...Có thể chia nhiệm vụ tham gia chiến đấu của bản thân tôi với tiểu đoàn 47 ở chiến trường Bắc Quảng Trị ra thành hai giai đoạn. Giai đoạn một là từ cuối năm 1965, cùng tiểu đoàn xuất kích vào địa bàn Cam Lộ, sau đó xích dần xuống Gio Linh với trận đánh lịch sử vào căn cứ Dốc Miếu – được gọi là “con mắt thần của tuyến hàng rào điện tử Măc-na-ma-ra” vào rạng sáng 19 tháng 5 năm 1965. Tiếp đến là cuộc “chạy dài” vì bị xe tăng địch uy hiếp, chạy tuốt ra Bắc sông Bến Hải, núp dưới những bờ bụi của xã Vĩnh Sơn. Sau đó, nghe nói Ban chỉ huy tiểu đoàn bị khiển trách hay cảnh cáo gì đó, rồi cả đơn vị được lệnh quay trở lại địa bàn Long Hảo Sơn, Bắc Gio Linh, tiếp tục “cắm sâu, cắm lâu, cắm chắc”. Đến khoảng tháng 7 hay tháng 8 (tôi không còn nhớ chính xác), hình như Bộ Tổng tư lệnh có nhận định là Mỹ đang âm mưu đánh ra miền Bắc, nghe nói là Đại tướng Võ Nguyên Giáp có chuyến đi đặc biệt vào Vĩnh Linh chỉ rõ những vị trí có khả năng Mỹ sẽ đổ bộ (Lúc đó loại lính tráng như tôi chỉ nghe xầm xì vậy thôi chứ làm sao biết chính xác được). Vì vậy đơn vị nhận lệnh trở ra Vĩnh Linh, chuẩn bị trận địa sẵn sàng đón đánh quân đổ bộ đường không của Mỹ.
Giai đoạn hai là từ tết Mậu Thân (1968), tiểu đoàn được lệnh vượt sông trở lại mặt trận Bắc Quảng Trị nhưng xuống hẳn khu đông với nhiệm vụ đánh địch ở Cửa Việt để chặn đứng con đường tiếp viện của Mỹ lên Khe Sanh tạo điều kiện để mặt trận phía Tây đánh lớn. Tôi lúc đó không còn là chiến sĩ của tiểu đoàn mà là cán bộ sáng tác của đội Tuyên Văn Bộ Tư lệnh, được cử về bám sát đơn vị “tìm hiểu thực tế” để sáng tác. Chuyến trở về này tôi cùng đi với hai nhà báo của báo Quân đội nhân dân, là Hồ Thừa (Nguyễn Đình Dư) và Hồng Nhu. Cả hai đều đã hy sinh trong chiến dịch đó. Như vậy là, giữa hai giai đoạn cùng tiểu đoàn 47 vượt sông vào bờ Nam chiến đấu thì có một thời gian tôi cùng tiểu đoàn được trở ra chuẩn bị tác chiến trên đất Vĩnh Linh. Đấy là giai đoạn bản lề của đơn vị giữa hai lần vượt sông Bến Hải, nhưng với riêng tôi, thời gian trở ra Vĩnh Linh chuẩn bị trận địa chống đổ bộ đường không cũng là giai đoạn bản lề, chuẩn bị cho tôi bắt đầu bước vào thời kì mới của cuộc đời, thời kì cầm bút viết văn chuyên nghiệp mà tôi sẽ nói kỹ ở phần sau.
Quay trở lại những kỉ niệm về giai đoạn một. Ở trên có nói đến sự kiện “chạy dài”. Xin được kể rõ một chút. Chạy dài là gì? Trong chiến đấu, nếu do thất thế hay hoang mang lo sợ mà tự động rút lui một đoạn ngắn rồi tự trấn tĩnh, quay trở lại thì chỉ là “chạy ngắn”. Còn nếu mất bản lĩnh, hoảng sợ đến mức rút chạy, chạy không ngoái đầu lại, không biết đến điểm dừng thì gọi là chạy dài. Tiểu đoàn 47 từng được ông Chính ủy Bộ tư lệnh Quân khu 4 - Thiếu tướng Lê Quang Hòa - đánh giá là tiểu đoàn đánh hay nhất miền Bắc, thế mà đã có một cuộc chạy dài. Cú chạy dài “hoành tráng” này tôi cũng đã tả lại khá chân thực trong tiểu thuyết Cửa gió. Nay kể lại tóm tắt thế này.
Sau trận đánh lịch sử vào cứ điểm Dốc Miếu rạng sáng ngày 19 tháng 5, cả tiểu đoàn hả hê kéo về trấn giữ những khu đồi phía Đông đường 76. Cấp trên nhận định, bọn địch sẽ kéo quân từ Đông Hà lên để chiếm lại cao điểm Dốc Miếu, vì vậy nhiệm vụ tiểu đoàn là phục kích đánh chặn viện binh. Đội hình tiểu đoàn trải rộng lên nhiều vị trí khác nhau của những gò đồi đất sỏi đỏ với lúp xúp những lùm bụi, nhiều nhất là sim. Ngày thứ nhất, chúng tôi khá căng thẳng, ngày thứ hai, sự căng thẳng có phần giảm đi. Qua ngày thứ ba, vẫn không thấy viện binh, đám lính chúng tôi đã bắt đầu chủ quan. Hầu hết đều lên khỏi các hầm, tìm hái sim chín. Chiều đến, mặt trời đã xuống thấp phía Trường Sơn, đấy là lúc chúng tôi thấy thoải mái nhất. Tất cả đều lên khỏi các hầm, có đứa còn hát hò, trêu chọc nhau và sục tìm sim để ăn. Bất ngờ nghe tiếng trực thăng. Tất cả nhìn về phía Đông Hà. Chúng tôi nhìn thấy rất nhiều trực thăng giăng thành hàng bay lên phía Tây. Điều lạ là, dưới bụng mỗi chiếc trực thăng đều treo lủng lẳng một cái gì đó như là chiếc hòm lớn. Ánh nắng chiều chiếu vào khiến cả máy bay lẫn những “chiếc hòm” dưới bụng đều ánh lên một màu vàng nâu lấp lánh. Đám lính chúng tôi vẫn đứng ngẩn tò te mà ngắm, có đứa còn nhận định, máy bay Mỹ đang chở những hòm hàng tiếp viện lên Khe Sanh. Thì bất ngờ trực thăng hạ độ cao và lừ lừ tiến thẳng đến những khu đồi của chúng tôi. Rồi tất cả đều hạ cánh xuống. Lúc này cả đám chúng tôi mới hốt hoảng. Chưa kịp định thần để suy nghĩ xem bọn địch định làm gì thì đột ngột ai đó ở phía dưới hét to: xe tăng!
Thú thực là mặc dù đã được huấn luyện đánh xe tăng và hầu hết các đơn vị đều có trang bị vũ khí chống tăng (B40 và B41), tuy nhiên từ ngày vào chiến trường đến giờ chưa bao giờ chúng tôi được trực tiếp nhìn thấy chiếc tăng. Thế nên tất cả bỗng trở nên rối loạn. Rồi bắt đầu nghe tiếng xe rú máy. Tiếng rú mỗi lúc một to. Đang lúc rối trí như thế thì không biết từ chỗ nào, có một tiếng hét: chạy đi! Một tiếng hét vô cùng tai hại. Thế là chúng tôi bật khỏi hầm và chạy. Không ai còn liên lạc được với ai, không bám giữ được đội hình tiểu đội, trung đội hay đại đội, mạnh đứa nào đứa ấy chạy, cứ nhằm vào phía bìa rừng rậm mà lao vào. Càng vào sâu trong rừng thì trời càng tối. Không biết đã chạy được bao xa nhưng tiếng rú của xe tăng vẫn cứ bám vào tai, thậm chí có cảm giác rằng tiếng rú ngày một to như thể xe tăng địch đã đuổi sát sau lưng. Sau này, khi chúng tôi đã dạn dày trận mạc, có dịp ôn lại chuyện cũ, mấy đứa chúng tôi đủ tỉnh táo để nhận ra, tất cả chỉ là ảo giác. Thực ra xe tăng Mỹ đâu có đuổi theo. Nhưng ở thời điểm đó, chúng tôi không thể đủ tỉnh táo, vì thế mà cứ đạp rừng, cắm đầu chạy. Chạy đến lúc nhìn thấy sông Bến Hải. Thế là nhào xuống sông chạy một mạch ra Vĩnh Linh. Lúc này tất cả mới có chút bình tâm để nhận ra, mình đang ở đất Vĩnh Sơn.
Khi viết tiểu thuyết Cửa Gió, đến chỗ này tôi đã dừng lại suy nghĩ rất nhiều. Có nên đưa chi tiết chạy dài bạc nhược như thế vào trong cuốn sách viết về một tiểu đoàn mà như ông Lê Quang Hòa đã khen là đánh hay nhất miền Bắc không? Nên nhớ, tôi bắt đầu viết Cửa gió tập I là cuối năm 1976 ở trại viết văn Vân Hồ của Tổng cục chính trị. Thời điểm đó, không khí sử thi của đại thắng mùa xuân 1975 vẫn còn hừng hực, Đại hội Đảng lần thứ IV cũng mới kết thúc thành công, âm hưởng chủ đạo của sáng tác văn học vẫn là âm hưởng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ở trại văn lúc đó, có mấy tiểu thuyết đã xuất bản và được các nhà xuất bản đánh giá cao tới mức coi như là khuôn mẫu cho thể loại tiểu thuyết. Điển hình là cuốn Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy. Tiểu thuyết của Thụy được ông Tiên (Trưởng phòng biên tập của Nhà xuất bản Quân đội) đưa ra làm “giáo khoa” để hướng dẫn chúng tôi mỗi khi chúng tôi mang bản thảo của mình đến nộp. Vì lẽ đó mà tôi đã đắn đo mãi, nếu mình dựng lại một sự thật “không anh hùng” như thế trong tiểu thuyết có bị coi là sai trái, là thiếu quan điểm lập trường không? Nhưng cuối cùng tôi vẫn viết. Tôi cứ nghĩ nếu không dựng lại cuộc chạy dài này, có lẽ mình vẫn chưa nói đúng cả phần xác lẫn phần hồn của tiểu đoàn 47. Trong Cửa gió, không chỉ có câu chuyện chạy dài được viết rất sinh động mà còn nhiều sự kiện “trái lề” khác nữa. Ví dụ như việc khắc họa nhân vật tên Trưởng đoàn bình định ngụy đem lòng mến cảm với một cô gái mà hắn biết chắc là cơ sở cách mạng, hay nỗi cô đơn, có lúc thất vọng đến mức dao động của mẹ con của một cơ sở cách mạng, hay xây dựng nhận vật Vũ Nam Khang cơ hội, hèn nhát trong đợn vị 47 mà luôn gặp may đến mức trở thành gương điển hình về thành tích bắn cháy trực thăng Mỹ vv… Nếu là hôm nay, việc dám viết những điều như thế có lẽ chẳng có gì đáng nói. Nhưng xin nhắc lại, đấy là thời điểm vừa mới giải phóng miền Nam. Vì thế nên Cửa gió đã không được chào đón từ đầu như tôi mong muốn. Có một kỉ niệm vừa vui vừa buồn về việc xuất bản tiểu thuyết Cửa gió mà lúc đó cả trại văn Vân Hồ ai cũng biết. Khi viết xong bản thảo, do tính nhút nhát nên tôi nhờ Nguyễn Khắc Trưởng (thời ấy có bút danh Thao Trường) dẫn tôi lên gặp cán bộ biên tập Nhà xuất bản. Người tiếp chúng tôi chính là ông Tiên. Chưa kịp nghe chúng tôi trình bày về bản thảo, ông ấy đã rất nhiệt tình nói một thôi một hồi về quan điểm và kĩ năng viết tiểu thuyết mà “giáo cụ trực quan” của bài giảng ấy không gì khác mà chính là tiểu thuyết Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy. Ông ấy nói đại ý theo kiểu như thế này. Muốn hình thành một cốt truyện tiểu thuyết thì phải như thằng Thụy ấy, phải có lôgic, có tính quy luật. Tiểu thuyết cần có hào khí như trong Cơn gió lốc của thằng Thụy ấy… Còn nữa, trong tiểu thuyết, nhận vật cần phải thế này, thế nọ như thằng Thụy ấy. Vân vân và vân vân… Nghe một lúc, tự thấy tiểu thuyết mình rất thiếu những yếu tố “như thằng Thụy ấy”, tôi đưa mắt ra hiệu cho Thao Trường. Cả hai đứng dậy chào, rồi lẳng lặng ôm tập bản thảo về. Dạo đó ở trại văn Vân Hồ, anh em sống rất vui vẻ. Nhàn rỗi nên hay làm vè làm tấu trêu nhau. Có bài vè (thực chất không biết ai là kẻ khởi nguồn) phác họa chân dung tất cả anh em trong trại rất tếu. Tôi nhớ mấy đoạn thế này: Điệu đàn Đào Thắng/ bắng nhắng Đăng Khoa/ ba hoa Trọng Tạo/ đạo mạo Xuân Mai/ nguồn dài Tô Chiêu/ lắm điều Quang Tính/ lỉnh kỉnh Dương Duy/ A Quy Thái Vượng/ trịch thượng Xuân Đức/ đĩ đực Chu Lai v.v… Hòa vào cái không khí vui vẻ ấy, tôi cao hứng tự tác ra một bài gọi là Tiểu thuyết toàn tê (vần t) để kể về sự việc mang bản thảo Cửa gió đến Nhà xuất bản Quân đội. Tôi chỉ nhớ vài đoạn đầu thế này: Thưa thầy Thiều, thưa toàn trại! Tháng trước, tôi theo Thao Trường tới thăm Trung tá thủ trưởng Tiên, tiện thể trình thủ trưởng tiểu thuyết tam tập. Tính tôi thường trịch thượng, tự tin, thêm toàn trại tất tất tấm tắc tán thưởng, thành thử tôi tưởng tiểu thuyết tôi thật tuyệt. Tiếc thay, trông thấy tôi, thủ trưởng Tiên trợn tròn thét te tát: Tiểu thuyết thiếu tính thực tế, thiếu tính tư tưởng, thiếu tính thằng Thụy. Thưa thầy Thiều, thưa toàn trại! Từ thủa theo thầy, tòng teng thơ truyện, thê thảm thay, tới tận trạc tuổi tứ tuần tay trắng tuyền tay trắng… Chuyện vui đồn đến tai Nhà xuất bản Quân đội. Một bữa lên chơi nhà Chu Lai, vợ Chu Lai là cô Hồng lúc ấy đang làm biên tập ở nhà xuất bản liền hỏi, nghe nói anh làm thơ giễu ông Tiên? Em thấy ông Tiên là người rất tốt cơ mà. Tôi vội nói ngay, là chuyền đùa tếu ấy mà, nếu ông ấy giận thì cho tôi xin lỗi nhé. Ai cũng biết là chuyện đùa tếu, nhưng sau lần đó tôi đã tự nhủ mình, mọi cái vui, cái tếu đều nên có giới hạn.
* * *
Khi tiểu đoàn 47 được lệnh quay ra bắc sông Bến Hải chuẩn bị trận địa để sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, cả đơn vị đều dàn quân trên địa bàn xã Vĩnh Chấp, một xã cực bắc của Khu vực Vĩnh Linh, giáp với Quảng Bình. Đây là một xã vùng đồi, rất nghèo, hầu hết là đất đồi sỏi lơ thơ lùm bụi với loại cây đặc sản là muồng, sim, me. Có một vài mảnh ruộng nhỏ thì thuộc loại ruộng bám theo khe nước, dân địa phương gọi là choi, đất pha cát, đặc phèn. Phía Bắc xã là một dãy đồi nhấp nhô hình thành các cao điểm trong bản đồ tác chiến với tên gọi được đặt theo bình độ, tức độ cao so với mặt nước biển. Trên các ngọn đồi vẫn còn lưu lại nhiều bong-ke bằng bê tông từ thời Pháp để lại. Đấy chính là khu vực mà cấp trên nhận định có khả năng bọn Mỹ sẽ đổ quân nếu chúng thực hiện âm mưu tập kích ra miền Bắc. Đại đội của tôi nhận nhiệm vụ đào hệ thống công sự, chủ yếu là giao thông hào từ chân đồi lên đỉnh của cao điểm 43. Nhớ lại những ngày tháng ấy tôi có thể gọi đây là giai đoạn “hành xác” nhất trong đời lính của mình.
Buổi sáng, sau khi ăn cơm xong, nhà bếp làm cơm nắm phát cho từng người, rồi tất cả cán bộ chiến sĩ, vai đeo đầy đủ dụng cụ đào hào như cuốc chim, xẻng, tập họp theo đội hình từng tiểu đội, trung đội tiến ra phía chân đồi 43. Thời gian này, máy bay Mỹ thường ném bom theo cách mà chúng tôi gọi là bom “tọa độ”. Nghĩa là, mục tiêu cắt bom được chúng xác định trước bằng tọa độ trên bản đồ. Từng tốp máy bay cách nhau chừng vài chục phút, từ ngoài biển hoặc phía Nam bay ra, hạ độ cao rồi cắt bom, không cần biết ở dưới mục tiêu ấy hiện có gì không. Khu đồi Vĩnh Chấp là một trong những tọa độ trọng điểm mà máy bay thường cắt bom. Để đối phó với kiểu ném bom “tọa độ” ấy, phương thức đào công sự của đơn vị được lên phương án như sau. Bộ đội nấp dưới chân đồi, chờ đợi máy bay địch ra cắt xong một lượt bom thì nhanh chóng chạy lên vị trí đã được phân công trước cho từng người. Mỗi người bằng mọi giá trong vòng 15 đến 20 phút phải tự đào cho mình được một khoanh đất thấp để sẵn sàng ép người xuống nếu có tốp máy bay tiếp theo xuất hiện… Sau khi máy bay tốp sau cắt bom xong thì lại nhô lên đào tiếp. Cứ vậy cho đến khi hình thành nên đường giao thông hào. Kịch bản trên giấy thì có vẻ hợp lí, nhưng thực địa lại cam go vô cùng. Đất trên cao điểm là đất sỏi, sườn đồi khá dốc lại bị bào mòn bởi mưa nắng hàng trăm năm, gần như không còn chút đất thịt nào, tất cả trơ khấc ra toàn sỏi cứng. Dụng cụ đào đất chỉ có chiếc xẻng nhỏ cầm tay và một chiếc cuốc chim đầu dẹt, đầu nhọn. Tháng tám ở miền Trung nắng rát mặt, cháy lưng. Chúng tôi phải đào hào lúc nào cũng trong trạng thái nín thở như vận động viên chạy cự li ngắn. Nếu có tiếng máy bay mà chỗ đất đang đào vẫn chưa đủ độ sâu để ẩn mình thì phải co chân chạy vụt vào nấp trong một bong-ke gần nhất. Bom nổ, khói trùm cả một vùng đồi. Mảnh bom bay ràn rạt, mùi cháy khét lẹt. Cứ thế, hết ngày này qua ngày khác, cực nhọc, căng thẳng không thể kể xiết.
Thời đó ở cấp đại đội có một hình thức dân chủ cho quân nhân là thành lập Hội đồng quân nhân, một tổ chức gần giống với Công đoàn ngoài dân sự. Những người được lựa chọn bầu vào Hội đồng quân nhân là người có uy tín nhưng ở cấp thấp, từ Trung đội phó trở xuống. Nhiệm vụ của Hội đồng quân nhân chủ yếu chỉ để lo hai việc. Một là giám sát chuyện ăn uống, thực hiện các chế độ của quản lí nhà bếp xem có chi đủ tiêu chuẩn không, có tích cực cải thiện bữa ăn không, có xè xẻo bớt xén tiêu chuẩn của bộ đội không? Đấy gọi là công tác đời sống. Nhiệm vụ thứ hai là chăm lo đời sống tinh thần mà cụ thể là hình thành Câu lạc bộ để tập văn nghệ, phổ biến các bài hát cho bộ đội. Ở đại đội lúc đó không ai biết tôi có năng khiếu văn nghệ mà chỉ biết tôi từng làm Quản lí trên Khu đội, vì thế mà tôi được bầu vào Hội đồng quân nhân phụ trách đời sống. Còn cậu Quỳnh, một người rất đẹp trai thường xuyên được hoá trang thành con gái trong các lần diễn văn nghệ, phụ trách Câu lạc bộ.
Một buổi tối, tôi được Chính trị viên Khoa gọi lên báo cáo tình hình ăn uống của đơn vị, khi trở ra đến đường hào bên ngoài thì nhìn thấy Quỳnh đang đứng với vài ba cậu nữa tranh luận say sưa chuyện gì đó. Nghe kĩ tôi nhận biết họ đang bàn luận xem nên hát bài gì. Tôi tò mò hỏi thì được Quỳnh cho biết, đơn vị đang chuẩn bị tập tiết mục văn nghệ để tham gia hội diễn Tiểu đoàn. Quỳnh cũng nói thêm, trong nhóm Câu lạc bộ đang bàn nên hát bài này, bài này, và hỏi tôi có được không? Bất giác tôi nghĩ tới cái cảnh khốn khổ trong những ngày đào hào vừa qua và thấy chạnh lòng nghĩ, mấy cậu này tới đây sẽ được nghỉ đào hào để tập văn nghệ, sướng thế, vì sao đại đội không cho mình được tham gia? Tôi liền nói, chúng mày tham gia Hội diễn văn nghệ mà toàn hát mấy bài Trung ương, lại thêm mấy cái giọng thuốc lá khê đặc như chúng mày thì làm sao được giải? Quỳnh nói, biết thế nhưng phải làm sao? Tôi liền mách nước, đi thi muốn thắng cần phải có tiết mục tự biên tự diễn nói về nhiệm vụ của đơn vị mình may ra mới được giải. Quỳnh nói, chúng tao biết thế rồi, nhưng làm sao mà tự biên tự diễn được đây? Tôi khẽ cười, nói, mày báo cáo với Chính trị viên cho tao nghỉ đào hào mấy hôm, tao sáng tác cho. Nói rồi tôi quay đi luôn, nghe đằng sau tiếng thằng Quỳnh kêu oai oái: Này, mi nói thiệt hay nói chơi đó.
Sáng hôm sau, tôi vẫn dậy như bình thường, ăn sáng, nhận cơm vắt, cài cuốc xẻng lên vai chuẩn bị lên cao điểm thì bất ngờ cậu liên lạc đại đội chạy xuống. “Đồng chí Đức lên gặp Chính trị viên!” Chính trị viên đại đội 2 Trần Đăng Khoa, cấp hàm trung úy, người Thừa Thiên lấy vợ Quảng Bình, xét trên nhiều phương diện đều thuộc loại phong độ bậc nhất tiểu đoàn. Vóc dáng to mập, mặt vuông chữ điền, mắt to, môi dày, lông mày rậm, tóc rễ tre ốp cứng trên đầu. Về danh tiếng cũng ăn đứt những Chính trị viên khác. Trước khi được điều về tiểu đoàn 47, Trần Đăng Khoa là Chính trị viên phó đảo Cồn Cỏ, mà thời gian ấy Cồn Cỏ là địa danh nổi tiếng cả nước. Với cương vị Chính trị phó hòn đảo anh hùng nên Trần Đăng Khoa được cơ cấu trong đoàn anh hùng chiến sĩ thi đua Quân khu 4 và chiến trường miền Nam ra dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc và được vào Phủ chủ tịch gặp Bác Hồ…
…Chính trị viên Khoa nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ: Này, nghe mấy đồng chí bên Câu lạc bộ báo cáo là cậu nhận sáng tác tiết mục cho anh em đi hội diễn phải không?
Tôi hơi lúng túng: Báo cáo thủ trưởng là em cũng góp ý vậy thôi.
- Tốt. Chính trị viên kết luận gọn lỏn. Cậu nghỉ đào hào, viết ngay một tiết mục, chiều nay đưa lên đây tôi xem.
Tôi hoảng quá kêu to: Ối, chiều nay thì sao kịp ạ?
- Thì tối, chập tối cũng được.
- Báo cáo thủ trưởng, chập tối thì cũng vội quá em không sáng tác kịp đâu ạ?
Ông Khoa trợn mắt lên, lúc ấy trông ông thật đáng sợ:
- Này này, cậu cũng đã đào hào. Một ngày đào được bao nhiêu mét? Cả một ngày mà chỉ sáng tác một tiết mục lại kêu không kịp. Tư tưởng tiến công cách mạng đâu? Thôi, về đi, khẩn trương chấp hành nhiệm vụ.
|
Tôi trở về hầm, việc đầu tiên là lăn ra ngủ. Trong đời làm lính cái thèm muốn thường trực đối với lính trẻ là ngủ. Lúc nào cũng đói ngủ. Suốt cả đợt đào giao thông hào này chúng tôi đã bị bào mòn sức lực khủng khiếp nên càng thèm ngủ. Tôi ngủ một lèo đến khi tỉnh dậy đã quá trưa. Lấy cơm vắt ra ăn, định ngủ lại, nhưng chợt nhớ là cần phải tắm giặt. Thế là ôm toàn bộ chăn màn ra khe nước lạnh, vừa tắm vừa giặt, vừa tranh thủ nghĩ ngợi xem phải đối phó thế nào với cái mệnh lệnh khắc nghiệt của Chính trị viên Khoa. Có lẽ nhờ nước mát mà tôi đã “phát kiến” ra hai quyết định cực kì quan trọng, nó có tính quyết định đến cuộc đời của tôi trong những năm tiếp sau. Quyết định thứ nhất là ý tưởng sáng tác. Cả đợt đào giao thông hào này, Chính trị viên Khoa đưa ra một khẩu hiệu để hô hào toàn đơn vị nghe rất kêu, đó là chiến dịch “Đường hào diệt Mỹ”. Tôi quyết định lấy luôn tên “Đường hào diệt Mỹ” làm tiêu đề cho tiểu phẩm của mình và nghĩ, chắc chắn sẽ làm cho Chính trị viên khoái chí, hài lòng. Quyết định thứ hai là chọn thể loại. Lúc đầu tôi định viết một kịch vui. Nhưng suy đi tính lại, diễn kịch nói sẽ rất khó cho cái đám văn nghệ quá nghiệp dư trong đại đội, hơn nữa (mà cái này mới quan trọng hơn) nếu kịch nói, sau khi mình sáng tác xong, Chính trị viên sẽ coi như mình đã hoàn thành nhiêm vụ, bắt giao lại kịch bản rồi phải tiếp tục lên đồi đào hào. Nếu thế thì xôi hỏng bỏng không! Tôi quyết định viết một hoạt cảnh dân ca Bình Trị Thiên với một loạt các làn điệu mà tôi biết chắc cả đơn vị sẽ không có ai biết hát. Đúng như tôi dự đoán. Tối đó tôi lên đưa bản thảo cho ông Khoa rồi điềm nhiên trở về ngủ, sáng mai thức dậy, lại điềm nhiên nai nịt gọn gàng ra vẻ sẵn sàng lên cao điểm. Vẫn không thấy có dấu hiệu gì, tôi hơi lo lắng. Khi cả trung đội đã lên tới chân đồi 43 thì thấy cậu liên lạc hớt hải chạy lên. “Đồng chí Đức về gấp gặp Chính trị viên”. Tôi khẽ cười thầm và vác cuốc xẻng về liền. Về đến lán chỉ huy, tôi đã thấy đám thằng Quỳnh vây quanh ông Khoa. Vừa nhìn thấy tôi, Chính trị viên Khoa nói ngay. Cậu viết cái bài này rất đúng chủ trương của đơn vị, hay đấy, nhưng sao lại viết mấy cái điệu gì thế này, chúng nó có đứa nào biết hát đâu? Tôi thưa, báo cáo thủ trưởng, hội diễn văn nghệ mà mình hát nhạc mới là không “ăn” đâu, phải hát dân ca địa phương mới được chấm ưu tiên. Chính trị viên Khoa gật mạnh đầu nói, đúng, phải văn hóa truyền thống dân tộc. Nhưng ai dạy cho anh em hát đây? Tôi nói, nếu anh em không biết thì để tôi dạy cho. Ông Khoa sáng mắt lên, cậu giỏi quá ha, tốt lắm. Tớ quyết định bổ sung cậu vào Câu lạc bộ trực tiếp “đạo diễn” chương trình cho anh em..
Thế là từ hôm đó, tôi được nghỉ hẳn nhiệm vụ đào giao thông hào để tập văn nghệ. Sau khi tập xong màn hoạt cảnh Đường hào diệt Mỹ, tôi viết tiếp một vở kịch ngắn cũng bằng dân ca, lại tiếp tục tập. Chương trình văn nghệ của Đại đội 2 đạt giải nhất Hội diễn tiểu đoàn. Sau đó, tiểu đoàn chọn Đại đội 2 đại diện đi dự Hội diễn toàn Bộ Tư lệnh. Chương trình của tiểu đoàn 47 cũng đạt giải nhất. Sau đợt hội diễn ấy, Bộ tư lệnh Vĩnh Linh quyết định thành lập một đội Tuyên truyền văn hóa, gọi tắt là đội Tuyên Văn. Việc ra đời đội Tuyên Văn không phải sáng kiến riêng của Bộ Tư lệnh Vĩnh Linh. Vào thời kì ấy, hầu như tất cả các tỉnh đội trên tuyến lửa Quân Khu 4 đều thành lập đội Tuyên Văn. Phong trào “tiếng hát át tiếng bom” ra đời vào những ngày tháng đó. Dĩ nhiên, tôi là cái tên được điều động đầu tiên lên đội để đảm nhận nhiệm vụ sáng tác. Thế là bắt đầu từ đó, tôi trở thành người sáng tác văn nghệ chuyên nghiệp, có quay trở lại tiểu đoàn 47 tham gia chiến đấu nhưng với tư cách là tác giả đi thực tế. Sau ba năm gắn bó với đội Tuyên Văn Vĩnh Linh, tôi được điều ra làm cán bộ sáng tác cho đoàn Văn công Quân Khu 4. Rồi sau bảy năm ở Quân Khu 4, tôi lại được Tổng cục chính trị điều ra Hà Nội phối hợp với tác giả Đào Hồng Cẩm để viết vở Tổ quốc cho đoàn kịch Tổng cục chính trị biểu diễn phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Rồi chuyển về trại sáng tác Vân Hồ, học khóa 1 trường viết văn Nguyễn Du. Tốt nghiệp, lại trở về Ban sáng tác của Nhà hát nghệ thuật quân đội cho đến cuối năm 1989, chuyển ngành về Quảng Trị.
Cửa Việt tháng 12/2014
X.Đ
____________
(*)Trích tự truyện: Văn và Đời




