|
T |
hắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp là một bản anh hùng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là minh chứng hùng hồn về sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh.
Một trong những bài học có ý nghĩa quyết định để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi là coi trọng việc xây dựng căn cứ địa cách mạng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam, nói chung và Quảng Trị nói riêng đã chứng minh rằng, căn cứ địa là chỗ dựa để tiến hành kháng chiến, là yếu tố có vai trò cực kỳ quan trọng đối với bất cứ loại hình chiến tranh nào.
Thấm nhuần quan điểm đó, ngay từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trong các thời kỳ bí mật, Đảng bộ Quảng Trị đã lấy miền tây Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh xây dựng các căn cứ địa làm bàn đạp xây dựng phong trào ở đồng bằng, lấy các xã vùng ven đô làm chỗ dựa để xây dựng phong trào ở nội thị.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng các khu căn cứ cách mạng ở quảng trị đã được tiến hành một cách khẩn trương, có bài bản đó là chiến khu Thủy Ba ở huyện Vĩnh Linh, chiến khu cùa ở Cam Lộ và chiến khu Ba Lòng ở vùng tây Triệu Hải... Tất cả các căn cứ đều tạo thành một thế liên hoàn một hành lang đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt từ trung tâm đầu não cách mạng đến tận các địa bàn, các cơ sở. Trong đó, chiến khu Ba Lòng đóng một vai trò rất quan trọng. Nơi đây không chỉ là hậu cứ vững chắc, chỗ dựa cho tỉnh Quảng Trị mà còn là chỗ dựa cho cả phân khu Bình Trị Thiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
***
I.VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA CHIẾN KHU BA LÒNG
Ba Lòng là một thung lũng nằm ở thượng nguồn sông Thạch Hãn thuộc phía tây Triệu Hải, kéo dài từ bắc động Bơn đến làng An. Có chiều dài khoảng 15 km, rộng hơn 1km xung quanh là đồi núi cao hiểm trở, cao nhất là đỉnh núi Tà Lao (814m) đỉnh thấp nhất cũng cao khoảng 200m. Những dãy núi trùng điệp này tạo thành bức tường vững chắc cho Ba Lòng, bảo vệ an toàn khi bị địch tấn công từ bất cứ hướng nào. Mặt khác, địa thế này rất thuận lợi cho chúng ta từ đây có thể quan sát, phát hiện địch từ xa để chủ động thế trận.
Ba Lòng ở vào vị trí trung tâm của khu vực Bình Trị Thiên (cách thành phố Huế 80km về phía nam ở thị xã Đồng Hới 150km về phía tây – bắc).
Do đó, việc giao lưu, liên lạc của lực lượng kháng chiến Quảng Trị với các tỉnh bạn rất thuận lợi. Đồng thời Ba Lòng lại rất gần thị xã Quảng Trị, (cách khoảng 10km phía tây) và thị xã Đông Hà (khoảng 20km phía tây bắc). Đây là những vị trí đầu não của quân pháp và đội quân ứng chiến của chúng. Với vị trí trong điều kiện thời cơ cho phép, Ba Lòng có thể làm bàn đạp xuất quân và xây dựng lực lượng ở đồng bằng cũng như theo dõi nhanh chóng tình hình địch để có kế hoạch kịp thời.
Căn cứ Ba Lòng có ưu thế như chiến khu Việt Bắc, căn cứ Lam Sơn đều án ngữ con đường giao thông quan trọng, có điều kiện liên lạc quốc tế. Từ Ba Lòng tỏa đi khắp các vùng trong tỉnh, nối dài với chiến khu Dương Hòa của Thừa Thiên Huế và các tỉnh phía nam, cũng như từ đây đi ra phía tây Quảng Bình, và vùng tự do Thanh – Nghệ - Tĩnh được an toàn và dễ dàng đến biên giới Việt Lào, với những con đường đó, từ Ba Lòng quân ta có thể tiến công địch từ khắp mọi phía bằng bộ binh, đồng thời hệ thống giao thông này còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, quân khí, quân nhu từ Thanh – Nghệ - Tĩnh vào, từ đồng bằng Triệu Hải lên Ba Lòng và từ Ba Lòng đi khắp nơi.
Thung lũng Ba Lòng có con sông Ba Lòng (thượng nguồn sông Thạch Hãn) chảy qua sông không rộng nhưng lắm thác ghềnh nguy hiểm như thác Lo, thác Chài, thác Long, thác Ba Rầu, thác Thù Lụ... Sông có đoạn sâu tám, chín mét, có đoạn quanh co nước chảy xiết. Giặc Pháp tấn công lên Ba Lòng chỉ có đường thủy là dễ dàng nhất, nhưng chúng gặp không ít khó khăn. Ca nô, tàu thủy chiến sẽ đụng phải những bãi đá ngầm, thác dữ. Hai bên sông lại bị quân ta phục kích, chặn đánh nhằm tiêu hao, tiêu diệt địch trước khi chúng đổ bộ vào trung tâm thung lũng. Sông Ba Lòng lại rất thuận lợi cho các hoạt động của lực lượng kháng chiến. Thuyền nhỏ của ta dễ cơ động trên sông để cản bước tiến của địch và vận chuyển hàng hóa.
Sông Ba Lòng cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới và hàng năm bồi đắp một lượng phù sa lớn rất thuận lợi cho việc trồng trọt các loại cây lương thực , rau quả như lúa, sắn, khoai, đậu xanh, bắp bí....Lâm sản cũng rất phong phú. Cá sông, cá hồ rất nhiều. Như vậy, trong điều kiện bị bao vây, bị cắt đứt liên lạc với bên ngoài thì lực lượng kháng chiến ở đây có thể tự lực cánh sinh trong công tác hậu cần, tự cung tự cấp lâu dài. Nhân dân ở Ba Lòng, người Kinh cũng như người Thượng có truyền thống cần cù lao động, đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau lúc hoạn nạn khó khăn; đặc biệt là tinh thần yêu quê hương đất nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Đảng bộ xã Triệu Nguyên (ở Ba Lòng) là một trong những Đảng bộ ra đời sớm ở Quảng Trị.
Tất cả những điều đó khẳng định vùng đất Ba Lòng hội đủ các điều kiện thành lập một chiến khu an toàn và phát triển.
2 - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
* Hậu cứ vững chắc của Quảng Trị và Phân khu Bình Trị Thiên
Quảng Trị có địa hình nhỏ hẹp, lại có vị trí quan trọng về mặt chiến lược của khu vực Bình Trị Thiên, nên kẻ thù đưa một lực lượng lớn vào vùng này quyết tâm chiếm giữ chặt hành lang Thái Phiên- Thuận Hóa- Đông Hà- Lao Bảo- Savằnnakhét, bám chặt con đường số 9 với âm mưu chia cắt Việt Nam ra làm đôi, dùng nơi đây làm địa bàn cho bọn bù nhìn dựng lại ngai vàng mục nát đã bị nhân dân ta đánh đổ. Vì vậy, đầu năm 1947, thực dân Pháp ồ ạt tiến đánh và cô lập Quảng Trị chia cắt ba tỉnh Bình Trị Thiên. Đến ngày 30/3/1947, cơ bản thực dân Pháp đã chiếm được toàn bộ Quảng Trị, dùng nơi đây làm bàn đạp tiến công ra Quảng Bình.
Trong điều kiện vô cùng khó khăn và gian khổ nhưng Đảng bộ và quân, dân Quảng Trị vẫn một lòng đứng lên chống quân xâm lược. Phong trào “Tiêu thổ kháng chiến” diễn ra rầm rộ khắp nơi. Các lực lượng vũ trang của tỉnh như Trung đoàn Thiện Thuật (Trung đoàn 95), đại đội Lê Hồng Phong, các đơn vị dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương đã anh dũng chặn đánh địch khắp nơi, làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Tuy nhiên, do thế địch mạnh nên Quảng Trị, Huế thất thủ. Trước tình hình đó, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị họp và quyết định bám địa bàn hoạt động, muốn vậy phải xây dựng căn cứ địa ở cả đồng bằng (căn cứ lõm) và ở chiến khu. Để bảo toàn lực lượng cho kháng chiến lâu dài, bộ đội và cơ quan kháng chiến của tỉnh vừa chặn đánh địch vừa rút dần từng bước lên chiến khu Thủy Ba. Và ngày 14/4/1947, Tỉnh ủy Quảng Trị họp tại Teng Teng (vùng núi Triệu Phong) và quyết định xây dựng Ba Lòng thành Chiến khu của Tỉnh, vì nơi đây có địa thế rất lợi hại, quân dân ta “tiến có thể đánh và lui có thể giữ”.
Thực hiện chủ trương trên, các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể và lực lượng vũ trang đã khẩn trương xây dựng cơ sở đóng tại Ba Lòng. Thời gian đầu, được sự giúp đỡ, đùm bọc, tạo điều kiện mọi mặt của đồng bào Kinh cũng như dân tộc Vân Kiều ở nơi đây, nên các cơ quan dân chính- Đảng và lực lượng vũ trang sớm ổn định, tập trung xây dựng chiến khu vững mạnh về mọi mặt, làm hậu cứ vững chắc cho phong trào cách mạng Quảng Trị và chỗ đứng chân vững chắc cho lực lượng vũ trang phân khu Bình Trị Thiên.
* Về công tác xây dựng Đảng
Tại chiến khu Ba Lòng, Đảng bộ Quảng Trị đã tiến hành ba kỳ Đại hội, đó là Đại hội lần thứ hai (tháng 11/1947) với chủ trương: “Lãnh đạo nhân dân vừa sản xuất, xây dựng cuộc sống, vừa kiên quyết đánh giặc, phối hợp với các lực lượng vũ trang đánh bại các cuộc càn quét của chúng, củng cố khối đoàn kết toàn dân, ra sức xây dựng cơ sở Đảng”. Đại hội lần thứ 3 (3/1949) Nghị quyết đề ra là: “Phát triển chiến tranh nhân dân, xây dựng các lực lượng vũ trang đủ sức đánh các trận lớn, xây dựng chính quyền của ta, bóp chết chính quyền địch, ra sức phát triển mạnh kinh tế, văn hóa, giáo dục... chú trọng huấn luyện cán bộ, đảng viên”. Và Đại hội Đảng bộ lần thứ 4 (4/1950) xác định: tiếp tục xây dựng các lực lượng vững mạnh, chuẩn bị mọi điều kiện để chuyển mạnh sang tổng phản công và nhiệm vụ của Đảng viên là hạt nhân lãnh đạo toàn dân kháng chiến ở các địa bàn.
Có thể nói rằng, tại Ba Lòng, mọi chủ trương, đường lối, mệnh lệnh, chỉ thị của Đảng, Chính phủ và Bộ tổng tư lệnh đã được quán triệt và vận dụng phù hợp với chiến trường Quảng Trị, từ đây các chủ trương, Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ đã được truyền đạt đến cán bộ, đảng viên, và nhân dân, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi tại chiến trường Quảng Trị...
Xác định chi bộ Đảng là hạt nhân lãnh đạo phong trào ở các cơ quan, đơn vị: Tỉnh ủy đã ra sức xây dựng và củng cố các tổ chức Đảng ở cơ quan trong chiến khu. Sau một thời gian không lâu, hầu hết các cơ quan đều có chi bộ trực thuộc tỉnh ủy. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều được quán triệt, triển khai nhanh chóng xuống tận Đảng viên. Các chủ trương chỉnh Đảng, chỉnh quân được tiến hành nghiêm túc, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả của công tác Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị của từng Đảng viên. Đáp ứng yêu cầu xây dựng chiến khu ngày càng vững mạnh, các cơ sở Đảng không ngừng phát triển. Các đồng chí Bí thư chi bộ đã thể hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo trong tổ chức Đảng ở chiến khu, thúc đẩy mạnh mẽ công tác phát triển Đảng ở vùng đồng bằng, thành thị. Số lượng và chất lượng Đảng viên không ngừng tăng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của phong trào cách mạng. Trong công tác xây dựng Đảng, mặt trận tư tưởng- văn hóa luôn xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Ban tuyên truyền cổ động, Ban huấn học của tỉnh ủy, ban chính trị của Tỉnh đội, Trung đoàn 95, hệ thống thông tin tuyên truyền từ chiến khu về các xã lần lượt ra đời, nhanh chóng phổ cập tin tức, Nghị quyết, chủ trương của Đảng, Chính phủ, Nhà nước đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, nhân dân. Các loại sách báo của Đảng như tờ báo “Mặt trận Việt Minh”, “Cứu quốc”, “Quân đội nhân dân” tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”. Kháng chiến nhất định thắng lợi”... được lưu hành rộng rãi, lan tỏa về các địa phương trong tỉnh, có tác dụng giáo dục chính trị, tư tưởng kịp thời cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
* Công tác xây dựng Chính quyền:
Hỗ trợ đắc lực cho Tỉnh ủy, các cơ quan như Ủy ban Hành chính kháng chiến, Tỉnh đội, Ty công an, Tòa án, Ty giáo dục,.. đã xây dựng ở chiến khu Ba Lòng một hệ thống chính quyền vững mạnh, có mối quan hệ chặt chẽ với các cấp ủy Đảng. Hệ thống chính quyền được tổ chức gọn nhẹ, đủ năng lực hoạt động để phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ chiến khu. Với những hoạt động tích cực của Ty Công an, Tòa án, tỉnh đội, chiến khu Ba Lòng luôn được bảo vệ an toàn, nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng quyết định đến sự phát triển của phong trào cách mạng Quảng Trị.
* Công tác xây dựng mặt trận và các đoàn thể nhân dân:
Công tác này đã được coi trọng ngay từ đầu nên tất cả các tổ chức đều có trụ sở ở Ba Lòng. Được các tầng lớp nhân dân và các đoàn thể của Ba Lòng che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng. Nhiều phong trào quần chúng được phát động từ chiến khu Ba Lòng. Sôi nổi và mạnh mẽ là phong trào thi đua yêu nước, thi đua tăng gia sản xuất, ủng hộ kháng chiến, tham gia xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, thi đua lập công, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, tội ác của giặc như bắt lính, cướp lúa, dồn dân, lập hội tề.v.v...Hoạt động của các đoàn thể, nhất là thanh niên diễn ra khá sôi nổi, rầm rộ, có ảnh hưởng vang dội, tác động mạnh mẽ phong trào ở đồng bằng và đô thị.
*Xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang
Ba lòng là hậu cứ vô cùng quan trọng cho lực lượng vũ trang tỉnh cũng như mặt trận Bình Trị Thiên củng cố đội ngũ, bổ sung quân số, trang bị vũ khí ngay từ buổi đầu và trong suốt quá trình kháng chiến. Tại đây, Trung đoàn 95,trung đoàn chủ lực của lực lượng vũ trang Quảng Trị và của mặt trận BTT đã không ngừng lớn mạnh, xuất quân tiến về đồng bằng lập nhiều chiến công vang dội như chiến dịch Lê Lai, chiến dịch Phan Đình Phùng..., hỗ trợ đắc lực cho dân quân du kích, bộ đội địa phương, bẻ gãy nhiều trận càn của địch, bảo vệ mùa màng, tính mạng, tài sản của dân và các vùng giải phóng, căn cứ của ta.
Theo chỉ thị của Trung ương Đảng, đầu năm 1948, phân khu BTT được thành lập. Buổi lễ ra mắt được tổ chức long trọng tại chiến khu Ba Lòng. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Uỷ viên Trung ương Đảng được cử làm Bí thư. Đồng chí Trần Qúy Hai làm Phân khu trưởng. Trụ sở của phân khu đóng tại Ba Lòng.
Đầu năm 1949, phân khu BTT tổ chức đại hội tại Ba Lòng. Đồng chí Trần Văn Quang giữ chức phân khu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vẫn giữ chức Bí thư phân khu. Đại hội tập trung thảo luận vấn đề đánh các trận lớn để giành thế chủ động trên chiến trường. Thực hiện chủ trương đó, lực lượng BTT đã tổ chức những trận đánh lớn giành thắng lợi như tập kích thị xã Đông Hà (09/3/1949), trận Ưu Điềm- Mỹ Xuyên (8/1949), chiến dịch Lê Lai (11/1949).
Mùa xuân năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập Bộ chỉ huy Mặt trận BTT đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tổng tư lệnh và cử đồng chí Hà Văn Lâu giữ chức Tư lệnh, đồng chí Trần Quý Hai giữ chức Chính ủy. Buổi lễ ra mắt Bộ chỉ huy Mặt trận BTT được tổ chức trọng thể tại chiến khu Ba Lòng, có đông đủ các cán bộ cấp cao, đại biểu Liên khu 4, đại biểu dân quân, chính Đảng 3 tỉnh. Đại đoàn 325 đóng trụ sở tại Ba Lòng.
Cũng trong dịp này, Hội nghị dân, quân, chính, Đảng 3 tỉnh được tổ chức tại Ba Lòng để thảo luận những vấn đề cấp bách về việc xây dựng lực lưỡng vũ trang, đặc biệt là xây dựng bộ đội chủ lực nhằm chuẩn bị chuyển sang tổng phản công trên toàn chiến trường Bình Trị Thiên.
Mùa đông năm 1950, Bình Trị Thiên bị lụt lớn. Nhiều kho lúa của Nhà nước và nhân dân cất giấu dưới hầm bí mật bị hư hỏng nhiều. Đời sống của nhân dân và bộ đội gặp rất nhiều khó khăn. Chính vào thời điểm này Quảng Trị cũng như Quảng Bình và Thừa Thiên Huế phải giải đáp một vấn đề lớn trên con đường tiến lên đó là: đất hẹp, địch đông, liệu có thể đẩy mạnh vận động chiến dịch được chăng? Sau trận lụt, nhân dân đói, bộ đội đói, làm sao có gạo để mở chiến dịch. Để giải quyết vấn đề đó, giữa tháng 01/1951 phân khu đã tập trung Bí thư Tỉnh ủy và Bí thư Huyện ủy 3 tỉnh Bình -Trị -Thiên họp ở chiến khu Ba Lòng. Với tinh thần trách nhiệm cao và với niềm tin vào sức mạnh quần chúng, đồng chí bí thư Phân khu ủy Hoàng Anh kết luận: “Chúng ta đang đứng trước một thử thách lớn. Địch sẽ còn cố khoét sâu vào khó khăn của ta. Nhiệm vụ của chúng ta là phải vượt qua mọi thử thách. Gian khổ, thiếu thốn đến mấy cũng quyết đánh, cũng quyết mở chiến dịch, giành bằng được thế chủ động, phối hợp với chiến trường chính... Việc kiếm đủ cái ăn cho bộ đội mở chiến dịch lúc này hết sức nan giải. Nhưng nếu không mở được chiến dịch thì khó khăn cũng tăng gấp bội”.
Thấm nhuần tinh thần quyết tâm chiến đấu của Phân khu ủy, nhân dân các bản làng, cùng cán bộ, dân công gồng gánh lúa ngô lên Ba Lòng ủng hộ kháng chiến. Nhân dân Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên sôi nổi phong trào góp gạo nuôi quân, hào hứng, nhiệt tình với cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Đúng như bài ca về tình quân dân của Hồng Chương:
Hội “Mẹ chiến sĩ” lập ra
Có bà lắm cháu, có bà đông con
Có bà góa bụa héo hon
Lấy con Chính phủ làm con của mình
Tháng ngày góp nhặt từng chinh
Gửi ra mặt trận chút tình mẹ con.
Có thể nói rằng quyết định của Hội nghị tại chiến khu Ba Lòng (tháng 01/1951), được nhân dân ba tỉnh Bình - Trị- Thiên hưởng ứng đã tạo ra sức mạnh mới đem lại chiến thắng vang dội trên chiến trường Bình - Trị- Thiên.
Năm 1952, tại chiến khu Ba Lòng, Đảng ủy Mặt trận BTT đã tổ chức hội nghị quân, dân, chính, Đảng để tìm ra phương án tác chiến thích hợp, đẩy mạnh tổng phản công, phối hợp đắc lực với chiến trường, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Sự lớn mạnh, trưởng thành của mặt trận BTT và lực lượng vũ trang Quảng Trị đều gắn liền với sự phát triển của chiến khu Ba Lòng. Chính sự bền vững của chiến khu là điều kiện cốt yếu cho Bộ chỉ huy mặt trận BTT và Tỉnh đội Quảng Trị đề ra những kế hoạch, phương án tác chiến có hiệu quả. Chiến khu Ba Lòng là một trong những nơi góp phần đáng kể trong việc đào tạo, nuôi dưỡng, rèn luyện nhiều cán bộ của Đảng trong quân đội, dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy tài giỏi như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Thượng tướng Trần Sâm, Trung tướng Hoàng Văn Thái, Trung tướng Lê Tự Đồng, Thiếu tướng Lê Chưởng,..
* Xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế:
Cùng với nhiệm vụ tổ chức, xây dựng các tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang,.. Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Trị đã chú trọng đến việc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, giao thông vận tải,...
Từ nhận thức “Xây dựng kinh tế là một khâu hết sức quan trọng của việc xây dựng căn cứ hậu phương”, các cơ quan, ban ngành ở chiến khu đều chú trọng gia tăng sản xuất. Các trại sản xuất của tỉnh đội, cơ quan, thanh niên, nông dân, phụ nữ phát triển rộng khắp tạo ra một khí thế thi đua sôi nổi. Ở các thôn xóm, các tổ đổi công, công văn ra đời. Ở các trại sản xuất đều tích cực chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Cùng với những biện pháp trên, chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, chiến khu còn nhận được sự tiếp tế lo lớn của nhân dân trong tỉnh và các tỉnh bạn. Mặc dù phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh nhưng nhân dân đồng bằng Triệu- Hải, Thanh- Nghệ- Tĩnh vẫn ngày đêm chuyển hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm đến chiến khu an toàn.
Giải quyết tốt vấn đề lương thực, thực phẩm là sự góp phần to lớn vào việc ổn định và phát triển chiến khu lâu dài. Đó là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan đầu não của tỉnh và Phân khu lãnh đạo cuộc kháng chiến mau chóng thắng lợi.
Cuối năm 1948, ngành kinh tế tiểu thủ công nghiệp ra đời với nhiều cơ xưởng khác nhau: xưởng rèn, xưởng sửa chữa vũ khí trong quân đội, xưởng mộc, xưởng in, xưởng giấy, xưởng dệt phục vụ tốt cho cuộc sống sinh hoạt và công cuộc kháng chiến. Nhiều dụng cụ lao động sản xuất từ chiến khu được đưa về các địa phương, góp phần đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất. Ngành thương nghiệp cũng phát triển mạnh. Đá Nổi trở thành điểm buôn bán tấp nập giữa nhân dân chiến khu và các vùng Triệu Hải, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Phong trào bình dân học vụ phát triển rộng khắp trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội và thôn xóm. Nhân dân và cán bộ, chiến sĩ, miệt mài tranh thủ học trưa, học tối.
Năm 1949, chiến khu lập trường tiểu học Đá Nổi, có 5 lớp (từ lớp 1 đến lớp 5). Đồng thời mở trường cấp hai ở vùng tiền chiến khu Cùa và vùng tiền chiến khu Phong An (Triệu Sơn).
Chiến khu Ba Lòng không những là điểm thu hút mạnh mẽ các hoạt động văn hóa kháng chiến của tỉnh Quảng Trị mà còn là nơi tập hợp đông đảo những người làm công tác văn hóa, văn nghệ của Bình Trị Thiên.
Giữa năm 1948, “Ban vận động thành lập Hội văn hóa BTT” được hình thành tại chiến khu Ba Lòng. Ban vận động thành lập Hội gồm có 7 ủy viên. Sự ra đời của tổ chức Văn hóa này đã dấy lên mạnh mẽ phong trào văn hóa ở chiến khu. Các tờ báo địa phương như “Tiếng Vang”, “Echo”, “Người lính” đều có trụ sở ở chiến khu để ra tờ báo phục vụ nhân dân trong vùng và các nơi khác. Chính tại mảnh đất này đã tạo điều kiện để sản sinh ra một tầng lớp cán bộ văn hóa văn nghệ trẻ, tài năng, đầy nhiệt hiết cách mạng như: Dương Tường, Vĩnh Mai, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Hồng Chương, Lê Chưởng, Lương An,...
Tuy phải đương đầu, cảnh giác với địch những ở chiến khu thường xuyên tổ chức biểu diễn văn nghệ, triển lãm của các đoàn trong, ngoài tỉnh. Ban đêm, nhân dân khắp chiến khu ùn ùn kéo về Đá Nổi, vây quanh đống lửa xem văn nghệ. Đặc biệt trong những dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, hàng nghìn người đã tụ tập đến đây để biểu dương lực lượng và chào mừng ngày lễ. Tồn tại vững chắc giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt, đầy gian khổ và hy sinh, chiến khu Ba Lòng với những hoạt động về văn hóa văn nghệ, giáo dục đã tạo nên một cuộc sống sinh động, lạc quan, một hình ảnh của chế độ mới: là niềm khao khát, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân trong vùng tạm chiếm ở Quảng Trị cùng với nhân dân Thừa Thiên Huế, Quảng Bình quyết đứng lên chiến đấu chống quân thù.
Một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng chiến khu phục vụ chiến đấu, đó là y tế. Sống sinh hoạt ở miền núi rừng, do độ ẩm cao, bệnh dịch nhiều nên hầu hết cán bộ và nhân dân lúc mới lên đều bị bệnh, nhất là bệnh sốt rét, bệnh ngoài da. Phần lớn thương bệnh binh của các đơn vị lực lượng vũ trang hoạt động ở vùng đồng bằng và nhiều nơi khác đều được chuyển lên chiến khu điều trị. Chiến khu đã nhanh chóng xây dựng được bệnh viện dân y và quân y. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc liên lạc với Liên khu 4 và chiến khu Việt Bắc, các y tá, bác sĩ, nhân viên của bệnh viện vẫn quyết tâm vượt Trường Sơn ra Thanh Hóa, Việt Bắc để xin giúp đỡ thuốc men, dụng cụ y tế, bác sĩ, y sĩ... Vì vậy đến năm 1950, bệnh viện dân y có trên 300 giường bệnh, bệnh viện quân y có khoảng 350 giường bệnh với trang bị y tế tương đối đầy đủ, có các khoa nội, ngoại riêng. Đội ngũ y tá, bác sĩ, các cơ quan đơn vị, vùng du kích, giải phóng của ta được bệnh viện tại Ba Lòng, giúp đỡ nên đã làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ, nhân dân. Lực lượng y tế vượt qua khó khăn gian khổ, luồn sâu vào vùng địch tổ chức khám chữa bệnh, tiêm phòng dịch bệnh cho nhân dân.
Công tác giao thông vận tải được đặc biệt chú trọng. Hệ thống giao thông chằng chịt đã tạo điều kiện cho sự liên lạc giữa chiến khu và nhiều nơi khác.
*Ngoài ra chiến khu Ba Lòng nằm trên hành lang Bắc Nam của cả nước nên nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà Nước như đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và nhiều đoàn cán bộ, học sinh từ khu 5 và Nam Bộ ra Bắc học tập đã được tiếp đón nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn và bí mật.
Sự tồn tại của chiến khu Ba Lòng là cái gai nhọn làm điên đầu các tướng tá Pháp. Nhiều lần chúng tổ chức các trận càn quy mô lên Ba Lòng nhưng đều thất bại. Chiến khu Ba Lòng luôn đứng giữa sự che chở, bảo vệ của núi rừng trùng điệp, của những người con quê hương Quảng Trị và 3 tỉnh Bình Trị Thiên anh hùng.
***
Sự ra đời của chiến khu Ba Lòng do yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của nhân dân Quảng Trị. Hình thức tổ chức ở chiến khu tương đối đầy đủ, tạo ra một chỉnh thể tổ chức xã hội với đủ bộ máy Đảng, chính quyền, quân đội, tòa án, công an. Các cơ quan kinh tế: nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, ngân hàng. Mặt trận và các đoàn thể quần chúng công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, thiếu niên nhi đồng; các tổ chức văn hóa, giáo dục, y tế...Với cơ cấu tổ chức hoạt động đó, Ba Lòng thực sự là trung tâm đầu não kháng chiến của Quảng Trị và lực lượng vũ trang phân khu Bình Trị Thiên. Xây dựng Ba Lòng trở thành chiến khu cách mạng các tỉnh ngoài lợi thế của địa hình ở Ba Lòng, đó còn thể hiện tầm nhìn chiến lược đúng đắn của Đảng Bộ và quân dân Quảng Trị.
Trong hệ thống các chiến khu cách mạng miền Trung trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Ba Lòng là một trong những chiến khu được bảo vệ an toàn nhất, là chỗ dựa vững chắc nhất cho lực lượng kháng chiến và nhân dân Quảng Trị. Kẻ thù đã dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự xảo quyệt nhưng vẫn không tiêu diệt được cơ quan đầu não của tỉnh. Ngọn lửa kháng chiến vẫn được duy trì một cách tập trung, thống nhất. Cũng tại chiến khu này, nhiều tổ chức kháng chiến của huyện, tỉnh và lực lượng vũ trang được củng cố nhanh chóng.
Chiến khu Ba Lòng là chỗ dựa về mặt tinh thần của nhân dân Quảng Trị. Trong những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, chiến khu Ba Lòng đã làm cho niềm tin của nhân dân vào cuộc kháng chiến được củng cố mạnh mẽ. Chiến khu Ba Lòng là hình ảnh của chế độ mới – chế độ dân chủ nhân dân, đó là nhân tố thúc đẩy tinh thần, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong kháng chiến.
Chiến khu Ba Lòng là một trong những mắt xích quan trọng để tạo hệ thống chiến khu cách mạng miền Trung và cả hệ thống chiến khu 3 miền. Thực tế hai cuộc kháng chiến cho thấy, các căn cứ địa của cả nước, cũng như các căn cứ địa vẫn vững vàng thế trận. Các hành lang chiến lược vẫn đảm bảo sự thông suốt từ Bắc tới
Phát huy truyền thống trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Ba Lòng vẫn luôn giữ được vai trò, vị trí quan trọng của một căn cứ địa ở chiến trường Quảng Trị. Từ nơi đây các cơ quan lãnh đạo của tỉnh tiếp tục chỉ đạo quân dân Quảng Trị anh dũng chiến đấu giành thắng lợi. Vì vậy, các địa phương ở Ba Lòng đã được nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và ngày nay đang từng bước đổi mới đi lên.
H.Đ.C




