Thị xã Quảng Trị là nơi đối đầu hết sức ác liệt trong “mùa hè đỏ lửa” 1972 mà sự tàn khốc của chiến tranh đã gieo rắc cho cả hai phía. Sau khi Đất nước thống nhất, do quá trình điều chỉnh, sáp nhập địa giới hành chính nên thị xã Quảng Trị trở thành thị trấn Triệu Phong của huyện Triệu Phong. Tiếp đó, khi hợp nhất hai huyện Triệu Hải và Triệu Phong thành huyện Triệu Hải thì thị trấn Triệu Phong trở thành thị trấn Triệu Hải. Năm 1981, Hội đồng Chính phủ điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập thị trấn Quảng Trị với quy mô gồm thị trấn Triệu Hải và xã Hải Trí. Sau các lần điều chỉnh địa giới, thị xã Quảng Trị không còn tên như cũ nữa.
Một thị xã tỉnh lỵ duy nhất trên toàn miền Nam bị hủy diệt hoàn toàn, cũng là thị xã tỉnh lỵ đầu tiên được giải phóng, thế nhưng khi hòa bình lập lại thì không còn được mang tên. Chính sự “mất tên” này nên nguyện vọng chung của chính quyền, nhân dân, các đơn vị chiến đấu tại Thành Cổ 1972 là lập lại thị xã Quảng Trị để lưu giữ hình ảnh về chiến trường xưa.
Tháng 7 năm 1989, đồng thời với việc tỉnh Quảng Trị lập lại, Ban Thường vụ huyện Triệu Hải xin Trung ương lập lại thị xã Quảng Trị với quy mô dự kiến gồm một số xã trước đây thuộc thị xã Quảng Hà: Triệu Ái, Triệu Thượng, Hải Phú, Triệu Thành, Hải Quy. Tuy nhiên, ý tưởng ban đầu chưa được Trung ương chấp nhận.
Đến lần thứ hai, Ban thường vụ Triệu Hải quyết tâm đề nghị và được Trung ương đồng ý chủ trương tái lập thị xã Quảng Trị nhưng giữ nguyên trạng thị trấn Quảng Trị (lúc này là thị trấn huyện lỵ Triệu Hải). Ngày 16 - 9 – 1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập Thị xã Quảng Trị gồm hai phường: phường 1 và phường 2.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ thị xã Quảng Trị gồm 9 người, trong đó có một số đồng chí là lãnh đạo của huyện Triệu Hải được cử sang làm bộ khung cán bộ ban đầu cho thị xã. Đồng chí Nguyễn Minh Chương quyền Bí thư Thị ủy – chủ tịch UBND thị xã, đồng chí Văn Hàn Thuyên làm Phó Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Song và đồng chí Nguyễn Xuân Lâm làm Phó Chủ tịch UBND.
Ngày 01 – 10 – 1989, bộ máy của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thị xã chính thức đi vào hoạt động. Bộ máy thành lập lúc đầu theo đặc thù Đảng và chính quyền chung. Ban Tổ chức vừa làm công tác tổ chức Đảng vừa phụ trách tổ chức Chính quyền. Văn phòng chung gồm Văn phòng cấp ủy và Văn phòng ủy ban. Trụ sở chung của ban Đảng, chính quyền, đoàn thể lúc đó đặt tại căn nhà cấp bốn của đội thuế huyện Triệu Hải. Cơ sở vật chất ban đầu đơn giản, chủ yếu tận dụng các phương tiện có sẵn.
Thị xã Quảng Trị lập lại trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu ảnh hưởng không nhỏ đến nước ta. Đặc biệt, thị xã Quảng Trị là nơi có vị trí chiến lược quân sự, nên hai ngành quân sự và công an, khi lập lại thị xã được xem là hai cơ quan ưu tiên, được đầu tư cao nhất về con người cũng như cơ sở.
Ngày 24 – 11 – 1989, cuộc mít tinh chào mừng sự kiện lập lại thị xã Quảng Trị đã diễn ra long trọng. Lãnh đạo tỉnh, các đại biểu lân cận như thành phố Huế, thị xã Đồng Hới cũng về dự lễ. Không khí hân hoan trong từng ngõ phố. Cờ hoa biểu ngữ và hàng ngàn người dân hồ hởi tham dự.
Nhìn toàn cảnh lúc bấy giờ, thị xã chỉ có 1,8km đường bán thâm nhập nhựa. Trừ một số công sở còn lại toàn thị xã chưa có điện. Về hệ thống truyền thanh, huyện Triệu Hải chuyển cho thị xã một số máy móc phù hợp diện tích nhỏ của địa bàn. Các máy móc cũ kỹ, hai máy phát thanh chỉ sử dụng được một. Phụ kiện không có thay thế, nên đôi khi phải tháo rã hai cái để làm thành một. Loa được 12 cái nhưng chỉ hoạt động 8 cái. Cơ sở thể dục thể thao hầu như không có. Đời sống dân cư còn khó khăn, mức sống và các dịch vụ cơ bản như vùng nông thôn. Tuy được tách ra từ huyện nông nghiệp, nhưng vùng này không có nhiều đất đai để phát triển ruộng vườn. Lương thực thị xã chủ yếu tự cung tự cấp. Cả thị xã có một cửa hàng lương thực, một cửa hàng tổng hợp nhưng ít hàng. Một số trường học làm nền tảng cho sự phát triển giáo dục như Trường cấp 1 - 2 Thành Cổ, Trường cấp 1 - 2 Lâm trường. Có hai nhà trẻ: Nhà trẻ Thành Cổ, nhà trẻ Hoa Sen. Nguồn sách vở của giáo viên và học sinh được mua theo chỉ tiêu, lên nhận tại Sở Giáo dục.
Chiến tranh chỉ mới qua đi mười lăm năm, sự hoang tàn vẫn còn rõ ràng trên từng góc nhà, ngõ phố. Trong điều kiện khó khăn ấy, chủ trương chung của tập thể lãnh đạo thị xã là kiến thiết lại địa bàn thị xã cho phù hợp với kiến trúc một đô thị.
Sau năm 1990, thị xã xin Trung ương cơ chế thoái thu tiền thuế xuất phế liệu chiến tranh và cơ chế lấy đô thị nuôi đô thị. Được sự giúp đỡ của các Bộ ngành Trung ương, và đặc biệt là các đoàn cựu chiến binh chiến đấu tìm về chiến trường xưa, thị xã Quảng Trị dần dần được tái thiết. Một số công trình tiêu biểu ban đầu được tu chỉnh như: chợ thị xã Quảng Trị khang trang hơn, tạo nguồn thu cho thị xã nghĩa trang liệt sĩ thị xã được làm mới trang nghiêm và đẹp; xây dựng được khu đa chức năng đầu tiên của tỉnh; xây dựng được hai trường mầm non; sửa một số cơ sở của phường. Một số con đường được cấp phối nhựa như Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo... đây là những con đường đầu tiên của tỉnh được rải nhựa. Sau khi làm đường đến hệ thống thoát nước, rồi hệ thống điện đường phải vào xin trung tâm điện lực 3 ở Đà Nẵng được 50 bóng cao áp nhưng chỉ được mắc 35 cái.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, thị xã Quảng Trị được xác định là trung tâm kinh tế - văn hóa phía Nam của tỉnh nên tập thể lãnh đạo thị xã đã sớm có chủ trương xây dựng thị xã là trung tâm hoài niệm gắn với du lịch về chiến trường xưa, xây dựng các thiết chế văn hóa trên địa bàn để tương xứng với tầm vóc của một thị xã có bề dày truyền thống. Lúc này, thị xã có các điểm di tích lịch sử đã được xếp hạng quốc gia như Thành Cổ, ngã ba Long Hưng, trường Bồ Đề, điểm chốt cầu Thạch Hãn… Tuy nhiên, các di tích vẫn đang trong tình trạng hư hại do bom đạn chiến tranh. Toàn bộ Thành Cổ vẫn là một nơi hoang tàn chỉ có cỏ lau, hằng ngày người dân vào trong đó canh tác trồng khoai sắn và làm ruộng…
Mặc dù địa bàn nhỏ nhưng thị xã có hai tôn giáo lớn gắn với các địa chỉ tâm linh: Phật giáo với chùa Phật học (chùa Tỉnh hội) và Thiên Chúa giáo với nhà thờ Trí Bưu. Các thiết chế tôn giáo được lãnh đạo thị xã coi trọng nhằm gắn kết tôn giáo với đời sống. Trước chiến tranh, nhà thờ Trí Bưu đang sửa chữa thì gặp bom đạn phá hoại, phải ngưng giữa chừng. Khi hòa bình, nhà thờ được tiếp tục tu sửa, lãnh đạo thị xã rất đồng tình và mong muốn bà con giáo dân làm đẹp cảnh quan khu vực nhà thờ. Thị xã giao thêm đất, tạo điều kiện như ưu tiên làm đường bê tông vào xóm đạo. Trí Bưu trở thành điểm sáng vùng có đạo bảo vệ an ninh tổ quốc nhiều năm liền. Phật giáo cũng có nhiều đóng góp cho đời sống thông qua hoạt động thiện nguyện, hỗ trợ dạy nghề, và đặc biệt là hoạt động tưởng niệm liệt sĩ sâu sắc, nhân văn.
Từ ý tưởng xây dựng thị xã là trung tâm văn hóa lịch sử, ngành văn hóa trăn trở tìm được nét độc đáo riêng. Lãnh đạo thị xã giao cho ngành văn hóa tìm hiểu cội nguồn thị xã thông qua hoạt động điền dã “làng trong phố, phố trong làng”. Tìm hiểu nguồn gốc các làng Thạch Hãn, Trí Bưu, Hạnh Hoa, các dòng họ khai khẩn khai canh; tìm hiểu nguồn gốc tại sao trung tâm Phật giáo lại đặt ở đây thông qua liên hoa phật tự…
Những ngày đầu lập lại thị xã, trên hoang tàn đổ nát, chính quyền và nhân dân đã có những nỗ lực xây dựng cơ sở và đời sống. Tất cả vì một mục tiêu chung là nâng thị xã lên xứng tầm với quy mô một đô thị, đồng thời xây dựng văn hóa để giữ gìn truyền thống lịch sử quý báu trên mảnh đất này.
T.A
(Ghi theo lời kể của ông Lê Bá Nguyên -
nguyên Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, nguyên Bí thư Thị ủy Quảng Trị)




