Ngoài Bình, Phượng và Marceline bị thương nặng nhẹ khác nhau, còn tất cả thì: “Sợ thì có sợ, biết chạy tránh bom như chớp, biết bảo vệ ông Ivens an toàn, và bản thân mỗi người bình yên vượt qua cái chết. Rất đáng khen”.

Mỗi người một bát nước chè xanh, một viên kẹo đường đen, một điếu thuốc lá, ai nấy đều hỉ hả.

Một đêm khác trong địa đạo. Lại những giấc ngủ mê mệt sau một ngày chịu đựng bom đạn. Bỗng có tiếng hét to: “Có ai là bác sĩ ở đây không? Cứu với, cứu với!”

Tôi choàng dậy. Bóng một người đàn ông cầm một ngọn đèn dầu leo lắt, giọng Quảng Trị nghẹn ngào: “Đoàn ơi! Cứu chúng tôi với! Vợ tôi đau đẻ đã hai ngày nay. Chắc là sắp đi rồi”, rồi bật lên tiếng khóc rất to. Chơn, phó thu thanh của đoàn, và tôi dò dẫm theo bước chân anh ta. Địa đạo Vĩnh Linh chằng chịt hào ngang hào dọc, hầm nối tiếp hầm, thực là lạc vào một mê cung trong lòng đất. Tiếng rên khe khẽ rõ dần, bóng tối vẫn mịt mùng vây quanh. Tôi lấy tay sờ. Một phụ nữ đang nằm, bụng căng cứng, người lạnh ngắt. Lố nhố bóng nhiều người sau lưng tôi. Để lấy không khí cho người sắp đẻ, tôi hét lên: “Nấu cho tôi một nồi nước”. Mọi người tản ra. Tôi bắt đầu dặn: “Chị nín thở rồi rặn thật mạnh”. “Trời ơi đau lắm, không rặn được”. Là lần sinh nở đầu tiên, chị không biết cách rặn. Tôi kiên trì khuyên nhủ, nhưng thực ra là tiếng hét của tôi lẫn vào tiếng khóc của người đàn bà đang đau đớn kia...

Đến khi áo tôi ướt đẫm mồ hôi, gần đuối sức thì cũng là lúc đầu em bé nhô ra. Một tiếng oe oe đầu tiên òa khóc. Người chồng bỗng khóc rống lên.

Lo cho hai mẹ con xong, chúng tôi lại dò dẫm trở về gian hầm của mình. Không ngờ, Joris và Marceline vẫn chưa ngủ và đang chờ chúng tôi ở cửa hầm. Tôi vừa mệt vừa vui: “Ca va” (được rồi). Marceline ôm tôi vào lòng. Bỗng trong địa đạo vang lên tiếng tôi quát tháo ầm ĩ, tiếng khóc của người mẹ, tiếng lao xao của những người đứng gần sản phụ. Rồi bật vang lên tiếng khóc oe oe của đứa trẻ sơ sinh, hòa với tiếng khóc nức nở của người cha. Trong lúc tôi vô cùng bấn loạn vì trường hợp đỡ đẻ không đèn, không phương tiện cấp cứu, không nhìn rõ mặt sản phụ thì Chơn đã mở máy thu hết những tiếng động này.

Trong căn hầm, mọi người đã tỉnh dậy, quây quần bên chiếc máy ghi âm. Joris đặt tay lên vai tôi: “Các bạn hiểu tại sao tôi yêu suốt đời cái nghề làm phim chiến trường không? Giữa cái Chết và cái Sống, chúng ta có hạnh phúc, có may mắn ghi được sự sống ngay cả trong lòng đất, ngay cả khi cái chết cận kề”. Riêng tôi, tôi không quên được hình ảnh hai ông bà Ivens đã thức đợi suốt đêm, đã lo lắng cho số phận của một em bé sinh trong địa đạo.

Hai ngày sau, người cha đem biếu đoàn mấy củ khoai mì. Anh cầm tay tôi: “Tui cảm ơn O không kể xiết. Xin O đặt tên cho con trai tui”. “Tôi xin đặt tên cháu là Nguyễn Xuân Phượng, là tên của tôi”.

Anh Hoàng, người phụ trách báo chí Vĩnh Linh cho biết: “Có một em bé Vĩnh Linh lên chín tuổi, đã giúp bộ đội đặc công phá được một sân bay trực thăng…”

Sáng hôm sau, dưới một bụi tre, một em bé đang ngồi chơi với mấy anh bộ đội trên đầu một chiếc xe tải. Dáng người đậm, chắc, da nâu đen, không để ý gì đến chúng tôi, em đang tháo lắp thành thạo một khẩu súng AK. Ông Ivens sờ nhẹ vào tay Bình. Bình lặng lẽ giơ máy quay và bấm một trường đoạn dài. Nghe tiếng máy quay chạy, em mỉm cười, hai chiếc răng khểnh làm lộ một nụ cười dễ thương và vội vã nhảy xuống. Anh Hoàng đặt một chiếc ghế ngay ngắn dưới một gốc tre và kéo em bé ra ngồi, sửa lại tóc tai, chuẩn bị cho buổi quay phim.

Ông Ivens bứt tóc, cau có quay lại vặc tôi: “Lại bố trí rồi! Hãy để em bé tự nhiên ngồi như lúc chúng ta gặp”. Sau một hồi giải thích để “đạo diễn Hoàng” hiểu được cách quay của ông Ivens mà không tự ái, tôi đề nghị em ngồi lại trên đầu chiếc xe tải. Ông Ivens hỏi: “Thế còn cái mũ bộ đội và cái súng em cầm lúc nãy thì sao?”. Vậy là cậu bé Phạm Công Đức, đầu đội mũ bộ đội, tay mân mê khẩu súng AK, nhìn thẳng vào máy quay: “Cháu tên là Phạm Công Đức, gia đình cháu ở bờ Nam. Các chú bộ đội muốn phá sân bay trực thăng, cháu liền cùng với hai bạn khác đi vào khu vực sân bay và giả đò chơi trò đánh khăng. Thân của cây khăng dài đúng một mét, bọn cháu đánh ra xa rồi đo, đo từ đầu đến cuối sân bay, cả chiều dọc lẫn chiều ngang rồi về báo với các chú bộ đội. Bọn Mỹ không nghi ngờ chi hết. Sau đó, các chú bộ đội tính toán và bắn pháo cối vào chính xác, phá nát sân bay. Cháu được tặng Dũng sĩ diệt Mỹ”. Ông Ivens hỏi thêm vài câu nữa. Bé Đức trả lời dứt khoát và hồn nhiên, tay vẫn không ngừng mân mê khẩu súng. Được khoảng năm phút, mắt vẫn đăm đăm nhìn vào ống kính, nhưng cháu bắt đầu mệt mỏi, ngáp một hơi dài. Ông Ivens vẫn bảo Bình tiếp tục quay. Sau này, cái ngáp của Đức lên màn ảnh vừa dễ thương, vừa rất cảm động. Một bài học về cách quay phim của Ivens cho tất cả chúng tôi.

Năm 1968, khi chiếu trường đoạn này trên màn ảnh Pháp, một người xem chất vấn: “Sao ông lại cố tình để một đứa bé mới lên chín tuổi, biết lắp ráp thành thạo và cầm chắc tay súng trong suốt cuộc phỏng vấn? Sao một em bé lại đội chiếc mũ quân đội Việt Nam?”.

Ông Ivens trả lời: “Ai chưa thiếu ăn, chưa đói bụng bao giờ thì không thể nào hiểu được sự hành hạ của cơn đói. Nếu như trong một buổi tối an lành, cả nhà anh đang quây quần trong bữa cơm, bỗng có một hay nhiều người xông vào, lần lượt bắn chết từng người, rồi sau đó lại trút bom tàn phá ngôi nhà của anh thì lúc ấy không biết đứa trẻ chín tuổi kia có quyền cầm súng để báo thù hay không? Hãy đi đến những vùng bị tàn phá, bị hủy diệt mới hiểu nổi tại sao người già, đàn ông, đàn bà, từ bé đến lớn ở Vĩnh Linh đều đồng lòng chống lại kẻ xâm lược. Chúng tôi gọi đây là một cuộc chiến tranh nhân dân vì cái lẽ đơn giản đó mà thôi”.

Năm 2007, khi chúng tôi làm bộ phim “Trở lại Vĩnh Linh - 40 năm sau”, tôi đi hết xã này sang xã khác, mong tìm được em bé Đức của ngày nào.

Nắng Vĩnh Linh chang chang hầm hập. Vào một căn nhà với đầy hy vọng, rồi phải trở ra vô cùng chán nản. Không thể tìm được em bé này rồi. Tối hôm đó tôi phàn nàn với Khiêm, người quay phim của đài Truyền hình Quảng Trị đi quay cho chúng tôi: “Chán quá, ngày mai cô phải trở vào Sài Gòn rồi. Hơn một tuần nay không sao tìm được tin tức của bé Đức. Nếu còn sống thì năm nay Đức cũng đã bốn mươi chín tuổi”.

Khiêm chậm rãi: “Cháu có học một thầy dạy toán cấp ba tên là Phạm Công Đức, nhà thầy cũng ở ngay Dốc Miếu”. Linh tính nghề nghiệp làm tôi hỏi lại Khiêm: “Cháu cho cô số điện thoại của thầy Đức”, và lập tức bấm máy. Một giọng Quảng Trị nằng nặng, ồ ồ: “Ai hỏi chi rứa?”.

Khiêm cầm máy điện thoại: “Thưa thầy, cô Xuân Phượng, trước quay phim Vĩnh Linh với ông Ivens, muốn hỏi thăm thầy”. Điện thoại đột ngột bị cắt ngang.

Chừng hai mươi phút sau, một bóng người chạy vội vào phòng lễ tân khách sạn, rối rít: “Đâu, O Phượng đâu, trời đất ơi, O Phượng đâu?” Tôi quay lại. Đây, bé Đức của tôi đây rồi, cậu bé Đức của năm nào đây rồi. Vẫn đôi mắt ấy, vẫn nụ cười có hai chiếc răng khểnh ấy. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, tưởng chừng như không hề có gần nửa thế kỷ đã qua...

Sáng hôm sau, Đức đưa tôi về nhà, nhà số 1 đường Dốc Miếu. Vợ và bốn con của Đức chạy ùa ra đón tôi. Đi qua một vườn tiêu trĩu hạt, chúng tôi quây quần bên nhau trong căn nhà sáng sủa, rộng rãi. Sau năm 1968, Đức được đưa ra miền Bắc đi học thêm và tốt nghiệp khoa Toán - Lý trường Đại học Sư phạm. Đức xin về giảng dạy tại quê hương mình từ bấy đến nay.

Năm 2012, tôi sang Paris đến thăm Marceline và đưa một gói quà của Đức tặng ông bà: một kilo tiêu đen nổi tiếng của Vĩnh Linh hái từ khu vườn của các cháu. Marceline ôm gói tiêu vào lòng, rưng rưng: “Cảm ơn cuộc đời. Mừng cho bé Đức”. Chúng tôi đem một gói nhỏ hạt tiêu và đặt trên mộ Ivens. Tôi thì thầm kể chuyện cháu Phạm Công Đức với ông.

Ánh nến nhỏ lung lay trước mộ. Trời chiều Paris trong nghĩa trang Mont Parnasse trở gió, Joris đang ở cùng chúng tôi...

Trong chuyến đi từ Nam ra Bắc để làm việc với các họa sĩ cộng tác cùng phòng tranh Lotus Gallery, ngày 19/6/2022 tôi lại ghé thăm nhà Phạm Công Đức ở Gio Linh. Chú bé dũng sĩ ngày xưa giờ đã là thầy giáo về hưu, con cái đã trưởng thành, học trò có người là cán bộ ở tỉnh ở huyện và thành đạt ở cả nước ngoài. Đức đã ghi những dòng tâm sự trên facebook của mình: “Gặp lại O là hạnh phúc, là mảnh băng kỳ diệu gắn lành vết thương trong lòng cháu... Cháu hạnh phúc thưa với O rằng: “Cháu Đức của O” đã là một nhà giáo, một nhà giáo bình thường như bao nhà giáo khác. Cháu đã hoàn thành bổn phận của mình và rất hạnh phúc, đặt niềm tin của mình vào thế hệ trẻ, học trò của cháu vào đời”.

• Nội dung: XUÂN PHƯỢNG (Rút từ hồi ký "Gánh gánh... gồng gồng")
Hình Ảnh: XUÂN PHƯỢNG - ĐỨC THẮNG
Thiết kế: NGUYÊN THẢO

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Mới nhất

Câu lạc bộ Nhà báo cao tuổi: Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2022-2027

23/09/2022 lúc 11:10

(TCCVO) - Sáng 23/9/2022, Câu lạc bộ (CLB) Nhà báo cao tuổi tỉnh Quảng Trị tổ chức Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2022-2027. Dự đại hội có đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Hội Nhà báo tỉnh.

Từ chuyển đổi số quốc gia đến thực tiễn chuyển đổi số ở địa phương

16/09/2022 lúc 15:32

(TCCVO) Sáng ngày 16/9/2022, Sở Thông tin và Truyền thông khai giảng lớp tập huấn chuyển đổi số. GS. TSKH Hồ Tú Bảo, TS Nguyễn Nhật Quang - hai chuyên gia của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số trực tiếp tham gia giảng dạy.

Cần có nhiều bài viết chuyên sâu trên các lĩnh vực, mang tính định hướng dư luận

16/09/2022 lúc 09:55

(TCCVO) - Chiều ngày 15/9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo tỉnh tổ chức hội nghị giao ban công tác báo chí tháng 7 và 8/2022.

Cùng tỏa... Hương

13/09/2022 lúc 08:31

Nhớ về Hương... (Đêm 11/9/2022)

Chuyển đổi số phải là chuyển đổi, rồi mới đến số

12/09/2022 lúc 14:41

Khi nói về khái niệm “Chuyển đổi số”, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến “công nghệ”. Nhưng thực ra, chuyển đổi số phải xoay quanh một vấn đề cốt lõi là “con người”: Chuyển đổi số là bởi con người, cho con người và vì con người. Trong khuôn khổ của bài này, tôi xin tập trung vào những câu chuyện gần gũi nhất liên quan đến ba ý trên

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh
Ohh! Module topbai1 cấu trúc không đúng

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

30/09

25° - 27°

Mưa

01/10

24° - 26°

Mưa

02/10

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground