Trưởng thành từ chiến sĩ an ninh
Sinh ra ở xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - Một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, có bố và anh đều tham gia kháng chiến nên từ năm 14 tuổi (năm 1963), đồng chí Đào Xuân Thống được tuyển chọn vào lực lượng An ninh Quảng Trị. Công việc đầu tiên mà tổ chức giao cho ông là canh giữ phạm nhân, sau đó được phân công làm liên lạc và trực tiếp bảo vệ đồng chí Nguyễn Tri Hoàng - Phó Ban Thường trực Ban An ninh tỉnh Quảng Trị. Nhớ lại những tháng năm gian khổ, ông bùi ngùi xúc động khi nhắc đến những tên đất, tên người gắn bó với tuổi thanh xuân của mình như Tà Rụt, A Vao, A Xing, A La... và các thế hệ cha anh như ông Tri Hoàng, Hồ Sỹ Thản, Xuyên Tâm, Nguyễn Đình Bảy, Vĩnh Thành... Ông không nhớ mình đã tham gia bao nhiêu trận đánh chống địch càn quét, diệt ác ôn... Nhưng có những sự kiện ông nhớ rất rõ và rất cụ thể trong hồi ký của mình như vụ truy bắt hai tên ác ôn Cận và Nuôi trốn trại vào tháng 7 năm 1964; vụ chạm súng với bọn biệt kích ở bản Bù xã Ba Nang, huyện Hướng Hóa năm 1965; hoặc như lần ông cùng hai đồng chí của mình là Cù và Chương tấn công lực lượng đặc biệt của Mỹ ở cầu Bến Đá, huyện Hải Lăng, diệt và làm bị thương bốn tên Mỹ. Đặc biệt vào cuối năm 1966, đầu năm 1967, vùng miền Tây Quảng Trị bị Mỹ - ngụy rải chất độc khai quang, cây cối trơ trụi, sản xuất đình đốn, xảy ra nạn đói khủng khiếp. Lúc đó ông được giao nhiệm vụ cùng đồng chí Hồ Thảo, cán bộ Ban An ninh tỉnh đi thống kê số người bị chết đói ở hai huyện
* * *
Sau ngày quê hương giải phóng, ông được gửi ra Bắc học tập tại Trường Đại học An ninh Nhân dân, khóa D6 (nay là Học viện An ninh Nhân dân). Năm 1979, tốt nghiệp đại học An ninh, ông được bố trí về công tác tại Công an tỉnh Bình - Trị - Thiên. Tháng 6 năm 1980, ông được điều động trở lại công tác ở địa bàn miền Tây Quảng Trị, nơi chiến trường ác liệt một thời ông đã gắn bó với bà con đồng bào các dân tộc và giữ chức vụ Phó Trưởng Công an huyện. Hai năm sau ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Công an huyện cho đến năm 1989. Đây là quãng thời gian đầy khó khăn, thử thách đối với ông bởi địa bàn nơi ông công tác vẫn còn nguyên tính chất phức tạp như những ngày còn chiến tranh, chỉ khác là không có tiếng súng, tiếng gầm rít của B52 nhưng lại đầy rẫy những mặt trái của xã hội như hoạt động của bọn phỉ, biệt kích xâm nhập, trộm cắp, cướp giật, buôn lậu, hoạt động móc nối, phá hoại của số đối tượng địch ngụy không chịu cải tạo... Bằng kinh nghiệm thực tiễn và vốn kiến thức nghiệp vụ của mình, ông đã xây dựng Công an huyện Hướng Hóa từ một đơn vị yếu kém từng bước vững mạnh, 7 năm liên tục đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng. Hầu như mỗi chiến công, thành tích của đơn vị đều gắn liền với tên tuổi của ông. Rất nhiều chuyên án chống xâm nhập, đấu tranh với hoạt động phỉ, giải quyết điểm nóng về tranh chấp đều mang dấu ấn chỉ đạo của ông như chuyên án triệt phá nhóm phỉ gồm 21 tên do tên Thạo My, người dân tộc Vân Kiều cầm đầu xảy ra vào đầu những năm 80. Tên Thạo My đã móc nối với một số đối tượng phỉ Lào chuyên cướp bóc, trấn lột ở khu vực biên giới Việt - Lào trong thời gian dài làm nhân dân rất hoang mang, lo sợ nhưng không dám tố giác. Trước tình hình đó, với vai trò là Trưởng Công an huyện, ông đã trực tiếp chỉ đạo lập chuyên án, phối hợp với lực lượng Biên phòng và các phòng nghiệp vụ của Ty Công an Bình - Trị - Thiên tổ chức phát động phong trào quần chúng, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ bắt một số đối tượng cầm đầu kết hợp vận động đối tượng ra đầu thú. Kết quả sau ba tháng đã triệt phá hoàn toàn toán phỉ gồm 21 tên, ổn định tình hình khu vực biên giới. Hay như lần nhân dân hai xã Mò Ó (huyện Hướng Hóa) và Triệu Nguyên (huyện Triệu Phong) xảy ra vụ mâu thuẫn, tranh chấp đất đai. Hàng trăm người sử dụng gậy gộc, giáo mác, gạch đá, kể cả vũ khí nóng chuẩn bị tấn công lẫn nhau. Bằng uy tín và khả năng thuyết phục của mình, ông đã “hạ nhiệt” đám đông. Sau đó, ông đã tham mưu tổ chức cuộc họp liên tịch giữa hai xã, giải quyết những vướng mắc liên quan đến đất đai, hoa màu. Chính quyền và nhân dân hai địa phương đồng tình với cách làm của ông và ký cam kết không để sự việc tái diễn phức tạp.
Năm 1989 khi tỉnh Quảng Trị tái lập, ông được điều động về làm Phó Giám đốc, rồi Giám đốc Công an tỉnh Quảng Trị, phong cách làm việc sâu sát cơ sở, gần dân, bám dân luôn được ông coi trọng trong chỉ đạo, điều hành công việc. Chính ông là người đã vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng trong thời kỳ chiến tranh “Tấn công để làm chủ, làm chủ để tiến công” vào công tác xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc với phương châm “Phát động để tấn công, tấn công để phát động”. Ông đã trực tiếp chỉ đạo khảo sát phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc ở 3 xã Vĩnh Giang, Vĩnh Quang, Vĩnh Tân của huyện Vĩnh Linh để xây dựng mô hình Cụm liên hoàn an toàn về an ninh trật tự đầu tiên ở tỉnh Quảng Trị và nhân rộng trong toàn tỉnh. Đích thân ông trực tiếp lăn lộn với trinh sát để phá án như chuyên án đấu tranh chống vượt biên, trốn ra nước ngoài ở khu vực tuyến biển của tỉnh Quảng Trị vào những năm 1990 - 1991; chuyên án đấu tranh với hoạt động xâm nhập của tổ chức “Mặt trận quốc gia giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh cầm đầu năm 1990. Đặc biệt là chuyên án LH2 triệt phá đường dây mua bán, vận chuyển ma túy do tên Nguyễn Khánh Lộc cầm đầu, thu giữ 5kg hê-rô-in…
Ông thường nói: “Số ông cầm tinh con chuột nên nay đây mai đó” hết làm lãnh đạo Công an địa phương lại được Bộ Công an điều ra Hà Nội giúp lãnh đạo Bộ theo dõi chuyên đề An ninh tôn giáo, dân tộc địa bàn miền Trung - Tây Nguyên, làm Cục trưởng Cục Tham mưu An ninh và Vụ An ninh Văn phòng Chính phủ... Dù ở bất cứ cương vị nào ông đều hết lòng gắn bó với công việc và luôn thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của Đảng, Bác Hồ: “Lấy dân làm gốc”.
Ông nhớ mãi câu chuyện “Ba con trâu” thời kháng chiến và coi đó như là kỷ niệm sâu sắc về lòng dân đối với cách mạng. Ông kể rằng: Vào thời điểm năm 1966, phong trào cách mạng gặp rất nhiều khó khăn, lương thực thực phẩm cạn kiệt, cán bộ và dân đều đói. Lúc đó, ông đang công tác ở xã Ba Nang, huyện Hướng Hóa, thấy đàn trâu của dân ở trong rừng, ông hỏi bà con dân bản “Sao đói vậy mà không làm thịt trâu ăn?”. Bà con trả lời “Tiếc lắm”. Ông thưa với bà con “Bây giờ cách mạng muốn mua trâu, bà con có bán không?”. Bà con lưỡng lự nhìn nhau một lúc rồi đồng ý bán nợ 3 con trâu cho cách mạng, mỗi con trị giá 200 lon muối, hẹn sau ngày giải phóng sẽ trả. Việc mua trâu diễn ra từ tháng 7 năm 1966, mãi đến tháng 6 năm 1985, khi hay tin ông làm Trưởng Công an huyện Hướng Hóa, ba người dân ở làng Tà, xã Ba Nang ra gặp ông và lấy từ ống tre ra tờ giấy nợ do ông viết trước đây. Đọc xong, ông cảm động đến rơi nước mắt và tự trách mình là tại sao vô tình lãng quên đến như vậy. Liền sau đó ông dẫn ba người sang gặp đồng chí Bí thư Huyện ủy trình bày sự việc. Lãnh đạo huyện đã báo cáo với Tỉnh ủy. Đích thân đồng chí Vũ Thắng - Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Bảy Khiêm - Trưởng ty Công an tỉnh Bình Trị Thiên đã gặp gỡ, trao Bằng khen của tỉnh về thành tích đóng góp cho cách mạng và cấp cho mỗi người 500 kg gạo, 200 kg muối cùng nhiều vật dụng khác. Sau này, trong quá trình công tác cứ mỗi lần trao đổi kinh nghiệm với cán bộ chiến sĩ công an, ông đều nhắc đi nhắc lại bài học “lấy dân làm gốc”.
Trở về với đời thường
Ông nhận quyết định nghỉ hưu vào năm 2010 với cấp hàm Đại tá và hành trang 50 tuổi ngành. Ông viết trong hồi ký của mình: “Hôm nay về với đời thường, sống trong một căn hộ chung cư vẻn vẹn 73m2 gồm ba thế hệ nhưng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Hạnh phúc nhất là người vợ đi với tôi suốt trọn cuộc đời nhưng vẫn bình thản, lạc quan, không một lời so bì, tị nạnh...”. Nói vậy nhưng trong lòng ông luôn nặng trĩu những trăn trở, suy tư về thế thái, nhân tình, nhất là ân tình với quê hương Quảng Trị. Hiện nay ông là Chủ tịch Hội Đồng hương Quảng Trị, Phó Chủ nhiệm Thường trực Câu lạc bộ Sỹ quan An ninh hưu trí cơ quan Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh. Sống ở thành phố nhưng tấm lòng của ông luôn hướng về quê hương Quảng Trị đầy tâm huyết và trách nhiệm. Ông đứng ra vận động các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm tài trợ hàng chục suất học bổng, hàng chục chiếc xe đạp... trao tặng cho các cháu ở quê có hoàn cảnh khó khăn, học giỏi; đầu tư xây dựng 9 trường học cho con em đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô ở hai huyện Hướng Hóa và Đakrông của tỉnh Quảng Trị. Ông tâm sự: “Khi đến dự lễ nghiệm thu, bàn giao những ngôi trường, đón các cháu vào học, được ôm các cháu vào lòng để chụp ảnh... Tôi cứ trào dâng những cảm xúc, tái hiện lại những năm tháng chiến tranh, cũng tại những bản làng quen thuộc này, cuộc sống của bà con rất cơ cực, các cháu hồi đó không được học hành, ngày ngày cứ theo bố mẹ vào rừng kiếm sống và tránh bom đạn của giặc Mỹ... Tôi thầm nghĩ tuy không lớn, chưa được nhiều nhưng cũng góp phần nhỏ cho đời để báo hiếu với quê hương...”.
Con người ông là vậy, đã nói là làm nhưng không muốn phô trương thành tích của mình. Ông rất nghiêm khắc và nguyên tắc trong công việc nhưng rất tình cảm, thủy chung với bạn bè, đồng chí, đồng đội. Cả cuộc đời ông gắn bó đầy trách nhiệm với Đảng, với ngành Công an và luôn nặng lòng với quê hương Quảng Trị.
H.V.T




