Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Chuyện kể về Ngân hàng Vĩnh Linh

N

gày 25/ 8/ 1954 tên lính thực dân Pháp cuối cùng qua cầu Hiền Lương vào Nam, Vĩnh Linh hoàn toàn giải phóng. Trước đó bốn hôm vào ngày 21/ 8/ 1954 một đoàn xe của Pháp đến Như Lệ (Hải Lăng) gồm 2 xe zeep và 10 xe vận tải GMC. Dẫn đầu 2 xe zeep 1 cắm cờ Pháp với sĩ quan cấp tá, 1 cắm cờ đỏ sao vàng với 1 sĩ quan liên lạc là đồng chí Vũ Kỳ Lân, phó Tỉnh đội xuống Tỉnh đội dân quân Quảng Trị. Trên các xe tải chất đầy tiền và tài liệu có lính Pháp vũ trang đi bảo vệ. Bên ta có đồng chí Trần Lượng - Trưởng đoàn và một số cán bộ Ngân hàng Quảng Trị như: Nguyễn Hữu Uyên, Nguyễn Phong Điền cùng đi theo. Trên chặng đường khoảng 50km từ Như Lệ đến Hồ Xá nhân dân hai bên đường thấy cờ đỏ sao vàng trên xe nô nức tỏa ra chào đón. Khi đoàn xe sắp qua cầu Đông Hà gặp đám tang phải từ từ dừng lại bà con ta được dịp “lao đến” tay bắt mặt mừng tung quà bánh nước uống lên xe… Thật là một cuộc hành quân thú vị, dùng phương tiện của địch để biểu dương thắng lợi lịch sử của nhân dân ta.

Đó là đoàn cán bộ Ngân hàng Quảng Trị tập kết ra Bắc theo hướng đường bộ. Toàn bộ con người và tài sản được bàn giao lại cho Phòng Giao dịch số 88 là một trong năm Phòng giao dịch của Ngân hàng Quảng Trị do đồng chí Mai Nam làm trưởng phòng. Sau đó, Phòng giao dịch số 88 này được đổi tên là Phòng Ngân hàng Vĩnh Linh trực thuộc Chí nhánh Ngân hàng Quảng Bình.

Tháng 7/ 1955, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quyết định thành lập Đại lý Ngân hàng Vĩnh Linh, ngang với cấp tỉnh và trực thuộc Ngân hàng Trung ương. Đại lý lúc này có khoảng 30 cán bộ do đồng chí Lê Thiết làm Trưởng đại lý.

Cuối năm 1958, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quyết định nâng đại lý Ngân hàng Vĩnh Linh lên thành Chi nhánh khu vực Ngân hàng Vĩnh Linh.

Theo cùng năm tháng Chi nhánh khu vực ngân hàng Vĩnh Linh cũng biến động theo dòng lịch sử: Khi thì Ngân hàng khu vực, khi thì Ngân hàng Nhà nước huyện Bến Hải và bây giờ là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vĩnh Linh…

Dù dưới tên gọi nào thì Ngân hàng Vĩnh Linh vẫn là Ngân hàng tiêu biểu, xuyên suốt mang tính kế thừa của Ngân hàng Quảng Trị từ năm 1953 đến nay. Có thể nói họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được nhân dân giao phó, góp phần vào công cuộc phục hồi kinh tế trên đống tro tàn của chiến tranh, giúp đỡ nhân dân vốn, xây dựng hợp tác xã, mở rộng thành phần kinh tế quốc doanh làm cho đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, làm cho bà con bên kia bờ Hiền Lương vững lòng tin vào chủ nghĩa xã hội.

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có lần thốt lên: “Có một người duy nhất biết làm ra tiền một cách lương thiện, đồng thời biết cách sử dụng đồng tiền vào mục đích lương thiện cho toàn xã hội và con người khổng lồ ấy tên gọi Ngân hàng”. Ông lại viết: “Ôi Ngân hàng cái nghề thu vào - ném ra để làm đồng tiền ít hóa nhiều, cái năng lực hành động của một xã hội để làm giàu đất nước và phát triển cuốc sống lợi hại đến như vậy…”. (Hoàng Phủ Ngọc Tường: Tản mạn về đồng tiền.)

Trong niềm vui lớn lao của 60 năm Vĩnh Linh lũy thép, lũy hoa có niềm vui riêng bằng sự đóng góp máu xương, trí tuệ của cán bộ và nhân viên Ngân hàng Vĩnh Linh qua nhiều thế hệ. Với tôi, người viết mấy dòng này còn một chút day dứt là đến hôm nay họ vẫn chưa nhận được danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang mà theo tôi là họ rất xứng đáng, hơn một lần xứng đáng.

