Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Diên cách địa lý hành chính Đakrông qua các thời kỳ lịch sử

Đakrông là một huyện miền núi nằm phía tây nam của tỉnh Quảng Trị, ở tọa độ địa lý giới hạn từ 16017’55” đến 16049’12” vĩ bắc và 106044’01” đến 107014’15” kinh đông; có tổng diện tích đất tự nhiên là 122.332,21 ha;

Đakrông là một huyện miền núi nằm phía tây nam của tỉnh Quảng Trị, ở tọa độ địa lý giới hạn từ 16017’55” đến 16049’12” vĩ bắc và 106044’01” đến 107014’15” kinh đông; có tổng diện tích đất tự nhiên là 122.332,21 ha; phía bắc giáp với các huyện Gio Linh, Cam Lộ; phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía đông giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng; phía tây giáp huyện Hướng Hóa.

Đakrông có đường Quốc lộ 9/Xuyên Á, đường Hồ Chí Minh đi qua và có đường biên giới tiếp giáp với Lào nên có vị trí quan trọng không chỉ với tỉnh Quảng Trị mà còn với cả khu vục Bắc Trung Bộ trên 2 trục Đông - Tây và Nam - Bắc; có cửa khẩu quốc gia La Lay nối thông với nước CHDCND Lào.

Trên địa bàn của huyện có sông lớn là sông Đakrông cùng với hàng trăm khe suối lớn nhỏ. Sông Ðakrông bắt nguồn từ vùng động A Pong, Côcava thuộc vùng thượng La Bút, phía đông Trường Sơn gần biên giới Việt - Lào dài 85 km. Trên con đường đổ về đồng bằng, sông chảy theo hướng đông nam - tây bắc len lỏi uốn mình giữa các sườn núi cao, nhận thêm nước nhiều khe suối đổ đến và khi tới gần Khe Sanh thì tiếp nhận một phụ lưu từ phía bắc chảy xuống, đó là sông Rào Quán, phát xuất từ động Sá Mùi. Từ thị trấn Krông Klang về xuôi, sông gọi tên là Ba Lòng - thượng nguồn của sông Thạch Hãn.

Địa hình của Đakrông về cơ bản là đồi núi cao hiểm trở, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối. Núi cao nhất là đỉnh Kovalađút 1.251m, thấp nhất là khu vực bãi bồi Ba Lòng 25m. Trên địa phận xã Mò Ó có núi Mai Lĩnh - ngọn núi biểu trưng văn hóa đi kèm với sông Thạch Hãn để trở thành cặp đôi sông núi: Non Mai - Sông Hãn. Địa hình núi đá vôi có nhiều thác nước, hang động có thể khai thác cho hoạt động du lịch. Trên địa hình núi có nhiều khu vực rừng nguyên sinh.

Rừng Đakrông có nhiều loại chim thú hoang dã, đây là nguồn tài nguyên quý giá có tầm quan trọng lớn về môi trường sinh thái, khoa học và kinh tế. Trong đó nổi bật là Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông nằm dọc theo đường Hồ Chí Minh, là nơi lưu giữ, bảo vệ các nguồn gen các loại động vật, thực vật quý hiếm, các hệ sinh thái điển hình, các loài đặc hữu mà cả nước và cả thế giới đang quan tâm bảo vệ. Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông có nhiều hang động nằm giữa lòng núi đá vôi, mang nhiều giá trị về khảo cổ, du lịch... là tiềm năng để khai thác loại hình du lịch sinh thái.

Đakrông là huyện có quy mô đất đai khá rộng lớn của tỉnh Quảng Trị (chiếm hơn 1/4 diện tích đất toàn tỉnh). Trong đó đất nông nghiệp 5.017 ha, đất lâm nghiệp 56.586 ha, quỹ đất hoang bằng và hoang đồi núi chưa sử dụng của huyện còn khá lớn, trong đó phần lớn là đất dốc thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp. Đất có địa hình đồi chiếm một diện tích khá lớn phù hợp trồng các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cà phê, tiêu, cao su. Đất phù sa sông, nhất là vùng thung lũng Ba Lòng phù hợp trồng cây nông nghiệp như bắp, đậu v.v... Đây là tiềm năng có thể khai thác vào sản xuất góp phần phát triển kinh tế.

Đakrông có những tài nguyên, khoáng sản quý như: vàng, đá quý, vật liệu xây dựng, nước khoáng tự nhiên... Trong đó một vài nơi như mỏ nước khoáng Ka Lu có lợi thế để khai thác, phục vụ du lịch. Hệ thống sông suối trên địa bàn là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ.

Thành phần dân tộc gồm 3 tộc người chủ thể là: Bru - Vân Kiều, Tà Ôi (Pa Cô) và người Việt (Kinh). Bộ phận dân cư thuộc hai tộc người Bru - Vân Kiều, Tà Ôi thuộc các tộc người thiểu số, bản địa có quá trình sinh sống lâu đời. Bộ phận người Việt là nhóm cư dân di cư từ đồng bằng lên từ thế kỷ XVII và mạnh nhất là trong thế kỷ XX. Các bộ phận tộc người này sống cộng cư, xen cư và trải qua quá trình chung sống, vật lộn đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm đã trở thành một khối thống nhất và là một bộ phận của cộng đồng cư dân Quảng Trị - Việt Nam.

Đakrông được lấy từ tên một con sông: sông Đakrông với nghĩa là dòng nước trong xanh. Huyện Đakrông được thành lập ngày 17/12/1996, trên cơ sở tách ra từ huyện Triệu Phong và huyện Hướng Hóa theo Nghị định 83-CP của Chính phủ, nhưng vùng đất này đã có quá trình sinh thành và phát triển từ rất lâu đời. Từ xa xưa cho đến sau này, đây là vùng tụ cư của các nhóm tộc bản địa thuộc ngữ hệ Môn - Khơme.

Dấu vết xưa nhất về sự tụ cư của con người được các nhà khảo cổ phát hiện trên địa bàn Đakrông là những công cụ ghè đẽo thuộc văn hóa Hòa Bình ở thôn Khe, Tà Lu xã Đakrông cách ngày nay từ 1 - 1,5 vạn năm. Đây là những viên cuội có kích thước khá lớn, một phần của rìa cuội được làm đốc cầm, trên phần rìa còn lại nhiều vết ghè khá đặc trưng tạo nên rìa tác dụng để làm công cụ chặt, một dạng công cụ khá gần gũi với loại hình dĩa đặc trưng của văn hóa Hòa Bình.

Sang giai đoạn hậu kỳ thời đại đồ đá mới - sơ kỳ kim khí cách ngày nay từ khoảng 5 ngàn đến 2 ngàn năm, những phát hiện khảo cổ trên vùng thung lũng Ba Lòng và nhiều nơi khác về phía thượng nguồn sông Hiếu; trong đó nổi bật là di chỉ Đá Nổi (Ba Lòng) đã cho thấy vùng Đakrông là địa bàn chuyển tiếp giữa núi và biển, giữa các trung tâm sản xuất cung cấp công cụ đá ở Cù Bai, Tà Păng, Sê Pu... (Hướng Hóa) cho các cộng đồng c­ư dân đồng bằng ven biển và lan rộng ra trong khu vực thông qua các tuyến trao đổi theo chiều Đông - Tây.

Đặc biệt, vào thời kỳ đồ đồng, sơ kỳ đồ sắt, khu vực Đakrông là địa bàn phát hiện nhiều hiện vật khảo cổ mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Đó là những chiếc rìu lưỡi xéo, rìu xòe cân, rìu lưỡi cày hình cánh bướm, rìu lưỡi xéo thân cong, mũi giáo dạng búp đa... cùng đồ trang sức đã được tìm thấy ở một số nơi; trong đó đáng kể là khu vực Huyện cũ (Đakrông). Một số đồ trang sức bằng đồng có dấu hiệu như những đồ trang sức đã tìm thấy ở tận vùng đông bắc Thái Lan cho thấy đã có một mối quan hệ giao lưu đ­ược mở ra từ thời xa xư­a của lịch sử giữa các khu vực: giữa miền Trung Việt Nam với khu vực Ðông Nam Á lục địa, giữa vùng sâu nội địa với dải đất ven biển phía đông đi qua địa bàn Đakrông.

Dưới thời vương quốc Champa, vùng đất Đakrông thuộc các tộc người Môn -Khơme sinh sống. Họ tồn tại một cách độc lập theo tổ chức xã hội tự quản làng bản và không bị lệ thuộc vào nhà nước. Ranh giới châu Ô của Champa chỉ đến vùng Đầu Mầu (nay thuộc xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ) còn từ đó lên phía tây là của các tộc người Bru - Vân Kiều, Tà Ôi.

Thời Trần - Hồ và thuộc Minh, vùng đất Đakrông nằm trong huyện Ba Lãng và một phần huyện Thạch Lan (bao gồm cả Hướng Hóa), thuộc châu Thuận, trấn Thuận Hóa. Thời Lê - Mạc, từ khi châu Thuận được cải đặt thành hai huyện: Hải Lăng và Vũ Xương cùng với 2 châu: Sa Bôi và Thuận Bình(1) thì vùng đất Đakrông hiện nay nằm trong châu Thuận Bình phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa. Châu Thuận Bình là đơn vị hành chính và cũng là “nơi cư trú của các làng bản thổ dân” thuộc nguồn Viên Kiều ở trên địa bàn huyện Hải Lăng(2). Nguồn Viên Kiều là nguồn của sông Thạch Hãn, tức là thuộc lưu vực sông Đakrông, thượng nguồn Thạch Hãn/sông Cái. Số lượng các đơn vị cư trú của các tộc Man (tức người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi/Tôi Ôi) thuộc châu Thuận Bình được biên chép một cách khái lược trong mục thuế khóa của sách “Ô châu cận lục” có 19 sách, 10 động(3). Nhưng theo bản đồ Hồng Đức thì châu Thuận Bình có 6 tổng, 26 xã(4). Khảo cứu về đơn vị hành chính châu này thời Lê - Mạc cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ.

Thời chúa Nguyễn, châu Thuận Bình thuộc huyện Hải Lăng.

Riêng vùng thung lũng Ba Lòng - nơi có phường Mai Hoa (thời Nguyễn đổi thành Mai Lĩnh) thuộc tổng An Khang và Na Nẫm (Đá Nằm) của người Việt (hình thành từ thế kỷ XVII) thì thuộc tổng Hoa La, huyện Hải Lăng(5).

Thời Nguyễn, vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), lấy 4 sách Viên Kiệu, Tầm Linh, Làng Tổng và Làng Liên đặt làm châu Hướng Hóa, thuộc đạo Cam Lộ, dinh Quảng Trị(6). Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), khi cho đổi dinh Quảng Trị thành trấn Quảng Trị, nhân việc vùng đất Trấn Ninh xin sát nhập vào lãnh thổ nước ta, Sa trưởng các châu dâng sổ đinh điền và xin cho đứng vào hàng châu huyện, bèn đem 1 đạo Mường Vang, 7 châu Sa Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng và 1 sách Làng Thìn, cả thảy 9 cống man, đổi làm 9 châu, gọi là Cửu châu ky mi (nay thuộc đất Lào), còn 4 nguồn, 5 sách và 6 tộc thuế man thì đổi làm 15 tổng, đều thuộc châu Hướng Hóa, các đầu mục tổng trưởng đều trao cho chức cai tổng. 15 tổng này sau hợp lại làm 9 tổng thuộc đạo Cam Lộ (năm 1831 đổi thành phủ Cam Lộ)(7). Năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), đổi châu Hướng Hóa làm huyện Hướng Hóa(8). Vùng đất Đakrông thời Minh Mạng bao gồm tổng Viên Kiều (11 xã, ấp) và có thể cả tổng Làng Thuận (10 xã, ấp), tổng Làng Sen (9 xã, ấp), thuộc huyện Hướng Hóa, phủ Cam Lộ. Riêng hai phường mới được thiết lập của người Việt là phường Trinh Thạch (về sau tách thành hai phường Đá Nổi và Thạch Xá) và phường Sái Xuân (có lẽ là thôn Xuân Lâm hiện nay) thì thuộc tổng An Thái, huyện Hải Lăng(9).

Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đổi tên huyện Hướng Hóa thành huyện Thành Hóa. Lúc này, tổng Viên Kiều thuộc huyện Thành Hóa quản lãnh 10 tổng, 99 xã, thôn, phường ấp(10). Đến thời Thành Thái, huyện Thành Hóa đổi lại thành huyện Hướng Hóa; huyện nha đóng tại xã Húc Thượng, tổng Viên Kiều (sau dời đến Mai Lĩnh). Thời Duy Tân bỏ phủ Cam Lộ đặt thành huyện và đặt lại huyện Hướng Hóa (1908). Huyện nha cũng đặt tại xã Húc Thượng tổng Viên Kiều(11). Vùng đất Đakrông ngày nay thuộc huyện Hướng Hóa. Theo danh mục xã ấp các tổng của huyện Hướng Hóa chép trong Đồng Khánh địa dư chí thì tổng Viên Kiều, 11 xã, ấp (xã Húc Thượng, xã Húc Hạ, ấp Chu Lăng, ấp Làng Chiếm, ấp Làng Ðộng, ấp Hồ Lai, ấp Làng Cát, ấp Ca Ngu, ấp Làng Rượu, ấp Thẩm Ðoan, ấp Ba Ðường); tổng Làng Thuận, 10 xã, ấp (xã Làng Trầm, xã Làng Công, xã Làng Cồn, ấp Làng Thuận, xã Làng Thường, ấp Mỹ Ðài, ấp Làng Húc, ấp Làng Vi Thượng, ấp Làng Vi Hạ, ấp Làng Quần); tổng Làng Sen, 9 xã, ấp (xã Làng Sen, xã Làng Trúc Thượng, xã Làng Trúc, xã A Qua, ấp Làng Sen, ấp Làng Mít Ðông, ấp Làng Mít Tây, ấp Làng Ô, ấp Làng Trì)(12).

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trải suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, trên địa bàn huyện Đakrông ngày nay, vùng thung lũng Ba Lòng trở thành chiến khu, căn cứ địa cách mạng - trung tâm đầu não của bộ máy lãnh đạo kháng chiến của tỉnh Quảng Trị.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, từ sau Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ II (tháng 2 năm 1950), huyện Hướng Hóa có 14 đơn vị hành chính cấp xã được phân chia thành hai khu vực: Khu vực Bắc Đường 9 gồm các xã: Hướng Phùng, Hướng Việt, Hướng Lập, Hướng Tân, Hướng Linh. Khu vực Nam Đường 9 có các xã: Hướng Sơn, Tà Long, Hướng Điền, Hướng Học, Hướng Khai, Hướng Phong, Hướng Vân, Hướng Minh, Hướng Lâm(13). Trên địa bàn huyện Đakrông hiện nay có các xã: Hướng Sơn, Tà Long, Hướng Điền, Hướng Học, Hướng Khai, Hướng Phong.

Sau Hiệp định Genève (20/7/1954), chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng tập kết ra Bắc, đảng Đại Việt lên chiếm vùng Ba Lòng định lập chiến khu chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng không thành. Trong năm 1955, chính quyền miền Nam chưa quản lý được vùng phía tây Quảng Trị. Theo Nghị định số 4245-NĐ-PC ngày 8/12/1955 của Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt, các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Trị phía nam sông Bến Hải gồm có 6 quận, 65 xã và 395 thôn; trong đó, vùng đất thuộc Đakrông ngày nay không thấy ghi xã, thôn nào. Điều đó cho thấy chính quyền Việt Nam Cộng hòa chưa thiết lập được các đơn vị hành chính ở khu vực này(14).

Năm 1956, theo Nghị định 1844-NĐ-PC của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Trung Việt ngày 1/10/1956, nha Đại diện hành chính Ba Lòng được thiết lập với 20 làng, thôn, bản gồm: Văn Vận, Tân Trà, Thạch Xá, Đá Nổi, Hà Vụng, Khe Giữa, Lương Hạ, Vạn Đá Nổi, Mai Sơn, Na Nẫm, Xuân Lâm, Vạn Đoàn Kết (của người Việt, nguyên thuộc huyện Hải Lăng), Đông Dong, Ba Rầu, Luồi, Mang, Mung, Bội, Ba Xang, Bông(15) (của người Vân Kiều, nguyên thuộc huyện Hướng Hoá). Các nơi khác chính quyền miền Nam chưa quản lý được.

Từ ngày 17/5/1958, theo Nghị định 215-HC/P6 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hoà, nha Đại diện hành chính Ba Lòng đổi thành quận Ba Lòng. Quận Ba Lòng gồm 7 xã: Ba Lương, Ba Xuân, Ba Hy, Ba Bình, Ba Thanh, Ba Đăng, Ba Linh. Quận lỵ đóng tại xã Ba Lương (tức xã Ba Lòng nay)(16). Từ năm 1964, theo Nghị định 1011-NV, ngày 23/5/1964 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà, quận Ba Lòng cải thành Cơ sở phái viên Hành chánh Ba Lòng. Theo đó, các xã của quận này nhập vào quận Triệu Phong. Bốn tháng sau, theo Nghị định 1770-NV ngày 9/9/1964 của phủ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Cơ sở phái viên Hành chánh Ba Lòng giải thể. Các xã thuộc quận Ba Lòng trực thuộc quyền Quận trưởng quận Triệu Phong(17).

Sau khi đất nước thống nhất, tháng 2/1976, tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập. Vùng đất thuộc huyện Đakrông ngày nay là một phần của huyện Hướng Hóa thuộc tỉnh Bình Trị Thiên. Toàn bộ các thôn làng của người Việt vùng thung lũng Ba Lòng được đặt dưới một đơn vị hành chính là xã Ba Lòng; còn thôn 5, Tà Lang của người Vân Kiều nằm trong đơn vị hành chính là xã Hải Phúc, thuộc huyện Triệu Phong (sau ngày 11/3/1977 thì thuộc huyện Triệu Hải). Xã Mò Ó và Hướng Hiệp thuộc huyện Cam Lộ (sau ngày 11/3/1977 thì thuộc huyện Bến Hải). Các xã Hướng Hiệp, Tà Long, Húc Nghì, Tà Rụt, A Vao, A Ngo, A Bung, Ba Nang thuộc huyện Hướng Hóa.

Ngày 15/8/1981, theo Quyết định số 187-CP của Hội đồng Chính phủ, xã Ðakrông thuộc huyện Hướng Hóa được thành lập trên cơ sở sáp nhập các thôn Tà Linh, Ba Từng, Chân Rò tách từ xã Tà Long và các thôn Ba Ngào, Tà Cu, Làng Cát và Vùng Kho tách từ xã Húc(18).

Ngày 17/9/1981, theo Quyết định số 73-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, xã Ba Lòng được chia thành hai xã, lấy tên là xã Ba Lòng và xã Triệu Nguyên thuộc huyện Triệu Hải. Hai xã Mò Ó và xã Hướng Hiệp của huyện Bến Hải được sáp nhập vào huyện Hướng Hoá(19).

Từ năm 1984, sau khi thành lập thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hoá có 1 thị trấn và 30 xã. Trong đó, thuộc địa bàn huyện Đakrông hiện nay có các xã: Mò Ó (6 thôn/bản: Làng Cát, Phú Thiềng, Khe Lặn, Ba Rầu, Khe Luồn, Km 41), xã Hướng Hiệp (12 thôn: Pu Loang, Khung, Hà Bạc, Khe Van, Khe Hiến, Ruộng, Phường Vi, Phú An, Phường Rúc, Ra Lu, A Rồng, Khe Xông), xã A Vao (7 thôn/bản: Tân Di, A Vao, xóm Đang, Pa Ling, Kỳ Nơi, A Sau, Rò Ró), xã Pa/Ba Nang (8 thôn/bản: Pa Nang, Tà Rẹc, A La, Ta Mên, Bù, Ngược, Troăm, làng Cóc), xã A Ngo (7 thôn/bản: A Roàng Trên, A Xói, A Đeng, A Roàng Dưới, Ăng Côn, A Ngo, A La), xã A Bung (6 thôn/bản: Cù Tài, A Bung, Ty Nê, Cộp, A La Hót, A Luông), xã Húc Nghì (3 thôn/bản: La Tó, Húc Nghì, Cợp), xã Tà Rụt (6 thôn/bản: Tà Rụt, A Liêng, A Đăng, Vực Long, A Pan, Kinh tế mới), xã Đakrông (10 thôn/bản: Xa Lăng, Ta Lèng, Cu Pô, Ka Lu, Làng Cát, Ba Ngào, Châu Ro, Khe Ngai, Vùng Kho, Pa Tầng).

7 năm sau khi tách tỉnh Bình Trị Thiên, ngày 17/12/1996, theo Nghị định 83-CP của Chính phủ, huyện Ðakrông được thành lập trên cơ sở 10 xã của huyện Hướng Hoá (Mò Ó, Hướng Hiệp, Đakrông, Tà Long, Húc Nghì, Tà Rụt, A Vao, A Ngo, A Bung, Ba Nang) với 99.140 ha diện tích tự nhiên và 19.769 nhân khẩu và 3 xã của huyện Triệu Phong (Hải Phúc, Ba Lòng, Triệu Nguyên) với 19.197 ha diện tích tự nhiên và 4.911 nhân khẩu(20). Sau khi thành lập, huyện Đakrông có diện tích tự nhiên 118.337 ha và 24.680 nhân khẩu, với 13 đơn vị hành chính cấp xã.

Ngày 2/1/2004, theo Nghị định 08/2004/NĐ-CP của Chính phủ, thị trấn Krông Klang - thị trấn huyện lỵ của huyện Đakrông được thành lập trên phần đất của 2 xã Mò Ó và Hướng Hiệp.     

