* * *
Địa danh “làng Vĩnh Hoàng” thực chất là làng Huỳnh Công (gồm ba thôn Huỳnh Công Tây, Huỳnh Công Đông và Huỳnh Công Nam) thuộc xã Vĩnh Tú ngày nay. Nói thêm một chút về lịch sử, Vĩnh Hoàng là danh từ cổ, chỉ tên gọi trước đây của cả bốn xã Vĩnh Tú, Vĩnh Nam, Vĩnh Thái, Vĩnh Trung ngày nay. Trong cái địa phương rộng lớn này thì chỉ có mỗi làng Huỳnh Công có “nghề” sáng tác và kể chuyện trạng. Cho nên người ta có thể nói “chuyện trạng Huỳnh Công” hay “chuyện trạng Vĩnh Hoàng” đều là một. Theo Ô Châu cận lục thì địa danh Vĩnh Hoàng ra đời cách đây khoảng 500 năm, sau cuộc “Nam phạt” của vua Lý Thánh Tông vào đất Chămpa. Trong dòng người phía Bắc tiến vào Nam mở cõi, có ông Huỳnh Đại La, người xứ Hoan Châu cùng con trai đã dừng chân nơi này - một nơi chốn dẫu hoang sơ nhưng đất đai phì nhiêu, non sông cẩm tú, chim chóc muông thú ngập tràn, để sinh cơ lập nghiệp (dựa theo gia phả dòng họ Huỳnh, tức Hoàng). Và có lẽ, cái tên làng Huỳnh Công cũng chính xuất phát từ đây (cơ nghiệp nhà họ Huỳnh?). Sau đó người các dòng họ khác như Trần, Nguyễn, Tạ… lần lượt đến đây lập nghiệp, gây dựng nên làng quê trù phú. Từ làng Huỳnh Công ban đầu, ranh giới làng dần mở rộng về các hướng, hình thành thêm mười tám thôn khác nhau, tạo nên một xã Vĩnh Hoàng mênh mông. Năm 1955, Ủy ban hành chính Khu vực Vĩnh Linh tách Vĩnh Hoàng thành bốn xã Vĩnh Tú, Vĩnh Thái, Vĩnh Trung, Vĩnh Nam.
Vĩnh Tú - nơi có làng chuyện trạng Huỳnh Công, ngôi làng tiền khai khẩn là một trong những làng quê có cảnh sắc hữu tình và riêng có nhất ở Vĩnh Linh. Không cây đa, bến nước, sân đình… nhưng cái đặc sắc của đất Vĩnh Tú ở chỗ, ngay giữa đồng bằng lại có rừng nguyên sinh bao bọc với những rú trâm bầu chạy dài ngút tầm mắt. Đó là dấu tích còn lại của đại ngàn Trường Sơn sau bao thế kỷ con người khai phá. Những rú trâm bầu không liền dải mà đứt quãng thành từng miệt, được gọi là rú, với những cái tên ngây ngô kỳ lạ, rặt chất Huỳnh Công: rú trẹc, rú nở, rú trù, rú cấm… Nơi đây vừa có miền đất đỏ bazan phì nhiêu, có những đồng ruộng bùn đen nhánh, gọi là “nẩy”, có bàu nước thiên nhiên mát rượi, vừa có những triền cát trắng đến nhức mắt. Vĩnh Tú có thứ đặc sản mà ai ai cũng biết, đó là dưa đỏ, thứ dưa đặc trưng, đen trùi trũi, to vật vã, vỏ cứng như đá nhưng ruột đỏ tươi, mềm và ngọt thì “ríu cuống lưỡi”. Nhưng báu vật của miền quê này phải được nói đến là bàu Thủy Ứ. Đây là một bàu nước tự nhiên, sâu thăm thẳm và tuyệt đối chưa bao giờ cạn. Trên cao nhìn xuống, bàu Thủy Ứ trông như một tấm gương khổng lồ, lặng lẽ, êm đềm với cái màu nước bàng bạc đầy bí ẩn. Bàu Thủy Ứ không đơn thuần chỉ là một bàu nước mà thiên nhiên ban tặng, qua hàng thế kỷ gắn với cuộc sống nơi này, nó luôn mang trong mình nhiều giai thoại thần bí, những câu chuyện lạ kỳ gắn chặt với đời sống tâm linh và với cuộc sống thường ngày bao thế hệ người dân. Các cụ cao niên ở đây cứ khẳng định rằng sở dĩ người Vĩnh Tú - Huỳnh Công vừa thông minh, khoẻ mạnh, vừa luôn lạc quan yêu đời, lại anh dũng, quả cảm chính là nhờ ngay từ nhỏ đã được uống, được tắm thứ nước ngọt, mát và linh thiêng không nơi nào có được như ở đây. Bàu Thủy Ứ còn là một kho cá tôm bất tận, đến bây giờ vẫn có những cá thể to ngoài sức tưởng tượng, dân làng gọi bằng “cụ”: “cụ Đô”, “cụ Chép”, “cụ Rô”… , có “cụ” còn biết “gáy oang oác như gà”. Hôm tôi về nhà bọ, giữa miên man bao câu chuyện li kỳ quanh các giai thoại về bàu Thủy Ứ, về các “cụ”, chợt “bọ” tỉnh bơ bảo: mới bữa diếp tui câu được đực Tràu, nỏ phải hàng cụ mô nghe chú, rứa mà phải ì ạch vác về, sái lưng mất mấy ngày, mạ hắn đè ra chặt được… 19 khúc. Cả xóm ăn đoạ. Chừ chộ cá tràu là ớn như chi, có cho vàng tui cũng quẹt vô. Và dù đã chuẩn bị tinh thần nghe nói trạng bất cứ chuyện gì, tôi vẫn cứ trố mắt kinh hãi, sau định thần lại mới biết rằng mình đã bắt đầu lạc vào mê cung của những chuyện tếu táo, trạng nhưng thú vị và đầy bất ngờ.
Thiên nhiên xinh đẹp, đất đai màu mỡ, cảnh sắc hữu tình, thế nhưng mấy ai biết rằng xưa đất này nổi tiếng nghèo đến cùng cực. Nghèo bởi thiên tai, địch hoạ, bởi sự bóc lột đến tận xương tuỷ của bọn cường hào ác bá. Những thành ngữ như ăn cơm bữa diếp, đói rạ mắt, quần chó táp đứng hay câu ca buồn nhức nhối Áo rách chi lắm áo ơi/ Áo rách trăm chỗ không nơi rận nằm chính từ nơi này mà ra. Xưa có người con gái về làm dâu đất này, cơ cực quá đã phác hoạ chân dung mình thế này: Em về Vĩnh Tú làm chi/ Ruộng đồng thì ít, rú ri thì nhiều. Em về Vĩnh Tú làm giàu/ Chột môn thay mắm, sắn tàu thay cơm. Đó không phải là lời than thân trách phận mà đọc lên sao nghe tủi hờn quá đỗi. Nhưng kỳ lạ là đối mặt với cuộc sống khắc nghiệt, thiếu thốn trăm bề, thay vì mang tâm lý bi quan, tuyệt vọng; người dân Vĩnh Hoàng - Vĩnh Tú - Huỳnh Công lại thể hiện một phong cách sống rất khí khái, tự tin, lạc quan, yêu đời, sôi nổi. Đặc biệt họ có gien thông minh trời cho, có cảm quan nghệ thuật dân gian sắc sảo và kỹ năng trào lộng bậc thầy. Vì thế, những thứ ác nghiệt phải đối mặt hàng ngày, qua đầu óc hài hước và sự liên tưởng thú vị, họ đã biến thành những câu chuyện cười, dẫu đã bị phóng đại hàng trăm hàng ngàn lần, hoặc sẽ không bao giờ xảy ra, hoặc không bao giờ con người có khả năng làm được nhưng nghe vẫn thấy thật có lý có tình, biết là trạng mà cứ thấy chân thật. Trạng nhưng không phải là “nói láo” một cách hời hợt hay bông lơn dễ dãi mà luôn mang giá trị chân thực. Qua những câu chuyện trạng, thiên nhiên và con người Vĩnh Hoàng hiện ra thật đẹp, quê kiểng, dân dã, chất phác và hồn nhiên. Từ rú Trâm Bầu, bàu Thủy Ứ, ruộng đồng, vườn cây đến con cá, quả dưa, củ khoai, trái ớt… tất cả đều sinh chuyện, luôn gắn với một giai thoại độc đáo, hài hước, tưng tửng và mang tính bất ngờ thú vị.
Nghệ thuật đặc sắc trong cách dựng chuyện, kể chuyện và dẫn dụ người nghe của chuyện trạng Vĩnh Hoàng thể hiện ở chỗ người nông dân luôn sử dụng phương thức phóng đại đối với mọi chi tiết, sự vật nhưng rất thông minh là họ không sử dụng phép so sánh trực tiếp (Ví dụ: A to bằng B, C khoẻ như D…), mà lại sử dụng phương thức phóng đại gián tiếp, nên luôn đặt người nghe vào sự liên tưởng, phải tự “bắc cầu” trong suy nghĩ để hiểu cái chất “trạng” ẩn trong đó. Bọ nói về quả dưa đỏ bọ trồng được, lớn lắm, nhưng bằng hình ảnh đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, thằng cu ăn dưa bị gãy mấy cái răng vì nhai phải vỏ đạn; bọ nói về những quả ớt khổng lồ, gặp gió đung đưa rổn rảng, nên khi đi thăm đồng từ xa bọ tưởng… bầy voi vô phá, khua ngà lung tung. Một củ sắn để lâu ngày quên đào lên, con trâu bờm của bọ dẫm phải sụp vô trong ruột, mắc kẹt luôn, thế là từ trâu đen thành trâu trắng vì bột sắn phủ lên kín người… Một điều kỳ lạ nữa trong cách kể chuyện trạng Vĩnh Hoàng là mọi vật đều bị bọ biến thành đực hết: “đực rạ” (cây rựa), đực bò, đực trâu, đực tràu (con cá lóc), đực coọc (con cọp, hổ), đực nhà, đực tàu bay Mỹ, đực trốôc cúi (cái đầu gối), thậm chí là đực… mệ (người phụ nữ lớn tuổi); mà thực ra những thứ này phải gọi là cái, là con. Thế nhưng cái từ “đực” nặng trình trịch và không lấy gì làm tế nhị ấy khi đặt trong câu chuyện và cách kể của bọ lại nghe rất thích thú, rất đặc trưng. Đó chính là những nét đặc biệt riêng có của chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Tính cốt lõi và xuyên suốt trong toàn bộ kho tàng chuyện trạng Vĩnh Hoàng là: khác với tiếng cười đả kích, phê phán những thói hư, tật xấu, cái ngu dốt, trọc phú của bọn tham quan, quý tộc như chuyện cười ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, chuyện về bác Ba Phi, Ba Giai - Tú Xuất ở Nam Bộ; khác với tiếng cười chế nhạo mang tính trào phúng, châm biếm trong chuyện cười Ga-Brô-vô - cũng là một làng kể chuyện trạng nổi tiếng của đất nước Bun-ga-ri xa xôi đã kết nghĩa với làng Vĩnh Hoàng; chuyện trạng Vĩnh Hoàng lại mang tính ca ngợi những điều thật bình dị của cuộc sống hàng ngày, không hề có nhân vật phản diện, không có cái xấu xa, cái ác cần lên án, đả kích, chê bai; ở đó chỉ có những con người thật đáng yêu, những hành động, sự vật thật ngộ nghĩnh, được đặt giữa một thiên nhiên tươi đẹp và bình dị, nhưng lại bật lên được tiếng cười sảng khoái. Nghệ thuật của chuyện trạng Vĩnh Hoàng đặc sắc là vậy. Có thể nêu ra đây một vài câu chuyện tiêu biểu trong kho tàng chuyện trạng Vĩnh Hoàng kể không bao giờ hết này: Một bụi khoai lang quá tươi tốt, khi thu hoạch người dân lần theo ngọn của nó, đi cả buổi, cuối cùng mới biết mình đã ra đến đất… Quảng Bình (chuyện Ngọn khoai lang bò hai tỉnh). Chuyện dân quân làng Huỳnh Công đào địa đạo, Khu đội Vĩnh Linh gọi lên báo cáo kết quả, họ bảo không biết bao nhiêu mà kể, chỉ biết rằng khi đào xong thì gặp mấy anh to cao, râu ria xồm xoàm, nói xì xồ xì xà, hỏi ra mới biết là gặp con cháu của… Fidel Castro, nghĩa là đào đến đất nước Cu Ba rồi (chuyện Địa đạo xuyên lục địa). Quả dưa đỏ to đến nỗi quạ khoét vỏ chui vô ăn, bọ ngồi bên, cứ thò tay vô “bắt bọp, bắt bọp” (giết) mỏi cả tay, từ sáng đến tối vẫn không hết quạ (chuyện Bắt bọp). Bọ chở củ sắn đi chợ thì bị kiểm lâm bắt vì tội dám chặt gỗ đem đi bán mà chưa xin phép (chuyện Đi bán sắn bị kiểm lâm bắt). Đi cày ruộng khuya, nhập nhèm sáng tối thế nào đó, bọ cải luôn ông cọp với bò để cày đôi, tưng bửng sáng bọ mới phát hiện ra vì “không biết răng hôm ni đôi bò trở chứng lồng dữ ri, rứa là bọ tới tháo cày, ông cọp sợ cong đuôi chạy bán sống bán chết vô rú” (chuyện Cải cọp cày). Đi cắt tranh về lợp nhà, khi đem phơi “chộ” mấy cái đuôi cọp lẫn lộn trong đó, “máu me một vằn hai vện trông mà gớm ghiếc, ròi lằng (ruồi, nhặng) bu đen” (chuyện Bứt tranh bứt nhầm đuôi cọp). Vợ chồng nọ đi trực dân quân, tranh thủ ghé về hầm coi mấy đứa nhỏ ngủ ngáy thế nào, lần lượt sờ đầu thấy ba đứa con đều mát mẻ, riêng đứa ngoài cùng, không biết con cái nhà ai lại lạc vô nằm chung, thì đang sốt nóng hầm hập. Bật đèn lên coi thì hoá ra là… một quả bom khoan máy bay Mỹ vừa thả xuống, không biết cách chi lại chui tọt vô hầm ngoan ngoãn nằm với mấy đứa trẻ. Vậy là hai vợ chồng lặng lẽ khiêng “đứa con dư” ra vứt ngoài vũng trâu nằm (chuyện Đứa con dư). Đi làm đồng, thấy “đực” trực thăng “vè vè liệng liệng” sát rạt trên đầu, tức máu, bọ dùng… cuốc khoèo cẹng (cánh) nó xuống, giằng co một hồi, bọ mệt, thả cuốc, máy bay mất đà, bổ chúi vô độông cát, tởn đến tra (già) cũng không dám mò tới nữa (chuyện Vít cổ tàu bay). Ấn tượng nhất là nghe bọ kể chuyện Cá đô bảy món, xin thuật lại nguyên văn để bạn đọc cảm nhận được sự hóm hỉnh, tếu táo nhưng khá logic của câu chuyện này: Rảnh rỗi, bọ xách cần câu ra bàu Thủy Ứ kiếm chút cá cải thiện. Bọ móc mồi lấy đà quăng cần một phát, ai dè chạc (dây) câu chạy ro ro, không xuống bàu mà qua tận bên rú Hàn. Đang nghĩ, lỡ hắn mắc cột cây thì ai qua gỡ cho, thì ở mô một lạo chuốc chuốc (chim cuốc) đã lao ra đớp mồi chạy, chưa được mấy bước thì một ả chồn chắc rình rập nãy giờ, chộp luôn. Bọ xâm mắt nhưng cũng mừng thầm, không câu được cá thì có chuốc chuốc với chồn rồi. Rứa là bọ bình tĩnh, trặc (giật) cần câu, lôi cả hai con xuống bàu. Mới được một đoạn thì, oa chà, từ dưới bàu, một đực tràu đại chang (to lớn), trốôc (đầu) nổi lên đen thui như cái nồi bung, lao lên ngoạm luôn ả chồn lặn mất tăm. Hoảng quá, bọ trặc cần, vật chắc với đực tràu. Hắn kéo, bọ trì, thi gan rứa, từ sáng đến chiều. Chạc cước câu căng như dây đờn (đàn), gió thổi qua kêu tửng từng tưng. Cuối cùng đực tràu đoạ, bọ lôi lên bờ, kéo về nhà, bọ lấy cuốc xợt (chắn) vảy, cho mỗi người trong xóm một cái làm quạt… Bọ mổ bụng đực tràu lôi ra ả chồn, mổ bụng ả chồn lôi ra lạo chuốc chuốc, mổ bụng lạo chuốc chuốc thì ôi thôi lủ khủ là cá, tôm, tép... cả rổ. Vị chi hôm đó nhà bọ mần được bảy món: tép rang, cá rán, lòng xào sả, chồn giả cầy, thịt hong, cháo lòng và lẩu (chuyện Cá đô bảy món). Rõ ràng trên thực tế, chim cuốc thường ăn cá, ăn tôm, chồn ăn chim, ăn chuột,… nhưng không thể có sự ngẫu nhiên kỳ lạ để cùng một lúc bọ tóm được nhiều đến vậy. Chưa kể đến chuyện không thể có “đực tràu” nào to như thế (nuốt cả con chồn) và khoẻ như thế (vật nhau với người). Thế nhưng cả câu chuyện, qua lời bọ kể, lại là một sự hợp lý hợp tình nghe thật… sướng lỗ tai.
Nếu cái thật của người dân làng Thuỷ Ba (Vĩnh Thuỷ) với tài giăng ải bắt cọp sống có một không hai, cái thật của làng Tùng Luật là con người nơi đây được trời phú cho chất giọng dân ca mượt mà hiếm thấy, thì cái thật trong những câu chuyện trạng Vĩnh Hoàng là từ cuộc sống khổ cực, lam lũ, người dân ở đây đã tự hun đúc cho mình một bản lĩnh vững vàng, sức mạnh chế ngự thiên nhiên, cương trực, hồn nhiên, lạc quan và luôn luôn yêu đời, lấy tiếng cười để xua đi những cực nhọc, vất vả, hiểm nguy. Đó như một liều doping tinh thần thượng hạng để người dân nơi này động viên nhau vượt qua gian khổ.
Tuy nhiên, có một yếu tố vô cùng quan trọng để chuyện trạng Vĩnh Hoàng không lẫn vào đâu được và để không phải ai cũng có thể kể chuyện trạng cho đúng chất trạng, đó là việc sử dụng phương ngữ độc đáo của vùng này. Giọng nói của người dân Vĩnh Hoàng rất nặng, cách phát âm luôn mất thanh ngữ, chỉ sử dụng thanh hỏi (?), ngữ điệu thay đổi nhanh ở đầu câu, kéo dài ở cuối câu, kết thúc mỗi câu luôn sử dụng các thán từ: hấy, há, ui dà, đó nơ, đó tê… nhấn nhá rất đặc trưng, âm điệu lên cao xuống thấp trầm bổng theo từng tình tiết câu chuyện, cùng với thái độ, sự biểu cảm trên nét mặt, kết hợp các cử động về chân tay, cách di chuyển, dáng điệu… tạo nên sự tổng hoà của những câu chuyện trạng thật ngộ nghĩnh, dân dã với sức hút kỳ lạ lôi cuốn người nghe. Vì điều đó nên không phải ai ở làng Huỳnh Công cũng có thể kể được chuyện trạng. Cách đây vài chục năm đã hiếm, còn nay thì chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay những nghệ nhân này. Kể chuyện trạng hay phải là “bọ” chính hiệu sinh ra và lớn lên nơi này, với chất giọng ồ ồ khàn khàn vì nước chè đặc và thuốc vấn sâu kèn, với cách sử dụng ngôn ngữ địa phương nhuần nhuyễn và la liệt trong câu chuyện. Chuyện của bọ nhất quyết phải có những eng, ả, đực, lạo, hấy, há, răng, rứa, mô, tê, ri, cấy dôông (vợ chồng), cơn (cây), cươi (sân), rọng (ruộng), đàng (đường), nác (nước), lả (lửa), đòn triêng (đòn gánh), keng (canh), trôốc (đầu), rọt (ruột), cẳng (chân), mẹng (miệng), trốôc cúi (đầu gối), cùn (quần), đùi, lẻ (gậy, gộc), lịp cời (nón), giăng nạp (bờ rào), bạng chắc (đánh nhau), chạc (dây), lái (lưới), ló (lúa), bù (quả bầu), bín (quả bí), chứa (quả thơm, dứa), bầy choa (chúng tao), lộ mô (chỗ nào), ròi (ruồi), lằng (nhặng), tắn (rắn), trùn (giun đất), ếc (ếch), náng (nướng), lọoc (luộc), tra (già), nậy (lớn), chộ (thấy), côi (trên), đưới (dưới), đoạ (mệt)… bày ra tràng giang đại hải mới thực sự đánh đố người nghe. Những đoàn khách ngoại tỉnh đến Vĩnh Linh luôn muốn nghe chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Khi về hỏi họ hay không? Quá hay. Vui không? Quá vui, nhưng… chẳng hiểu gì hết. Bắt được thằng phi công Mỹ nhảy dù, bọ dân quân hô to: Cổi lịp cời! bỏ ốông chối xuống!, thằng Mỹ lắc đầu lia lịa, bọ quát tiếp: Mi vèng côi trời có chộ bầy choa mần chi đưới ni khôông? Thằng Mỹ ngẩn tò te. Bó tay. Bọ hỏi thế thì đến bố nó sống lại cũng không hiểu nổi! Tạm dịch: Cởi mũ, bỏ điện đàm xuống! Mày bay trên trời có thấy chúng tao làm gì dưới này không? Nhưng phương ngữ đặc trưng của người Vĩnh Hoàng và của chuyện trạng Vĩnh Hoàng là phải vậy, càng đậm đặc ngôn ngữ địa phương càng hay.
Trong kho tàng hàng ngàn câu chuyện trạng Vĩnh Hoàng - Huỳnh Công có thể phân làm 3 dạng: những câu chuyện trạng liên quan đến quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt thường ngày thuộc về giai đoạn mới hình thành làng, những câu chuyện trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và những câu chuyện sáng tác mới sau này vào thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, trải qua thời gian, chuyện trạng Vĩnh Hoàng đã và đang dần mai một và nhạt về bản sắc. Những câu chuyện đặc trưng nhất cũng đã “tam sao thất bản”, khó tìm được nguyên gốc. Người kể chuyện cũng dần mất chất “trạng” trong từng lời văn, giọng điệu. Những năm gần đây, UBND xã Vĩnh Tú đã rất nỗ lực trong việc phục hồi và phát triển nét văn hoá đặc sắc này. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của các tác giả trong và ngoài địa phương trong việc sưu tầm, biên soạn, tập hợp lại những câu chuyện trạng dưới dạng những văn bản chính thức, ít nhiều cũng đã đưa chuyện trạng Vĩnh Hoàng dần sống lại. Hàng năm, xã Vĩnh Tú đều tổ chức Hội thi kể chuyện trạng vào dịp đầu Xuân, thu hút sự tham gia và quan tâm của rất nhiều người. Gần đây, bác nông dân Trần Hữu Chức - một bọ thứ thiệt trong số ít các bọ có thể kể chuyện trạng hay đã sáng tạo ra một cách làm độc đáo để đưa chuyện trạng đến gần hơn với mọi người, đó là vẽ tranh mô phỏng nội dung những câu chuyện trạng. Những bức tranh bọ Chức vẽ dẫu chưa đạt giá trị về nghệ thuật hội hoạ song cũng thể hiện được thần thái, hồn vía của câu chuyện chỉ qua một vài nét cọ vui tươi. Điều đáng phấn khởi là từ Vĩnh Tú đã bắt đầu sản sinh những câu chuyện trạng của giai đoạn hiện nay. Như về cây cao su, một thế mạnh mới về phát triển kinh tế của xã - đã có chuyện anh cán bộ xã lên huyện họp, giữa đường bị bể ruột bánh xe máy, liền nhấc cả bánh xe nhúng vô chén mủ cao su trong vườn, “rứa là chạy ngon ơ ra Hồ Xá, vèng mấy vòng quanh xã nữa mà nỏ chộ (không thấy) hư hỏng chi thêm” chuyện thằng cu con khuya đi đổ mủ cao su, sáng về nửa người phía dưới bạch, nửa người trên thì đen. Hỏi vì răng, bảo mủ chảy nhiều quá, đầy cả vườn, lội vô ngập ngang lưng quần mới ra ri đây. Hay mẫu chuyện đối thoại thú vị bên bàn rượu giữa một người làng Huỳnh Công và người làng Thuỷ Ba (làng bắt cọp). Người làng Thuỷ Ba bảo hôm trước làng tao bẫy con cọp, loay hoay thế nào nó sẩy chuồng, chạy một mạch về đồng bằng trốn, không khéo hết sức rồi nên bọ nhà mi mới bắt được nó, cải vô cày với bò đấy chứ. Người làng Huỳnh Công cãi, mần chi có chuyện nớ, bọ tau kể lúc đầu cải nó cày rọng (ruộng), vạt đầu hắn còn khoẻ, nó đi băng băng, lồng lộn dữ lắm; càng về sau càng đuối, thấy hắn đoạ quá (mệt quá), bọ tau mới thả ra. Sợ quá chạy tót lên rú nên làng mi mới bẫy được, chứ hắn còn khoẻ như lúc sớm thì có trời mà bắt…
Màu đất đỏ, rừng cây xanh, mênh mông bàu nước soi bóng những triền cát trắng - làng chuyện trạng Vĩnh Hoàng hiện ra thật gần gũi và thơ mộng. Nơi ấy, những câu chuyện trạng vẫn được tiếp tục kể và tiếp tục sáng tạo, tựa như mạch ngầm của rú Trù quê hương tuôn chảy đã bao đời, để bàu Thủy Ứ không bao giờ cạn, để những rặng trâm bầu mãi xanh ngát. Và, để một trưa hè nắng đổ lửa, bọ phe phẩy quạt nan, ực một ngụm chè xanh đắng chát và thủng thẳng kể chuyện trạng. Những câu chuyện nghe không bao giờ chán, không biết cũ theo màu thời gian và không một thứ văn hoá lai căng nào đủ sức chen lấn hay đánh bật khỏi đời sống văn hoá tinh thần của người dân nơi này.
Chuyện trạng Vĩnh Hoàng thực sự là một báu vật sống trong đời sống văn hoá của Vĩnh Linh - Quảng Trị.
Vĩnh Linh, tháng 4-2014
T.T.H