* * *

Trong suốt chiều dài tồn tại và phát triển, Ngân hàng Vĩnh Linh đã để lại nhiều chuyện vui buồn nghề nghiệp, có xương máu, nước mắt và cả những bi hài lẫn lộn. Nhân 60 năm ngày truyền thống của Vĩnh Linh anh hùng tôi xin kể vài chuyện:

Tôi và Trần Anh Tuấn cùng học lớp nghiệp vụ ngành Ngân hàng vào tháng 5/ 1955. Sau lớp học tôi về Thanh Hóa còn Tuấn đi Vĩnh Linh. Đó là vào tháng 6/ 1956, lúc đó anh đã 23 tuổi, tuổi Quý Dậu. Tuổi trẻ và khát khao cống hiến nên anh đã lao vào công việc một cách hăng say, tham gia đầy đủ các hoạt động phong trào của công đoàn, bằng chứng là chỉ sau hai năm anh được đề bạt làm Tổ phó Tổ Kế hoạch. Và cũng vì tuổi trẻ anh đã thầm yêu cô Lê Thị S. một cô gái làm cấp dưỡng trong cơ quan. Ao ước của anh là sau ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước anh sẽ về bên mẹ với một gia đình gồm vợ và các con… Ao ước ấy của anh đã bị dập tắt ngay từ trứng nước. Số là trong Ngân hàng Vĩnh Linh ngày ấy cũng có người ngắm nghía vào cô ấy. Người này nhiều mưu mẹo hơn Tuấn. Để chiến thắng anh ta không từ một thủ đoạn nào như vu khống, kích động và đặc biệt anh ta tung tin Tuấn sàm sỡ với cô gái Tuấn bị đưa ra Chi đoàn Thanh niên và Công đoàn cơ quan kiểm điểm. Trước sau cuộc kiểm điểm ấy Tuấn đều nói không. Nhưng nào có ai nghe và ai bảo vệ Tuấn.

Ngày ấy, hai chữ tham ô, hủ hóa là không còn đất sống. Bởi vậy Tuấn đã có một hành động hết sức nguy hiểm là bỏ cơ quan, lội về bên kia sông giới tuyến… Đó là vào mùa thu năm 1959.

Sau này anh ấy kể lại: “Tôi đi trong tuyệt vọng và tìm cái chết danh dự cho bản thân”.

Anh vào đến đất Gio Linh thì bị địch bắt. Địch nghi anh là cộng sản nằm vùng nên bị đày đi Côn Đảo cho đến cuối năm 1964. Trong tù anh được kết nạp vào Đảng, khi ra tù anh tham gia vào Ban kinh tài huyện Bắc Bình (Bình Tuy). Năm 1975 khi đất nước thống nhất anh là Trưởng Ty Giao thông Vận tải tỉnh Bình Tuy, phó Chủ nhiệm Công ty Lâm sản tỉnh Thuận Hải.

Tháng 5/ 1976, tôi gặp lại anh tại thành phố Hồ Chí Minh. Câu đầu tiên anh hỏi là: Ngân hàng Vĩnh Linh ai còn ai mất? Và sau đó là một đêm dài về 17 năm chúng tôi xa nhau. Tuấn quê ở xã Quảng Vinh - huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế và hiện tại anh đang nghỉ hưu tại xã Bắc Ruộng, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận với chị Hồ Thị Lài vợ anh và hai cháu trai, đứa lớn sinh năm 1990, đứa t hứ hai sinh năm 1994. “Tôi yêu sớm và có con lại muộn”. Đó là câu kết anh nói với tôi vào tháng 5/ 2012 tại Tuần Châu - Quảng Ninh nhân ngày truyền thống của Ngân hàng.

Tháng 2/ 1965 Mỹ ồ ạt đánh phá Vĩnh Linh. Mọi hoạt động của Ngân hàng vẫn duy trì. Đến đầu năm 1968 hệ thống hầm địa đạo của Chi nhánh Ngân hàng đã hoàn chỉnh gồm một địa đạo dài 150 mét, nối liền hệ thống địa đạo Vĩnh Nam, hai địa đạo sâu 7 mét, mỗi cái dài 16 mét với 2km giao thông hào để liên lạc với nhau; hai hầm bê tông bảo quản tiền bạc và tài liệu; 15 hầm chữ A mỗi cái đủ chỗ cho từ 4 đến 6 cán bộ ngồi làm việc; 35 hầm bằng và hầm lộ thiên. Tất cả các công trình ấy đều là công sức của cán bộ nhân viên của Chi nhánh, trong đó nòng cốt là Trung đội tự vệ của cơ quan.

Suốt cả thời kỳ chiến tranh phá hoại kho tiền của cơ quan Ngân hàng Vĩnh Linh đã hai lần liền bị bom đánh phá… Đó là vào lúc 14 giờ ngày 10/ 10/ 1968 một loạt bom B52 rải thảm rơi đúng cửa hầm làm việc của bộ phận kho quỹ.

Đồng chí Nguyễn Văn Bồng vừa đi nhận tiền từ kho bảo quản về bị trúng bom hy sinh tại chỗ. Hai nhân viên kiểm ngân bị thương. Đáng nhớ nhất là 12 giờ ngày 7/ 7/ 1968 bom đã rơi trúng vào Quỹ nghiệp vụ ngân hàng tại địa điểm sơ tán. Hai đồng chí Nguyễn Hữu Uyên và Trần Đức Máy hy sinh. Két sắt nát vụn thành từng mảnh bay lên cao cùng giấy bạc. Tiền giấy tung ra gặp gió Nam thổi mạnh bay xa trong bán kính vài km… Một ban chỉ đạo giải quyết hậu quả đã được thành lập. Khi tiếng loa phát đi lời kêu gọi “Giặc Mỹ đã gây ra nợ máu, đã làm tổn thất tài sản Nhà nước, để giảm bớt tổn thất do địch gây ra, đồng bào ai nhặt được tiền Ngân hàng đem đến nộp tại Công an…”. Sau đó đồng bào đã lần lượt đem tiền nhặt được nộp trả lại. Đến 21 giờ đêm hôm ấy số tiền nhân dân nộp là rất lớn, gần khớp với số tiền đã mất. Nhưng cái được lớn nhất vẫn là lòng dân với cách mạng và sự trong sáng, vô tư đến bất ngờ…

Nhân đây tôi cũng xin nói thêm là vào năm 1953 khi Chi nhánh Ngân hàng quốc gia Quảng Trị đang ở Ba Lòng cũng đã có hai lần kho quỹ bị uy hiếp nghiêm trọng. Kho tiền Ngân hàng thời kỳ đầu là những bao gói chống ẩm ướt có dây thừng kéo lên treo lơ lửng trên những cây cao. Về sau khi số lượng tiền nhiều thì phải đóng kho bằng gỗ thừng kín bốn bề.

Lần thứ nhất là mất một bao tiền treo trên cây cao do một người dân trong bản đi lấy ong rừng trông thấy và lấy về. Sau khi phối hợp cùng Công an Tỉnh điều tra đã phát hiện kịp thời và thu hồi đủ số khi người lấy chưa kịp chi tiêu. Lần thứ hai là một đàn voi rừng khi đi qua suối gặp phải kho gỗ chứa tiền, đàn voi đã đập phá kho rồi tung hứng các bao tiền vung vãi cả một vùng quanh suối nước sâu. Anh em cảnh vệ và thủ kho đã mất mấy ngày liền thu nhặt, phơi phong và đóng gói lại…

Như vậy riêng về kho tiền chúng ta đã bị phá hoại bởi chiến tranh, thú rừng và con người. Ngày ấy nhân dân ta tuy còn thiếu thốn mọi bề, cơm ăn chẳng no, áo mặc chẳng lành, nhưng tiền bạc, tài sản không phải của mình, không do mình lao động mà có thì tuyệt đối không tham. Riêng mặt tích cực của việc kho bị phá là bài học cho cán bộ ngân hàng ngày ấy noi theo và rèn luyện bản thân. Phải chăng do vậy mà nạn tham nhũng ăn cắp của công trong Ngân hàng ngày ấy rất ít hoặc không có.

Vĩnh Linh là nơi bị bom Mỹ đánh phá ác liệt, nhưng mọi chi tiêu cho sản xuất và chiến đấu đều phải được đáp ứng đầy đủ. Trong nhiệm vụ to lớn đó, Ngân hàng phải lo đáp ứng tiền mặt, mà tiền mặt thì Trung ương không dự trữ tại Vĩnh Linh, khi cần Ngân hàng Vĩnh Linh phải ra Ngân hàng Quảng Bình để nhận. Khoảng cách từ Vĩnh Linh  đến kho Quảng Bình trên đất Tuyên Hóa, Minh Hóa là từ 120 đến 150km. Một tháng có từ một đến hai lần phải đi lấy tiền về. Một lần đi là chi nhánh phải cử bốn đến năm nhân viên là tự vệ mỗi người một súng một xe đạp, vừa vận chuyển vừa bảo vệ. Có đoạn ngày đi đêm ngủ, có đoạn ngày ngủ đêm đi. Người đi vận chuyển tiền cũng phải nắm quy luật bắn phá của địch, tránh các trọng điểm, các giờ cao điểm, vượt nhanh những nơi nguy hiểm như bến phà, suối ngầm… Nhờ vậy mà đã đảm bảo tuyệt đối an toàn cho cả người và tiền bạc trong tất cả các chuyến đi điều chuyển. Sau này ngồi lại với nhau để nhớ về những công việc đã qua, tìm nguyên nhân thắng lợi thì chúng tôi cho rằng có yếu tố may mắn nhưng trên hết và trước hết là lòng trung thành, đức hi sinh và tinh thần trách nhiệm đã đưa đến thành công.