Trải qua bao biến động, đổi thay, tách nhập, đến nay, huyện Đakrông có 13 đơn vị hành chính, bao gồm: thị trấn Krông Klang và 12 xã: Đakrông, A Vao, A Bung, A Ngo, Tà Rụt, Húc Nghì, Tà Long, Ba Nang, Mò Ó, Hướng Hiệp, Triệu Nguyên, Ba Lòng.

Y.T

 

 

________________

Chú thích:

- 1,4,5. Lê Quý Ðôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1977. tr. 41; tr. 44; tr. 80.

- 2, 3. Dương Văn  An. Ô châu cận lục. Văn Thanh - Phan Đăng dịch và chú giải. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2009, tr. 27; tr.33. 

- 6,7,8,10. Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí, T1. Nxb Thuận Hóa. 1992, tr. 102; tr. 103.

- 9,12. Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðồng Khánh địa dư chí lược. Bản dịch của Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, tr. 1385; tr. 1394.

- 11. Theo: Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2011,  tr. 99.

- 13. Huyện ủy Hướng Hóa. Lịch sử Đảng bộ huyện Hướng Hóa (1930 - 1975). Quảng Trị, 1993, tr.78.

- 14,15,17. Nghị định số 4245-NĐ-PC ngày 8-12-1955; Nghị định số 1884-NĐ-PC ngày 1-10-1956 của Chính phủ VNCH tại Trung Việt; Nghị định số 1011-NV ngày 23-5-1964; Nghị định số 1770-NV ngày 18-9-1964 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà. Dẫn theo: Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2011, tr. 109 và tr.111.

- 16. Nghị định 215-HC/P6 ngày 17-5-1958 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hoà. Dẫn theo: Nguyễn Quang Ân. Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội, 1997, tr. 102 - 103.

- 18,19. Quyết định 187-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 15-8-1981; Quyết định 73-HÐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 17-9-1981; Nghị định số 83-CP của Chính phủ ngày 17-12-1996. Dẫn theo Nguyễn Quang Ân. Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới hành chính 1945 - 1997. Sđd, tr. 306; tr.318 và tr.648.

 

Mới nhất

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chỉ đạo việc tìm kiếm người mất tích do sạt lở ở Quảng Trị

18/10/2020 lúc 18:19

(TCCVO) Sáng nay 18/10/2020, Đoàn công tác của Trung ương do Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đi kiểm tra thực tế và làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Trị về công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và ứng phó với tình hình mưa lũ của địa phương. Phó Thủ tướng yêu cầu phải tập trung để tìm kiếm, cứu nạn những người mất tích càng sớm càng tốt, thực hiện với phương châm “4 tại chỗ”. Đây là nhiệm vụ hàng đầu của các lực lượng tìm kiếm cứu nạn.

Cất cánh từ chuyển đổi số

17/10/2020 lúc 10:01

Vài năm trước, nếu nhiều người còn cho rằng kinh tế số khi được thốt ra được xem là lời nói vui mang tính sang chảnh thì chính đại dịch COVID-19 lại thúc đẩy sự thay đổi mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới nếu muốn tồn tại. Theo đánh giá của các chuyên gia, trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19, chuyển đổi số sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm kiếm một mô hình hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn, vừa tiết giảm chi phí, vừa tối ưu nguồn lực để vượt qua khó khăn.

Kỳ vọng mới, khát vọng mới vì Quảng Trị thịnh vượng

16/10/2020 lúc 12:00

(TCCVO) Chiều ngày 16/10/2020, Đại hội Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 bế mạc. Qua 3 ngày làm việc, những nội dung quan trọng của Đại hội đã được diễn ra khách quan, dân chủ. 100% đại biểu đã biểu quyết nhất trí thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVII.

Danh sách Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025

16/10/2020 lúc 10:21

Chiều ngày 15/10/2020, phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã bầu 11 đồng chí vào Ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đồng chí Hồ Thị Thu Hằng, UVBTVTU được bầu làm Chủ nhiệm UBKT.

Đồng chí Lê Quang Tùng tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025

16/10/2020 lúc 08:57

Chiều ngày 15/10/2020, phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các chức danh chủ chốt. Đồng chí Lê Quang Tùng tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025. TCCVO trân trọng đăng danh sách Ban Thường vụ Tỉnh ủy và tiểu sử đồng chí Bí thư Tỉnh ủy.

Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/10

25° - 27°

Mưa

23/10

24° - 26°

Mưa

24/10

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Du Lịch Quảng Trị
Tiêu đề