Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Cồn Cỏ ngoan cường

D

ốc sức làm xong hệ thống chiến hào và công sự, có thể coi Cồn Cỏ đã dàn xong thế phòng ngự. Về lực lượng, không chỉ có súng phòng không mà còn có cả pháo mặt đất để đánh tàu, đặc biệt có cả bộ binh, sẳn sàng đánh trả khi chúng đặt chân lên đảo.

Về vũ khí cũng được trang bị khá đầy đủ. Trước có hai khẩu ĐKZ, bây giờ thêm hai là bốn khẩu. Cối 75 có hai khẩu, giờ thêm năm là 7 khẩu. Pháo 85, có một khẩu, giờ thêm sáu là 7 khẩu. Súng phòng không đã trang bị khá đầy đủ, không phải mang ra thêm. Các kho đạn cũng đã đầy ắp. Không sợ thiếu.

Về lực lượng, đáp ứng đúng yêu cầu của đảo. Ban chỉ huy đảo cho lính luyện tập đa năng. Anh là lính của binh chủng này có thể sẵn sàng là lính của binh chủng kia, nên hổ trợ cho nhau dễ dàng. Trong tình huống khó khăn nhất, các ổ phòng ngự không bị để trống.

Tinh thần của đảo là tinh thần quyết chiến quyết thắng. Nguyễn Ngọc Thanh cầm vũ khi ra công sự nữa, lính càng hồ hỡi, tin tưởng.

Giúp phần đẩy mạnh khí thế của đảo, đất liền đưa ra đoàn văn công gồm: Phan Ngạn, Ánh Dương, Lê Phu, Thanh Cảnh, Kim Huệ... Phan Ngạn là người đã giúp Ngọc Cừ hoàn chỉnh về âm nhạc cho bài “Con cua đá”, trở thành bài hát truyền thống của đảo. Đoàn quay phim ra có ba người: Lê Bình Lâm, Phan Hanh, Dương Phước An. Những chiến công của đảo, lập tức được đưa ngày lên truyền hình. Cũng để đưa tin nhanh, cập nhật, các anh Khoa, Phú, Sen, bám chắc từng trận địa, phản ánh tinh thần Cồn Cỏ kịp thời, đưa thông tin nhanh, giúp nhân dân cả nước hiểu thêm về Cồn Cỏ, cổ vũ cho Cồn Cỏ. Văn nghệ sĩ có các anh Hồ Phương, Nguyễn Khải, Sĩ Giang, Quang Thọ. Người thì viết văn, người thì vẽ, một mặt động viên tinh thần lính đảo, một phần quan trọng là các anh đã tôn vinh Cồn Cỏ như nó đã sống và chiến đấu như thế nào.

Cồn Cỏ sẵn sàng đối đầu với địch.

Trần Văn Thà đặt chân lên đảo Cồn Cỏ ngày 25/5/1967, anh bắt tay ngay vào kế hoạch phòng ngự, đúng như thượng tá Hoàng Đởm và trung  tá Đặng Kình giao: “Đồng chí ra để giữ đảo chứ không chi bắn mấy cái máy bay”. Trần Văn Thà cùng ban chỉ huy đảo quán triệt tinh thần ấy, không hề có một mảy may lơ là. Lính đảo luôn trực ở trận địa, chỉ chờ có lênh là phát hỏa.

Máy bay bay trên cao, và lượn vòng quanh đảo như chúng mới trinh sát. Từ hôm anh Thà ra chưa có cuộc chạm trán nào.

Ngoài khơi tàu địch cũng lảng vảng từ xa. Đêm đến chúng lượn quanh, chốc chốc lại bắn một quả vào đảo như để thăm dò phản ứng của đảo như thế nào. Song Trần Văn Thà vẫn im lặng, bám sát từng ngọn sóng, từng tiếng máy nổ để đợi một thời cơ tuyệt nhất.

Cho đến đúng một tháng sau khi Trần Văn Thà đến đảo, đó là ngày 20/6/1967 chập tối đã nghe tiếng tàu chạy ngoài khơi, ống nhòm nhìn rõ đó là tàu Vơ-Đet. Nó chạy ngoài xa cách đảo chừng 700m. Cự ly ấy chưa hợp lý để phát hỏa, đảo im lặng bám sát vào chiếc Vơ-Đet. Một lúc sau trời tối, không còn nghe tiếng máy của tàu và đêm cũng không biết nó đi đâu. Chỉ biết đêm nà nó không bắn.