Chiến sự ngày càng diễn biến ác liệt, trụ sở làm việc phải di chuyển thường xuyên để bảo vệ an toàn. Chi nhánh từ thị trấn Hồ Xá chuyển về xã Vĩnh Trung rồi lại chuyển đến Vĩnh Nam, kho phát hành bốn lần di chuyển với sức người, hoàn toàn không có phương tiện cơ giới. Dùng xe ba gác hoặc dùng sức người để lăn bánh xe vượt sông, băng qua ruộng lầy những chiếc két sắt nặng đến 6 - 7 tạ để đưa vào kho. Phòng giao dịch Bến Quan phải năm lần di chuyển từ Bến Quan lên Rú Lim rồi xuống Sa Trung lại lên Quảng Xá và cuối cùng về khe Lòn xã Vĩnh Khê, mỗi lần di chuyển cơ quan đến địa điểm mới, toàn thể cán bộ ngân hàng phải vận chuyển hồ sơ, tài liệu và các phương tiện khác…

Cho vay thu nợ vốn là công việc chính, công việc làm nên một Ngân hàng. Ngân hàng Vĩnh Linh đã cho người dân vay từ ngọn dây khoai lang đến con trâu, cái cày máy. Rồi đến Hợp tác xã, các xí nghiệp quốc doanh như cơ khí Đăng Khoa, mộc Lê Thế Hiếu, chè Bến Hải… Hai từ “nợ xấu” nó đã có từ năm 1956, 1957 khi chúng tôi cho nông dân làng Mô Nham vay giống khoai lang để ươm làm giống, sau hai tháng, cây khoai lang đang lên xanh tốt thì bất ngờ đất lún sụt, toàn bộ giống khoai bị chìm xuống hố sâu và thế là Ngân hàng Vĩnh Linh mất vốn. Cán bộ cho vay ngày ấy hiện còn sống ở tuổi 84. Nghe tin anh ốm tôi ra Đồng Hới thăm. Nhưng khi gặp anh được thì anh đã khỏe mạnh. Mừng quá nên mới nói với anh: “Tốt rồi, sức khỏe thế này thì vào Vĩnh Linh đòi món nợ dây khoai lang”. Anh cười như mếu nhưng rất tỉnh táo: “Nhờ bạn báo cáo hộ đó là nợ xấu do thiên tai…”.

Rồi đến khoanh nợ và xóa nợ đã bị hiểu nhầm và bị lợi dụng làm quà ban ơn… Các hợp tác xã sản xuất Nông - Ngư nghiệp vùng Chợ Do còn một số tiền vay đã quá hạn, cán bộ Ngân hàng đến thì bị người vay xua đuổi, rằng được khoanh nợ và xóa nơ. Họ nói ông trưởng phòng giao dịch Chợ Do đã nói: Ngân hàng chủ trương khoanh lại tức là xóa chưa cần trả cũng được. Hùng hồn hơn ông tuyên bố “khoanh tức là xóa, xóa tức là cho”. Khi được giải thích lại thì bà con đem tiền trả nợ. Hợp tác xã Di Loan trả 3,6 triệu đồng, Hợp tác xã Nông nghiệp Vĩnh Tân trả 7,7 triệu đồng, toàn khu vực đã trả trên 70 triệu…

Thời kỳ đầu tờ khế ước cho vay cũng rất đơn giản, đã có lần cán bộ tín dụng cho một bác nông dân ở thôn Thủy Trung xã Vĩnh Trung vay một số tiền để chăn nuôi nhỏ, khi làm khế ước thì ghi đơn giản người vay là ông Dung. Đến hạn nợ, cán bộ về tìm không ra người vay, hỏi ông Dung thì cả làng đều không ai biết. Sau ba ngày lục lọi tìm tòi trong đóng chứng từ nhận tiền thì tìm ra người vay có tên là Ngô Dũng. Phát hiện được cũng là do công của bác Lê Hữu Chước thủ quỹ của Chi nhánh bắt buộc người nhận tiền đều phải tự mình ghi họ tên và nhờ nguyên tắc ấy mà Ngân hàng đã có địa chỉ để thu…

L.B.T

 

LÊ BÁ TẠO
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 233 tháng 02/2014

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground