Đây là con sông tiêu biểu cho sông nước tỉnh ta, nó chảy qua hoặc chắp nối giao thông cho tất cả tám huyện thị. Tên gọi của nó - Thạch Hãn (石捍) là lấy theo tên của làng Thạch Hãn, nơi con đường thiên lý ngày xưa đi qua, nơi một triền đá ngầm từ hữu ngạn duỗi ra ngăn cản dòng chảy, ngăn cả những chiếc thuyền lớn đi qua khi nước triều rút xuống1. Có lẽ vì cái tên khó ngờ tới ấy mà các cụ ngày trước như tiến sĩ Dương Văn An (tác giả sách Ô Châu cận lục) nghe dân gian gọi là Thạch Hàn thì không ghi chữ Hán (chữ Hán) đồng nghĩa với chữ Hãn (Hãn = chữ Hán) mà ghi chữ Hàn (韓) thành ra nghĩa chung là "cái thành giếng bằng đá" Đến Hội nguyên Nguyễn Khuyến thì nghe chữ Hãn hẳn hoi nhưng lại tránh cái nghĩa "cản ngăn, bảo vệ", nên đã ghi lại "cán" nghĩa là "đá giặt rửa". Còn các nhà thơ nhà văn bây giờ thì lại say sưa với chữ "Hãn" (汗) là "mồ hôi". "Mồ hôi đá" ý nghĩa kể ra thì đẹp đó, gợi đó, nhưng khốn nỗi nó lại không phải là cái tên cha ông đặt ra từ thời nào đến giờ.
Cái tên gọi thì thế nhưng Thạch Hãn lại xanh vỏ đỏ lòng. Vì lượng phù sa không nhiều, lại chảy quanh co mãi giữa núi rừng Trường Sơn, qua lắm ghềnh thác đá, dòng nước dần dần lắng lại, trong vắt. Mỗi mùa mai vàng nở trên núi Mai Lãnh2, nước Thạch Hãn trong ngần lại như đọng thêm một mùi hương thầm kín, ngọt ngào. Bởi thế người Quảng Trị ta ngày trước đã ghép tên dòng sông và ngọn núi tiêu biểu ấy để gọi quê hương mình một cách thân thương và người các nơi cũng gọi miền đất chúng ta một cách thanh nhã là "nước non Mai Hãn" (Mai Sơn Hãn Thủy).
Nước Thạch Hãn trong xanh và thơm ngọt đến độ những người biên tập sách Đại Nam nhất thống chí đã phải dành riêng cho dòng sông một câu nhận xét: "Sông nguồn rất xa, nước rất trong và ngọt" (Uyên nguyên thậm viễn, thùy cực thanh cam). Hèn chi văn nhân các vùng, khi đi qua Thạch Hãn đều ca ngợi hết lời. Nhà thơ Khiêm Trai, tức là Tương an công Miên Bửu, sau bốn bận đến tỉnh thành, trong bài thơ Dạ túc Quảng Trị tân thứ (Đêm nghỉ tại bến sông Quảng Trị) đã viết:
Danh cao lan xạ Kim Lung tửu
Sắc tối thanh trừng Thạch Hãn than
Dịch:
Chén rượi Kim Long hương ngát đậm
Bãi sông Thạch Hãn nước trong ngần
Với nhà thơ Yên Đỗ, nước Thạch Hãn còn trong đến độ "nhìn thấu đáy":
Thạch Hãn giang lưu nhất trạo hoành
Tịch Hà yễm ái viễn sơn minh
Tây phong hà xứ xuy trần khởi
Bất dĩ niên tiền triệt để thanh.
Hoàng Tạo dịch:
Khua ngang Thạch Hãn một con chèo
Lấp lánh non xa nhuộm ráng chiều
Trách trận gió tây tung cát bụi
Chẳng còn như trước nước trong veo.
Trở lại với dòng sông mà không tiếc chi, chỉ tiếc cái độ trong của nó bị gió nam tung bụi làm vẩn đục bớt.
Nhưng trước Yên Đỗ, trước những nhà biên tập sách Đại Nam nhất thống chí, thậm chí rất lâu trước cả Khiêm Trai, nhân dân Quảng Trị đã có câu ca dao:
Không thơm cũng thể hương đàn
Không trong cũng thể nước Nguồn Hàn chảy ra.
Như chúng tôi đã có lần giới thiệu, câu ca này đã được sách Đại Nam nhất thống chí dịch lại, nhưng thấy chỉ đúng câu trước, còn câu sau lại khác đi: "Bất vi quỳnh tương diệc thị cam lễ" (Chẳng phải quỳnh tương thì cũng cam lễ). Có lẽ các vị ấy nghe người nào đó hát sai đi chăng. Dầu sao, cũng vì thế mà họ cho rằng câu ca chỉ "cực tả phẩm chất của nước" trong khi nó còn được lưu hành trong nhân dân tỉnh ta với một ý nghĩa khác nữa: "lòng chúng tôi nếu không thơm ngát thì cũng là hương trầm, hương bạch đàn; nếu không trong ngần thì cũng là nước Nguồn Hàn chảy xuống”. Chính những người mẹ, người chị Quảng Trị ta đã suốt một thời ru con, ru em bằng câu hát tự hào mà không tự kiêu này để nhắc nhở, truyền dạy cho con em mình ngày sau lớn lên, khi bước vào cuộc đời phải luôn luôn giữ gìn cái tâm cho trong và phải thơm như dòng nước đất mẹ.
Đã có một nhà thơ nghe đúng câu ca dao và thấu triệt được tinh thần cao đẹp này của nó, đó là Bảng nhãn Vũ Duy Thanh. Ông là người làng Kim Bồng, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, đỗ học vị "Bác học hoành từ đệ nhất giáp cát sĩ cấp đệ nhị danh" tức là Bảng nhãn3 năm 1851. Văn chương ông nổi tiếng lúc bấy giờ. Trên đường vào kinh đô Huế nhận chức Tế Tửu Quốc tử giám, đi ngang qua Quảng Trị nghe được câu ca dao4, ông cảm xúc quá, viết bài thơ:
Bụi hồng giong ruổi tới Trường An5
Nghe nói đâu đây suối Bạch Đàn
Ấy cảnh tự nhiên ai khéo vẽ
Mà kho vô tận lúc nào khan
Bên đường xe ngựa nên dừng bước
Mượn thú non sông cũng tạm nhàn
Đây phải Liêm tuyền chăng đó tá?
Muốn đem rửa ruột khách quan san.
Liêm tuyền (Suối Liêm, tức sông Liêm, dòng sông của sự thanh liêm) ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, bắt nguồn ở Nam Trịnh rồi chảy vào sông Hán và nhượng thủy (sông Nhượng) cũng ở vùng ấy là tượng trưng của một vùng đất phong tục thuần hậu, dân biết nhường nhịn nhau, người đi làm quan đều biết giữ mình thanh liêm, không tham nhũng, trong đó có Phạm Bá Niên đời Tống Nam triều là một tấm gương sáng. Tác giả tuy hỏi nhưng vẫn là khẳng định: Thạch Hãn là dòng sông của một vùng đất thanh liêm và những người khách qua về nên dừng lại đây để "rửa ruột" - rửa cho sạch những nhơ bẩn, thối tha trong lòng mình.
Thật là lý thú khi chúng ta bắt gặp trên tiếng hát của dòng sông quê một sự trùng ngộ kỳ diệu giữa chiều sâu một suy nghĩ của nhân dân và chiều cao một cảm nhận bác học của một vị á trạng như thế. Từ đó, chúng ta nhận ra rõ thêm cái chất đạo đức trong sáng trong truyền thuyết sông Đakrông, thượng lưu sông Thạch Hãn, cái chất sắt đá (thiết thạch) rèn luyện con người trong những tên làng ven sông như Trinh Thạch, Đá Đứng, Như Lệ6, Lập Thạch... và cái chất liêm khiết như ước vọng muôn đời đọng lại trong những tên làng không xa dòng nước như Thanh Liêm7, Giáo Liêm (dạy dỗ điều Liêm), Vệ Nghĩa (bảo vệ điều nghĩa), Trọng Đức (coi trọng đạo đức)...
Giở lại những trang sử cổ cận của quê hương, chúng ta gặp lại không ít những người con đã biết tắm rửa mình trong nước suối Liêm, sông Nhượng của tình nhà, để lại bao tấm gương ngời sáng về đạo đức. Đó là Nguyễn Quận ở làng An Chế (có lẽ nay là An Thư, huyện Hải Lăng, đánh tan giặc, đứng trước vàng lụa chất đầy vẫn không thèm lấy một mảnh, chỉ cầm một lá cờ chiến lợi phẩm cho riêng mình. Đó là ông họ Lê ở làng Cam Lộ, huyện Cam Lộ, được bổ làm Tri huyện nhưng không đi nhận chức, coi trái tim biết giúp nước của mình là của giàu, không xem cảnh sống thanh bạch là cảnh nghèo. Đó là Trương Thiện Thuật ở làng Phù Lưu, huyện Triệu Phong, là Nguyễn Tự Khiểm ở làng Hà Thượng, huyện Gio Linh, đánh giặc và bị chúng bắt, dụ dỗ mấy cũng không hàng, quyết chết trong hơn sống đục. Đó là những chiến sĩ cộng sản Lê Thế Tiết ở làng Tường Vân, huyện Triệu Phong, Trần Công Ái ở làng Huỳnh Công, huyện Vĩnh Linh, một lòng thủy chung với cách mạng, chấp nhận hy sinh vì đất nước, vì dân. Đó còn là Côn Púa ở làng A Xợp, huyện Hướng Hóa, lấy sông núi làm điểm tựa, hàng chục năm trường chống nhau với lũ xâm lược... Họ đã hòa mình vào, làm trong thơm thêm dòng nước, họ đã sống xứng đáng là những người con trung hiếu của dân tộc, là những niềm tự hào của non Mai sông Hãn, ngọn núi dũng sĩ và dòng sông đạo đức của quê hương.
Tất cả họ đã đi vào cõi bất tử, nhưng vẫn còn đó câu ca dao, vẫn còn chảy đó con nước trong ngần và ngát thơm đạo đức. Các thế hệ sau họ lại nối tiếp nhau đến soi mình vào dòng sông liêm khiết và nếu có ai đó đã có lúc lầm lỡ thì cũng rửa lòng đổi mặt8 vì Thạch Hãn bao giờ cũng mở lượng bao la.
L.A
___________
(1) Cũng có thể hiểu là "Đá che chở" nhưng qua tục danh "Đá hàn" của làng và sông thì có nghĩa "ngăn cản, lấp bít". Xem Việt Nam tân từ điển của Thanh Nghị, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn ấn hành.
(2) Nghĩa là"ngọn núi hình vú chuông". Xin ai đừng nghĩ chữ "Mai" ở đây là cây mai vàng.
(3) Bảng nhãn: Ngày trước đỗ trên hoàng giáp có 3 học vị: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa. Triều Nguyễn, trong chủ trương "tứ bất" (4 không) không lấy đỗ vị trạng nguyên mà chỉ lấy học vị bảng nhãn là cao nhất và từ 1801 đến 1919 chỉ có hai người đỗ bảng nhãn, trong đó Vũ Duy Thành là một. Thời đó nhân dân cứ gọi ông là ông Trạng Bồng (ông trạng nguyên làng Kim Bồng).
(4) Theo ông nghe đọc thì là:
Chẳng thơm cũng thể bạch đàn
Chẳng trong cũng nước Đá Hàn chảy ra
(5) Trường An: Kinh đô
(6) Như Lệ: Nghĩa là vững chắc như đá mài, đá cứng. Chữ “lệ” ở đây không phải chữ “lệ” là nước mắt như một vài nhà thơ nhà văn đã hiểu lầm.
(7) Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi chữ Thanh trong Thanh Liêm là thanh nghĩa là xanh. Có lẽ người chép chép sai chăng? Mong các vị biết rõ góp ý cho.
(8) Chữ Hán Việt là "tẩy tâm cách diện" nghĩa là rửa sạch cái lòng và đổi cái mặt thành người chính đính.




