Đúng vào thời điểm đất nước diễn ra hai sự kiện chính trị quan trọng cuối năm 1976: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV họp tại Hà Nội và Lễ khánh thành tuyến đường sắt thống nhất Bắc Nam, tôi đang là chiến sỹ thuộc Đại đội Trinh sát Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Trị Thiên, được điều động cùng với Bộ đội Biên phòng và Ban Biên giới tỉnh đi khảo sát thực địa đường biên giới Việt – Lào thuộc tỉnh Bình Trị Thiên. Trước đó đường biên giới đã được Chính phủ hai nước thống nhất hoạch định trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 trên toàn tuyến quốc gia. Hoạt động này nhằm phục vụ cho Chính phủ hai nước ký Hiệp định về biên giới vào tháng 7 - 1977.
Rời thành phố Huế trong lất phất mưa xuân. Đất nước mới thống nhất được hơn một năm, ngổn ngang bao công việc nhưng đơn vị tôi được đóng quân trong thành phố thanh bình thơ mộng với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, nay lại được lệnh mang ba lô súng đạn trở về biên giới, lòng tôi thoáng chút bâng khuâng…
Chúng tôi đi nhờ xe của Trung tá Huỳnh An, Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh lên UBND huyện Hướng Hóa đóng ở thị trấn Khe Sanh. Sau cuộc họp ngắn gọn với các lực lượng tham gia khảo sát thực địa, chúng tôi về nhà khách UBND huyện ăn cơm chiều, nghỉ lại một đêm để ngày mai cuốc bộ 70km đường rừng về đồn Cù Bai.
Nhà khách UBND huyện Hướng Hóa là một căn nhà gỗ lợp tranh, vách đất, giữa các phòng thưng phên nứa. Chúng tôi nằm gian giữa, gian kế là các đồng chí bộ đội Biên phòng. Đêm cuối năm, thời tiết Khe Sanh có cái lạnh đặc trưng tê buốt của vùng cao nguyên, những chiến sỹ thuộc Đại đội Trinh sát tỉnh đội khêu đèn trùm chăn nằm nói chuyện về quê hương bản quán. Bỗng có tiếng đẩy cửa rồi một người tầm thước chắc đậm bước vào:
- Đồng chí nào vừa kể chuyện làng, đồng chí có phải con anh A. không?
Tôi quá bất ngờ vì không biết người hỏi mình là ai, lại biết cả tên bố tôi. Qua ánh sáng của ngọn đèn dầu hôi mù khói, tôi nhận ra một gương mặt trung niên rắn rỏi. Tôi trấn tĩnh lễ phép hỏi lại:
- Sao chú biết bố cháu ạ?
- Chú là Đào Xuân Hướng, nằm phòng bên, nghe cháu kể chuyện làng và nghe giọng nói chú đoán ra con ai...
Hóa ra đây là Anh hùng Đào Xuân Hướng người làng tôi. Người Anh hùng rời làng đi bộ đội khi tôi còn bé tý, hơn hai mươi năm sau mới gặp nhau tình cờ mà chỉ nghe kể chuyện làng và nghe giọng nói đã nhận ra người làng, ký ức về làng trong ông thật tuyệt vời.
Nói chuyện với ông, tôi biết ngày mai chúng tôi sẽ đi theo các chiến sỹ biên phòng về đồn Cù Bai. Tôi cũng được biết nhiệm vụ của tổ mình là tham gia khảo sát thực địa đơn phương đoạn biên giới trên bộ dài hơn 30 km thuộc phạm vi quản lý của Đồn Biên phòng Cù Bai, tỉnh Bình Trị Thiên. Đồn Cù Bai có tên là đồn 235, nay là đồn 605, trong hệ thống Đồn Biên phòng biên giới trên bộ của Việt Nam, đóng ở xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa.
* * *
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Hiệp định Giơ - ne - vơ đình chiến ở Đông Dương được ký kết. Thực dân Pháp chấp nhận rút quân xâm lược về nước. Đất nước ta tạm chia làm hai miền và lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự để cách ly lực lượng vũ trang hai bên về hai phía, tránh xung đột trở lại nhằm tạo điều kiện cho Tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước vào hai năm sau.
Với Hiệp định này, tỉnh Quảng Trị bị chia làm hai phần, phần lớn diện tích của tỉnh nằm ở phía Nam giới tuyến. Hai huyện Vĩnh Linh và Hướng Hóa bị chia cắt theo tỷ lệ gần như nhau. Huyện Vĩnh Linh có toàn bộ xã Vĩnh Liêm và một số thôn của xã Vĩnh Sơn nằm ở phía Nam giới tuyến quân sự tạm thời thuộc quyền kiểm soát của chế độ Sài Gòn do Mỹ dựng nên. Huyện Hướng Hóa có xã Hướng Lập nằm ở phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời được giao cho Khu vực Vĩnh Linh quản lý hành chính thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Xã Hướng Lập huyện Hướng Hóa ở vào mút cực Tây của giới tuyến quân sự tạm thời, phía Tây của xã có biên giới chung với nước bạn Lào, phía Bắc giáp xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, phía Nam là dòng sông Sê-băng-hiêng, phía Đông là xã Vĩnh Ô, huyện Vĩnh Linh. Vào thời điểm đó Hướng Lập có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với ta và địch. Trên danh nghĩa xã Hướng Lập thời đó như là xã ngã ba biên giới.
Theo tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ, giới tuyến và khu phi quân sự được lập ra trên văn kiện Hội nghị, nhưng trên thực tế, nó chỉ được thực hiện từ Cửa Tùng theo sông Bến Hải ngược lên Bến Tắt khoảng 25 km. Từ Bến Tắt đến Biên giới Việt – Lào khoảng 55 km cả hai bên không triển khai các cặp đồn kiểm soát Liên hợp. Đoạn này có khoảng 25km từ Cù Rừng đến Dốc Mang là thượng nguồn sông Bến Hải nằm ở sườn Đông dãy Trường Sơn. Từ Dốc Mang đến biên giới Việt Lào dài khoảng 30km, giới tuyến đi theo sông Sê-băng-hiêng chảy về phía Tây sang nước bạn Lào. Thực tế chính quyền Sài Gòn không thể triển khai đóng đồn theo Hiệp định vì đoạn giới tuyến 55 km trên phía Trường Sơn rất hiểm trở và vốn là căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp của ta.
* * *
Ngày tôi đến, Đồn Cù Bai đóng trên một vùng đất khá bằng phẳng bên suối cạnh bản Cù Bai. Nhìn về phía Tây là ngọn núi Cà Tam hùng vĩ. Doanh trại khang trang, sinh hoạt chính quy, có điện do nhà máy thủy điện Cù Bai cung cấp. Nhà máy Thủy điện nhỏ này là quà tặng của Tư lệnh Quân khu 4 - Đàm Quang Trung thời đó cho Đồn hai lần được tuyên dương Anh hùng và nhân dân bản Cù Bai. (Chính nhà máy thủy điện nhỏ Cù Bai và hang đá lịch sử từng là nơi trú ẩn an toàn cho mấy trăm quân dân Cù Bai và nơi đặt sở chỉ huy của nhiều chiến dịch ở Đường 9, Bắc Quảng Trị và Nam Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên đỉnh núi Cà Tam là nguyên nhân làm cho đường biên giới hai nước khi đến ngã ba khe phía Nam bản Tà Păng 500 mét thì không theo dòng suối Cù Bai mà đổi hướng lên đỉnh Cà Tam rồi đi theo sườn núi ra ngã ba của suối Cù Bai gặp sông Sê-băng-hiêng, cách bản Cù Bai 1,5km về phía Nam). Đồn có hệ thống nước sinh hoạt tự chảy được lắp đặt bằng ống dẫn dầu do lính ta gom lại từ hồi chiến tranh. Nước suối từ trên núi cao được dẫn về bể chứa xây bằng xi măng. Bà con dân bản Cù Bai cùng dùng chung hệ thống nước tự chảy. Phía Nam Đồn là Bệnh viện Cù Bai, cách đồn chỉ một hàng rào tre. Bệnh viện có đầy đủ bác sỹ, y sỹ, y tá chuyên khoa và đội ngũ cán bộ nhân viên đông… gần bằng quân số của Đồn. Vì vậy, Bệnh viện và Đồn thường xuyên thi đấu bóng đá và trong lịch sử thi đấu, chưa bao giờ đội tuyển bóng đá bệnh viện đá thắng được đội tuyển của Đồn.
* * *
Nửa tháng ở Cù Bai, tôi đã cùng đồng đội lặn lội vào những vùng thâm sơn cùng cốc Sa Rìa, Ra Vờn, Ra Vin, lội qua ngầm Ta Lê… Ngầm Ta Lê là một trong bộ ba trọng điểm nổi tiếng ác liệt trên tuyến đường 20 Tây Trường Sơn trong những năm chống Mỹ, được lính ta viết tắt là A.T.P, (tức là cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích). Tôi cũng đã miệt mài leo từ sáng đến trưa, từ dốc lên đỉnh điểm cao 1080, ranh giới giữa Quảng Bình, Quảng Trị (Việt – Nam) và Khăm Muộn – Savanakhet (Lào), điểm cao 1080 cũng là nơi đặt cột mốc biên giới Việt – Lào đầu tiên khi đường biên giới đi qua tỉnh Quảng Trị. Từ 1080, chúng tôi đi theo đường phân thủy về hướng Đông Bắc lên điểm cao 1272, xuống điểm cao 1221… những cao điểm cao trên ngàn mét thuộc dãy Trường Sơn mà đường biên giới nghĩa tình, chung thủy, hữu nghị giữa hai nước Việt – Lào sẽ đi qua .
Tôi cùng đồng đội nằm ngủ theo đội hình đánh giặc một đêm trên đèo Cổng Trời. Cổng Trời cũng là một địa danh nổi tiếng trên con đường 10 xuất phát từ Vạn Ninh thuộc địa phận huyện Quảng Ninh, băng qua huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, rồi đường 10 men theo thượng nguồn sông Long Đại vượt yên ngựa cao 1016 mét, chạy xuống xã Hướng Lập nằm trong thung lũng sông Sê-băng-hiêng. Con đường 10 ở phía mặt trận mỗi cung đường mang một cái tên với ý nghĩa khốc liệt và hào hùng: Dốc Cẩm Vân, Đèo 3-2, Cua Tay Áo, Cửa Tử… Vượt sông Sê-băng-hiêng đường 10 chia thành bốn nhánh đường mang tên 16A, 16B, 16C, 16E tỏa ra, vươn tới các hướng chiến trường phía Nam.
Chính con đường 10 xuất hiện bất ngờ bí hiểm này mà trong chiến dịch phản công tại mặt trận Đường số 9 - Nam Lào tháng 2 - 1971, khi quan quân của quân đội Sài Gòn chủ quan, tiên liệu “phải sau hai tuần chúng nổ súng, quân chủ lực Bắc Việt từ phía Nam Quân khu IV mới có mặt tại khu chiến”. Thực tế thì chỉ 4 ngày sau khi chúng khởi sự cuộc hành quân Lam Sơn 719, Sư đoàn Quân Tiên phong đã cơ động từ Nam Quảng Bình áp sát mặt trận, giáng đòn sấm sét vào sườn phía Bắc chiến dịch Lam Sơn 719 cuả Mỹ - ngụy, loại khỏi vòng chiến Liên đoàn 1 Biệt động quân ngụy, quét sạch tuyến phòng thủ vòng ngoài chiến dịch của địch, tạo điều kiện cho đại quân ta từ các hướng khép gọng kìm tấu nên bản hợp xướng “Đại thắng Bản Đông” hùng tráng, đập tan cuộc hành quân chiến lược quy mô nhất của quân đội Sài Gòn vào hậu cứ chiến lược của ta ở Nam Lào.
Những ngày cùng sát cánh với các đồng chí bộ đội Biên phòng Cù Bai, ngoài nhiệm vụ khảo sát biên giới, những lúc rỗi cán bộ chiến sỹ kể cho tôi nghe những ngày đầu gian khổ thành lập đồn.
Tháng 6-1956, nhận định tình hình chính quyền Sài Gòn sẽ khước từ Tổng tuyển cử tự do, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ đạo Quân khu IV và Khu đội Vĩnh Linh đưa một Trung đội vũ trang thuộc Đại đội 354 lên đóng đồn ở Cù Bai. Đặt ba lô, dựng tạm lán trại, bộ đội tỏa vào rừng sâu núi cao tìm dân bị các thế lực phản động tuyên truyền, xuyên tạc về bản chất cách mạng và anh bộ đội Cụ Hồ, chúng dọa dẫm ép dân bỏ bản trốn vào hang núi, đói rét, rách rưới, bệnh tật, khổ cực trăm bề… Đón được dân về đang phải lo cái ăn, cái mặc, ổn định nơi ở, lo bảo đảm y tế, học hành, tổ chức sản xuất thì bọn lính ngụy Sài Gòn kéo quân lên phía Nam sông Sê-băng-hiêng tuyên bố “Hướng Lập là đất Ngô Tổng thống”, đòi bộ đội miền Bắc phải rút đi… Rồi quân đội phái hữu Lào từ phía Tây kéo sang cũng yêu sách: “Hướng Lập là đất của Phumi – Bun Ùm.” Vừa đấu tranh vừa tuyên truyền đuổi được quân ngụy Sài Gòn xâm nhập khu phi quân sự trái phép, bảo vệ đường giới tuyến quân sự tạm thời, vừa nắm địch bên kia biên giới phía Tây, kiên quyết đấu tranh bảo vệ biên giới quốc gia, tạo điều kiện để liên quân cách mạng Lào – Việt quét sạch hệ thống đồn bốt của bọn ngụy Lào thân Mỹ dọc biên giới đến tận Bản Na, mở ra vùng giải phóng rộng lớn cho cách mạng Lào ở phía Đông tỉnh Savanakhet giáp Việt Nam mà sau này tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh ở Tây Trường Sơn đi qua, chi viện đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Việt – Lào – Căm-pu-chia trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi.
Sau chiến tranh, đất nước trở lại thanh bình, sôi nổi bước vào dựng xây, phố phường tấp nập nhưng trách nhiệm bảo vệ biên cương của các anh bộ đội biên phòng không thay đổi. Những người lính Đồn Biên phòng Cù Bai vẫn ở lại trấn giữ biên thùy khi đại quân ta đã tiến về thành phố. Mỗi buổi sáng thứ hai hàng tuần vẫn đều đặn thượng cờ và trang nghiêm hát Quốc ca giữa mảnh đất miền tây Tổ quốc hùng vĩ.
Ngày mai tôi về thành phố, đêm cuối cùng những người lính Đồn Biên phòng Cù Bai kể cho tôi nghe những giai thoại về người Anh hùng của đồn mình với một niềm kiêu hãnh: “Anh Đào Xuân Hướng là anh hùng của cả hai nước Việt – Lào, người đã kiên trì bám chắc địa bàn, vận động bà con dân tộc Vân Kiều làm ăn tập thể, phá bỏ tập quán du canh du cư, đốt nương rẫy canh tác quảng canh, chuyển sang cấy lúa nước, thâm canh. Không chỉ góp công sức cùng đồng đội xây dựng Đồn Biên phòng Cù Bai thành pháo đài cách mạng “bất khả xâm phạm” trong sự che chở của lòng dân Hướng Lập, Anh hùng Đào Xuân Hướng cùng Trinh sát đồn còn xây dựng được mạng lưới cơ sở ngoại biên vững chắc, trực tiếp góp phần giúp đỡ cách mạng Lào ở huyện Sê Pôn, tỉnh Savanakhet phát triển. Ai cũng kể thuộc làu câu chuyện Anh hùng Đào Xuân Hướng lấy thân mình che đạn cho đồng chí Văn Thầu - Phó Bí thư Tỉnh ủy Đảng nhân dân cách mạng Lào tỉnh Savanakhet trong trận đánh đồn Bản Na. Chuyện anh Đào Xuân Hướng kiên trì dùng thuốc Nam điều trị khỏi bệnh cho một đồng bào người Lào mắc bệnh hiểm nghèo bị dân bản và người thân xa lánh, gánh ra lán giữa rừng nằm chờ chết. Tiếng đồn “ông lang bộ đội Việt” cao tay hơn con ma rừng lan đến những bản Lào xa mấy ngày đường rừng thăm thẳm…”.
Xa Cù Bai gần bốn mươi mùa xuân chưa có dịp nào trở lại nhưng tôi vẫn giữ những ký ức tươi nguyên: Ánh mắt lưu luyến, rượi buồn của dân cả một bản mươi nóc nhà trong rừng thẳm nhìn theo chúng tôi khuất dần sau vòm lá vì họ cũng như chúng tôi biết sẽ khó lòng gặp lại nhau để chia một nắm xôi dẻo thơm đựng trong tuýp mây láng bóng như sơn mài màu cánh gián. Nhớ những cánh rừng chè mọc dày, kéo dài cả cây số trên sườn núi Cù Bai ở độ cao 500 mét trở lên mà tôi từng chợt nghĩ, biết đâu nó có giá trị kinh tế hơn cây chè nhà. Nhớ những cuộc tả kê, săn dúi, bẫy lợn rừng… Nhớ vùng sên vắt Ra Vìn muốn đi qua phải chạy gằn cả tiếng, như lính ta đồn “sên vắt dày đặc nhất Đông Dương”. Nhớ Đồn trưởng Đại úy Hồ Ai, Đồn phó Trung úy Hồ Văn Đàn, Đội trưởng công tác cơ sở Thiếu úy Hồ Ao, nhớ đồng chí y tá Hồ Dem đêm đêm sau giờ ngủ đến từng giường dém màn kéo chăn đắp cho từng chiến sỹ… Trừ anh Hồ Ao mang họ Hồ nhưng là người Thanh Hóa, còn lại các anh chỉ huy đồn đều là con em người dân tộc Vân Kiều của núi rừng Hướng Lập kiên trung được mang họ Hồ của Bác. Nhớ hàng trăm gương mặt chiến sỹ Biên phòng ai cũng phơi phới trẻ trung.
Tôi nhớ gương mặt hớn hở vô tư của chàng Bác sỹ trẻ, đẹp trai người Hà Nội công tác tại Bệnh viện Cù Bai, quyến luyến chúng tôi và không ngớt nói lời cám ơn vì nhiều lẽ, trong đó có một lý do rất… trẻ con, đó là hôm trước khi tiễn chúng tôi về đồng bằng, Đồn Biên phòng Cù Bai và Bệnh viện Cù Bai tổ chức thi đấu trận bóng đá giao hữu chia tay và ba chúng tôi được “chuyển nhượng” sang đội Bệnh viện dù một tháng chúng tôi tạm thời là quân số thuộc Đồn. Trận bóng đá ấy lần đầu tiên Bệnh viện thắng Đồn với tỷ số sát sao 2-1, bởi vì thủ quân đội tuyển đồn không phát hiện ra cả ba chiến sỹ trinh sát tỉnh đội tăng cường đều từng đá bóng ở đội tuyển cấp… chân đất của tỉnh đội.
Và tôi nhớ cả bài thơ trên báo tường số Mừng Xuân mới của chiến sỹ Đồn Biên phòng Cù Bai ngày ấy:
“Dọc đường xuân tuần tra biên giới
Bỗng bắt gặp bên suối nhành mai
Ôi sắc hoa vàng như màu nắng
Ấm áp này xin gửi cả về xuôi”.
Bốn mươi năm và ký ức Cù Bai ngày ấy còn trong tôi mãi mãi.
T.P.T