Trần Văn Thà đi kiểm tra lại các trận đại phòng ngự của 2 khẩu ĐKZ, hai khẩu 12.7 ly, 2 khẩu 82. khẩu 85, và giào quyền chỉ huy cho Nguyễn Đức Tuân: “Mình rất muốn Đức Tuân chỉ huy thắng trận đầu tiên từ khi mình ra đảo”. Đức Tuân trả lời: “Anh cứ tin ở tôi. Anh em chiến sĩ cũng muốn thắng trận này lắm, nên suốt cả tuần nay chúng lởn vởn ngoài sa, không dám vào gần. Chỉ bắt ít phát như để  thăm dò ta thôi”. Trần Văn Thà gật đầu: “Tôi rất tin”

Đêm ấy trăng mờ mờ, ngoài xa khó thấy, nhưng gần thì có thể thất. Mất hút tàu vào lúc tối nhưng anh em vẫn không ngơi cảnh giác.

Về khuya bỗng thấy tàu lặng lẽ vào sát đảo. Thì ra để đánh lừa ta, chúng cho nổ máy ầm ĩ để hết anh em Cồn Cỏ về tiếng máy ấy, rồi mất hút để anh em mất cảnh giác. Chiếc Vơ-Đét vào phía Cửa Tùng rồi tắt máy, cứ cho tàu lặng lẽ trôi theo sóng, trôi theo gió đến gần bờ đảo

Nhìn thấy ngon quá. Đức Tuân hỏi Trần Văn Thà:

- Sao! Đánh được chưa?

Trần Văn Thà ra lệnh:

- Đánh!

Sau tiếng Tuân hô: “Bắn”, cả ĐKZ và cối 82, 85 cùng lúc nổ súng về phía tàu. Một chiếc tàu trúng đạn, bốc cháy. Lửa cháy, mới nhìn rõ, không phải chỉ một tàu Vơ-Đét mà ba chiếc.

Biết không còn thế bất ngờ, một chiếc trúng thương rồi, đạn vẫn tiếp tục bắn ra. Thế là cả ba chiếc Vơ-Đét cũng kéo nhau chạy. Trước khi tăng tốc ra khơi, chúng bắn mấy loại đạn thị uy, rồi chạy thẳng.

Trần Văn Thà với tư cách là trưởng đảo, đánh trận đầu kể từ khi đặt chân đến đây, Thà mừng lắm. Chiến sĩ càng tin cậy vào hệ thống phòng ngự của mình, tin cậy vào ban chỉ huy mới của đảo.

Thà bắt tay Đức Tuân:

- Mình rất cảm ơn ông. Hãy cùng toàn đảo phát huy tinh thần cảnh giác và khí thế tấn công này nhé!

Tuân đáp:

- Phải nhất định thế thủ trưởng.

Trong trận đánh ngày 20 tháng 6 có ba phóng viên chứng kiến, đó là các anh Khoa, Phúc, Sen. Mấy ngày sau các anh vào đất liền để lên báo chiến công ngày 20 tháng 6. Không biết các anh vào, gặp các thủ trưởng Bộ tư lệnh mặt trận thế nào, mà ngày 15 tháng 7 ông Đặng Kình điện ra cho Trần Văn Thà một bức điện, làm cho anh choáng váng. Bức điện chỉ có một câu ngắn: “Làm người chỉ huy không được coi thường mạng sống của anh em như thế”.

Trần Văn Thà cầm bức điện đi đi lại lại trong hầm chỉ huy suy nghĩ mung lung. Việc mình đánh địch, và việc chúng bắn lại là chuyện bình thường nơi chiến trận. Vả lại trận này chúng bắn để rút chạy. Đó cũng là phản ứng thường tình, định dùng súng để cản sức tấn công của lính đảo. Vả lại súng địch bắn lại, không làm hỏng một khẩu súng, bên ta không một chiến sĩ nào xước da. Như vậy tại sao lại là “coi thường mạng sống của anh em”? Người chỉ huy cấp trên đánh giá cấp dưới của mình như vầy là hồ đồ, là thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo. Trần Văn Thà đưa bức điện ấy ra trước ban chỉ huy, cùng các sĩ quan kiểm tra lại xem chúng ta có thiếu sót gì, sơ hở gì, mà để cấp trên phê bình nặng nề như vậy?

Các sĩ quan chỉ huy cũng ngớ người vì bức điện. Các anh nhìn nhau. Rất may ban chỉ huy rất mạnh, không có một kẻ cơ hội khom lưng nịnh trên, nên anh em nhất trí ngay:

- Chúng ta coi trọng sinh mệnh lính, nên dốc sức ra làm hệ thống chiến hào, công sự, chỗ nào cũng trồng dứa dại để nguỵ trang. Ngay cả chỉ huy cùng bếp hậu cần, thông tin đều đưa ra chỗ bất ngờ nhất, phải chăng chính những việc làm ấy mà không quan tâm tính mạng đồng đội.

- Cũng không phải chỉ huy xây hầm tốt, không quan tâm tới lính, hầm hố trận địa sơ sài. Tất cả đều lấy tiêu chuẩn an toàn để thiết kế. Bất cứ giờ phút nào, bất cứ đứng chỗ nào trên đảo khi có bom đạn là có chỗ tránh an toàn.

- Đúng, ta đánh tàu chạy, chúng có phản ứng lại. Đó là điều tất nhiên. Song bên ta không có hy sinh, sao lại gọi là “coi thường mạng sống anh em”.

Thà mừng vì mỗi ý kiến phát biểu của anh em chỉ huy đều giống như cách phân tích của cá nhân anh khi nhận được bức điện.

Ban chỉ huy nhất trí điện trả lời ông Đặng Kình. Bức điện cũng thật ngắn: “Ban chỉ huy Cồn Cỏ đề nghị trung tá Đặng Kình giải trình bức điện cho anh em biết cụ thể sự coi thường tính mạng của đảo. Nếu không hiểu nhau thì rất dễ sinh sự.”

Điện xong, ban chỉ huy cử ngày anh Ngọc Cừ, chính trị viên phó đảo vào ngày đất liền gặp bộ tư lênh mặt trận. Nhiệm vụ của Ngọc Cừ là hỏi tại sao. Lý do tại sao. Lý do nào mà Đặng Kình lại nói câu nói đó.

Nội dung của anh Ngọc Cừ nói lại với Đặng Kình là: Chúng tôi không làm gì xúc phạm tới tinh thần, thể xác, nhân phẩm đồng đội. Bức điện là của ban chỉ huy gởi. Riêng anh Thà không nói gì. Trường hợp nào mà nói chúng tôi coi thường tính mạng anh em. Có gì coi thường hay không, trả lời cho chính xác. Vì đây là vấn đề xương máu của anh em trên đảo.

Ngọc Cừ truyền đạt xong tinh thần ấy, anh làm một số công việc khác nữa rồi về đảo.

Đến tận ngày 15 tháng 1 năm 1967, đảo Cồn Cỏ mới nhận được điện trả lời của trung tá Đặng Kình: “Bức điện của tôi gởi cho anh Trần Văn Thà ngày 15 tháng 7 năm 1966 có những lời lẽ không đúng. Việc xử lý của các đồng chí là chính xác.”

Trần Văn Thà và ban chỉ huy nhận điện xong thở phào.

Trên bom, dưới đạn, đảo sống căng thẳng từng ngày mà bị hiểu lầm như vậy, thật buồn. Sau này mới lơ mơ biết rằng các anh nhà báo vào nói chuyện địch bắn pháo phản kích sau khi tàu bốc chay, không biết do người nói không rõ ràng hay người nghe nhận thức không đúng nên đã hiểu lầm nhau.

Dẫu sao, thấy trên không thân trọng trong đánh giá, đã điện vào, lại cho người có trách nhiệm vào trình bày cụ thể như vậy là rất tốt. Nên sòng phẳng, không nên vì cấp trên mà quỵ luỵ. Phẩm chất ấy đúng là phẩm chất người lính.  Và càng hay hơn nữa là cấp trên thấy mình sai, dám giải bầy, dám xin lỗi như vậy mới đúng  nhân cách người lãnh đạo.

Đó chính là sức mạnh của quân đội ta.

Chiến đấu ở Cồn Cỏ, không thể không nhớ tới đơn vị thông tin hữu tuyến. Gọi đơn vị là để nói rõ phân cấp khí tài. Sự thực tổ hữu tuyến chỉ có mấy người do Hà Xuân Tràng chỉ huy.

Đường dây điện thoại bắt từ sở chỉ huy đảo, dẫn đi khắp các trận địa chằng chịt như một mạng nhện. Bom và pháo nổ, chỉ huy gọi đứt đường dây ở trận địa nào không còn liên lạc được nữa, dù lúc đó là giữa trưa hay giữa đêm tối, dù lúc đó bom đạn trên đảo có nguy hiểm vô chừng đến tính mạng thì anh em cũng chia nhau đi mà lần, tìm cho được chỗ dây đứt àm nối lại.

Hà Xuân Tràng tâm sự:

- Lúc đi nối đường dây không kể gì đến thân mình, nhất là trong đêm tối trong làn pháo bầy dữ dội, gió bay mất cả mũ, chân tuột dép và ở Cồn Cỏ còn một vận hạn này nữa, đó là bất cứ đám lá nào cũng có rắn lục. Mà rắn lục đã cắn vào, chậm một chút là chết ngay. Vậy mà tất cả đều không cản được bước chân linh thông tin hữu tuyến.

Hà Xuân Tràng vẫn bức rức:

- Đã vậy tổ hữu tuyến chỉ có năm người. Nhiều lúc không đủ người để chạy các tuyến. Có lúc để cướp thời gian cho chi huy làm việc với trận địa, vừa tìm được hai đầu dây đứt, hai tay cầm hai đầu dây, thân mình thay thế một đoạn dây dẫn. Máy quay điện dẫn điện đến làm tê cả người, vẫn phải chịu đựng. Hết phiên làm việc lúc ấy mới vắt dây để nói lại đoạn dây đã đứt. Rất may nhờ có chiến hoà, anh em hữu tuyến lợi dụng chiến hào để rải dây. Nhờ đó giảm hẳn những chỗ đứt do bom đạn. Bây giờ đôi lúc ngồi với nhau vẫn thấy kinh hoàng. Không biết làm sao lúc ấy mình làm được những việc giống như thần kỳ.

Những vết sẹo trên hai bàn tay Tràng còn đó, nhân chứng cho những cuộn dây là vẹt da thịt ở tay anh. Người lính ngoan cường quên cả máu xường là vậy.

Cái chết rình rập từng phút là tổ công binh trên đảo. Cũng chỉ có một nhóm người, quá nửa tiểu đội một chút, mà chỗ nào cũng có mặt. Từ xuây cốt pha sở chỉ huy tới đánh mìn những khối đá lớn ngăn chiến hào. Cho nên khi máy bay thả mom, phải quan sát kỹ xem bom rơi vào những nơi nào, quả nào đã nổ và quả nào chưa nổ. Những quả chưa nổ, tìm tận nơi cắm cờ hiệu và phân công người canh gác ngay.

Cảnh tháo bom mới thật là uy nghi. Một chiến sĩ công binh ngồi lên đỉnh quả bom. Cùng lúc ấy một chiến sĩ công binh dùng kim đặc chủng tháo kíp bom. Kíp bom đã được tháo rời quả bom, bom thành bom câm.

Ai cũng lo lúc hai người đang loay hoay, nếu bom nổ, hai người tan xác là cái chắc. Nhưng rất may, các chiến sĩ công binh phá bom giành nhau với kíp nổ từng giây, nên không có quả nào nổ ở cái phút nguy hiểm ấy, kể cả những quả bom rơi xuống nước, các chiến sĩ phải lặn xuống sâu tháo kíp.

Chính có những thành tích xuất sắc ấy nên hai chiến sĩ công binh Cao Văn Khang và Cao Đạt được phong tặn danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Một đại điểm nữa trên đảo rất lặng lẽ nhưng thất anh hùng. Đó là trạm phẩu của đảo. Cả đảo có một bác sĩ Huỳnh Lê, hai y sĩ Thành Lê và Lẫu. Chiến sĩ bị thương được đưa ngày đến trạm phẩu. Những vết thương nhự có thể nấn ná, những thương binh nặng phải mổ ngay. Trong hầm không có điện. Bác sĩ rạch dao mở dưới ánh sang của cây đèn pin. Hết thuốc tê, chiến sĩ phải cắn răng chịu đau. Như trường hợp chiến sĩ Nga, do bác sĩ Thành Lê trực thiếp mổ. Anh bị cắt ba đoạn ruột, không có thuốc mê, song Nga không hề hé răng kêu than một lời.

Chiến sĩ Cồn Cỏ không chỉ có khí phách trên trận đại mà ngay dưới những nhát dao mổ các anh cũng tỏ ra rất can trường.

Những người chỉ huy Cồn Cỏ thì khỏi nói. Từ đất liền ra, với tinh thần giữ một mảnh đất thiêng của Tổ quốc, các anh đã nghiên cứu hết sức tỉ mỉ thế trận của đảo. Chỗ nào đặt súng phòng không hữu hiệu nhất, chỗ nào đặt pháo mặt đất có thể làm khiếp vía kẻ thù. Người chỉ huy nào cũng quả cảm. Trường hợp Nguyễn Xuân Hưởng là một ví dụ cụ thể. Anh đợi phút đối mặt trực tiếp với máy bay mới nhả đạn. Lần ấy, cũng do dũng cảm quá anh đợi máy bay đến thật gần. Cùng trong một tích tắc, hai bên nổ súng, Hưởng nổ súng chậm mấy giây thôi, anh đã trúng đạn, hy sinh.

Trần Văn Thà cùng ban chỉ huy đi khảo sát trận địa, đánh giá, nếu bộ binh hay thám báo của địch có lên đảo thì chỉ có thể đổ bộ vào địa điểm Hà Nam. Các anh giao ngay cho Vũ Kỳ chỉ huy mặt thiết yếu này. Vũ Kỳ cho đào công sự đúng tinh thần đánh bộ binh, cho người canh gác suốt ngày đêm.

Hôm ấy là ngày 11 tháng 7 năm 1966, chiến sĩ trinh sát không hề nghe thấy tiếng tàu chạy. Không ngờ nó đi rất êm từ Vịnh Mốc ra, thả trôi lững lờ ba tàu biệt kích. Người gác phân 23 giờ đam ấy là Đạt. Đạt thấy bóng một người từ phía biển đi lên. Lẽ ra anh phải cầm súng lên đạn, để nếu kẻ kia là nghi ngờ thì nổ, đằng này súng anh đặt dướt đất bên mình, thấy bóng người, Đạt đã mất cảnh giác, anh hỏi: “Ai?” lập tức bị biệt kích nổ súng trước. Đạt bị thương vào tay. Nghe tiếng súng, anh em chạy ra cứ hướng biệt kích vào, bắn AK. Biệt kích chạy hết xuống tàu. Ba chiếc tàu vọt ngay ra biển.

Ban chỉ huy về mũi phục kích biệt kích, họp, rút kinh nghiệm, phê bình: Ta trong thế chủ động hoàn toàn mà lại bị động. Như vậy là thiếu tinh thần cảnh giác, kỷ luật chiến đấu chưa đến nơi đến chốn. Vũ Kỷ nói: Chuyện đã rồi, đây là khuyết điểm của tôi, tôi nhận khuyết điểm. Lương Văn Thêm không chịu: Sao lại đã rồi. Thiếu kỷ luật đến thế là cùng. Đề nghị phải có kỷ luật xứng đáng.

Cồn Cỏ đã chiến đấu hết sức ngoan cường. Đã đánh gần một nghìn trận lớn nhỏ. Bắc rơi 48 máy bay. bắn cháy 17 tàu địch

Bác Hồ đã gửi thư khen:

“Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận

Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ”

Đảng Cộng Sản Nhật gỏi tặng Bác một chiếc radio, Bác không dùng, mà gởi tặng các chiến sĩ Cồn Cỏ. Tư lệnh mặt trận giao cho anh Xuyên mang ra: “Chỉ trừ khi anh mất thì chiếc radio này mới mất được. Anh sống mà radio mất thì sẽ kỷ luật nặng.”

Anh Xuyên đã mang radio ra đến đảo. Nguyễn Hữu Tứ thay mặt ban chỉ huy ra Bến Nghé nhận radio từ tay anh Xuyên. Anh Xuyên mừng rỡ: “Vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ rồi đấy nhé.”

Được Bác Hồ yêu mến. Cả đảo ai cũng mừng. Chiếc radio được đưa tới các trận địa để người nào cũng được nhièn thấy và được đặt tay lên chiếc radio để nhận thâm tình Bác thấm trong món quà quý báu này.

                                                                                      N.Q.H


 

 

 

Nguyễn Quang Hà
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 179 tháng 08/2009

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground