TCCV Online - Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn một nhà lãnh đạo lối lạc, nhà chiến lược chính trị, quân sự có tầm cỡ, “là nhân vật mang tầm vóc lịch sử hiện đại, chỉ xếp sau Hồ Chí Minh” (Nhà báo Trần Bạch Đằng), được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khâm phục và trân trọng. Riêng đối với nhân dân, cán bộ và chiến sĩ Nam Bộ gọi đồng chí là "Ngọn đèn 200 nến", là “người của Cụ Hồ trong Nam” và còn gọi cái tên trìu mến là Anh Ba. Đặc biệt trong những năm đất nước chuyển mình đổi mới, phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa với tầm nhìn chiến lược, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã lát những viên gạch đầu tiên trên con đường đổi mới, để đến hôm nay sau hơn ba mươi năm đổi mới đất đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
Là người sớm giác ngộ tinh thần cách mạng, đồng chí Lê Duẩn gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Năm 1930, đồng chí trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập.
Năm 1931, đồng chí là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng Tư năm đó, đồng chí bị địch bắt và kết án hai mươi tù cầm cố, lần lượt bị giam ở các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La và Côn Đảo.
Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận Bình dân ở ở Pháp và phong trào đấu tranh của nhân dân ta, chính quyền thực dân buộc phải trả tự do cho nhiều chiến sĩ cộng sản trong đó có đồng chí Lê Duẩn. Từ Côn Đảo trở về, bất chấp sự đe dọa, quản thúc của kẻ thù và sức khỏe giảm sút, đồng chí đã tham gia trực tiếp chỉ đạo phong trào ở quê nhà Quảng Trị. Đồng chí nhiều lần đến cơ sở nhà ông Hồ Tần, Lê Quang Soạn và miếu An Mỹ (Miếu An Mỹ nay thuộc làng An Mỹ, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ) để họp với các đồng chí cán bộ đảng viên chủ chốt, phổ biến các nghị quyết của Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Trong thời kỳ này đồng chí cũng đã lặn lội khắp các tỉnh miền Trung để xây dựng lại các đảng bộ bị tan rã do đế quốc đàn áp, khủng bố, khôi phục Xứ uỷ Trung kỳ.
Năm 1937, đồng chí được giữ chức Bí thứ Xứ uỷ Trung kỳ. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI (11 - 1939), đồng chí Lê Duẩn đã sát cánh bên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, tham gia soạn thảo “Chính sách mới của Đảng”, quyết định thành lập “Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương” thay cho “Mặt trận dân chủ”, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, là thời kỳ gương cao ngọn cờ “giải phóng dân tộc, lấy lợi ích dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa, cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, làm rúng động bộ máy thực dân.
Bị thực dân Pháp bắt và đầy ra Côn Đảo lần thứ hai (1940 - 1945), cùng với các chiến sĩ cộng sản khác, đồng chí Lê Duẩn một lần nữa lại tỏ rõ bản lĩnh và phẩm chất cách mạng của mình, vượt qua thử thách, một lòng kiên trung với Đảng, với dân tộc.
Sau cách mạng Tháng Tám thành công từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đồng chí Lê Duẩn đã khởi thảo bản Đề cương Cách mạng miền Nam, chỉ ra phương hướng và những bước đi cơ bản của cách mạng miền Nam, đóng góp to lớn vào Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng về cách mạng miền Nam. Với tư duy chiến lược vượt trội của “ngọn đèn 200 nến”, đồng chí đã sớm đi tới chân lý: “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác”. Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn của cách mạng miền Nam lúc bầy giờ, “Đề cương” đã dấy lên niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng trong đông đảo cán bộ, đảng viên.
Giữa 7/1956, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn được Trung ương điều ra công tác bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ III. Trong phiên họp đặc biệt của Bộ Chính trị, ngày 07 - 10 - 1957, đồng chí được cử làm quyền Tổng Bí thư. Trong thời điểm này, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí góp phần vào quá trình chuẩn bị và tổ chức Hội nghị Trung ương 15, khoá II. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 được thông qua tại Đại hội III của Đảng, hoàn chỉnh thành chiến lược cách mạng cho nhân dân miền Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ. Dưới ánh sáng của Nghị quyết này, các cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ một số địa phương miền Nam lập tức bùng lên thành phong trào Đồng Khởi vĩ đại mùa Xuân năm 1960. Đồng Khởi đã đưa cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển hẳn sang tiến công, đẩy chế độ ngụy quyền Sài Gòn bước vào một thời kỳ khủng hoảng nặng nề, triền miên, buộc Mỹ phải tự giới hạn phản ứng trong phạm vi miền Nam.
Sau phong trào Đồng Khởi, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới, từ khởi nghĩa vũ trang, phát triển thành chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng. Trong quá trình đó, cùng tập thể Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn đã có những cống hiến xuất sắc trong việc quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, tạo điều kiện quyết định để đi tới hạ quyết tâm hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mùa xuân năm 1975. Để có được mùa xuân toàn thắng đó, toàn dân tộc đã phải trải qua chặng đường dài chiến đấu với biết bao thử thách, hy sinh mà xuân Mậu Thân 1968 là cột mốc lớn, ghi dấu bước ngoặc lớn của cuộc chiến tranh. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ đã chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của đồng chí Lê Duẩn. Đây cũng là một phẩm chất vô cùng quý báu của những nhà hoạch định chiến lược của Đảng ta.
Đất nước thống nhất, nhiều năm trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng và đặc biệt trong giai đoạn từ (1976 - 1986), đồng chí Lê Duẩn đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã tập trung nhiều công sức vào việc hoạch định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ước mơ cháy bỏng của Tổng Bí thư là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tại Đại hội lần thứ IV (1976) và Đại hội V (1982) của Đảng cũng như tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Lê Duẩn có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc hoạch định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong những điều kiện khác nhau, cả thời điểm thuận lợi cũng như lúc gặp khó khăn, cả khi gặp những vấn đề lý luận và thực tiễn sáng tỏ cũng như khi những tư tưởng, quan điểm đang trong qua trình tìm tòi, Tổng Bí thư luôn luôn đào sâu suy nghĩ, kiên trì nghiên cứu và thử nghiệm, một lòng trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Điều mà đồng chí luôn luôn tâm niệm và kiên trì phấn đấu là “Tất cả vì Tổ quốc vì xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc nhân dân”.
Với 79 tuổi đời, gần sáu mươi năm hoạt động cách mạng, 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ Nhất và Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Lê Duẩn đã thể hiện rõ là một nhà lý luận có tầm cỡ chiến lược của cách mạng Việt Nam với một tư duy sáng tạo lớn, đã có những cống hiến xuất sắc về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đánh giá công lao và tài năng của đồng chí Lê Duẩn, Đảng ta khẳng định: “Là một nhà mác-xít - Lê-nin-nít chân chính, đồng chí Lê Duẩn luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, xuất phát từ tình hình thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp”.
Sinh thời, cố Tổng bí thư Lê Duẩn tâm niệm, thực tiễn cách mạng luôn là điểm xuất phát, con người và đạo lý dân tộc là điểm tựa cho việc suy nghĩ, tìm tòi theo phương pháp luận biện chứng của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để lý giải tình hình, xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng cũng như giải quyết những vấn đề mới, cụ thể của cuộc sống đặt ra. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng những bài học về lý luận và thực tiễn quý báu mà cố Tổng Bí thư Lê Duẩn để lại cho chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt là vào thời điểm toàn Đảng ta đang nỗ lực thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là chỉnh đốn, xây dựng Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới.
N.V.T
Tài liệu tham khảo:
- Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 1993, tr. 160.
- Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng: Lê Duẩn và Cách mạng Việt Nam, NXb CTQG, HN, 2007, tr.221.
- Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXb CTQG, HN, 2008.
- Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. ST, HN, 1985.
- Quân khu IX - 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb. QĐND, HN, 1996.
- Đảng Cộng sản Việt Nam qua những chặng đường, Nxb CTQG, H. 2006.
- Điếu văn - Báo Nhân Dân, ngày 16 tháng 7 năm 1986




