TCCV Online - Năm mươi năm đã trôi qua, hào khí trong phong trào “Đồng khởi” ở Quảng Trị thu đông năm 1964, vẫn tỏa sáng, tỏa sáng mãi mãi.
Phong trào quần chúng nổi dậy, khởi nghĩa đồng loạt, phá ấp chiến lược, phá thế kềm kẹp, giành quyền làm chủ bắt nguồn từ “Đề cương cách mạng miền Nam”, từ Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (Khóa II) năm 1959, và Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 9 (Khóa III) tháng 12 năm 1963. Hội nghị Trung ương 9 đã phân tích rõ tình hình và kịp thời xác định nhiều vấn đề quan trọng về chiến tranh cách mạng miền Nam.
Mỹ - Diệm coi việc lập ấp chiến lược là “quốc sách” là “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Để đối phó với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, trên cơ sở thế và lực mới do cao trào “Đồng khởi” tạo ra, Đảng ta chủ trương chuyển cách mạng giải phóng miền Nam lên giai đoạn mới. Từ đây các cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành cuộc chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền Nam.
Cao trào cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam đã đẩy cuộc khủng hoảng trầm trọng của Mỹ - ngụy, được khởi đầu từ cuộc “Đồng khởi” 1959 – 1960, vào tình hế cực kỳ gay gắt, đến mức cuối năm 1963, Mỹ phải “thay ngựa giữa dòng”, phế bỏ Diệm – Nhu làm cho nền chính trị trong tay sai Mỹ lâm vào cuộc khủng hoảng triền miên.
Trung ương tiếp tục khẳng định chiến lược 3 vùng (miền núi, nông thôn đồng bằng, đô thị), vận dụng linh hoạt phương thức tấn công trên từng vùng, đồng thời nhấn mạnh kiên quyết phấn đấu không cho địch phân tuyến, phân vùng để giữ vững thế trận cài xen hiểm hóc, vững chắc của chiến tranh nhân dân. Tìm mọi cách kiềm chế và thắng địch trong cuộc “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị sẵn sằng đối phó với “Chiến tranh cục bộ” quy mô lớn của đế quốc Mỹ.
Kịp thời chuyển cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, nhưng vẫn tiếp tục tiến hành khởi nghĩa trong chiến tranh, kết hợp chiến tranh với khởi nghĩa, kịp thời nâng vị trí đấu tranh vũ trang lên theo yêu cầu của chiến tranh, nhưng vẫn thực hiện vũ trang và chính trị đi đôi, đưa cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam phát triển lên đỉnh cao mới, đánh địch bằng cả quân sự và chính trị, bằng cả ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược.
Tập trung đánh bại các biện pháp lớn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhưng hướng đúng mũi nhọn đấu tranh vào phá ấp chiến lược và làm thất bại các cuộc càn quét của quân chủ lực ngụy, làm phá sản mục tiêu chủ yếu trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy…
Thực hiện Nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thứ 9 và tinh thần quyết chiến, quyết thắng, của Hội nghị Chính trị đặc biệt, Trung ương cục miền Nam và Khủ ủy khu 5 đã quyết định động viên, nhân dân và các lực lượng vũ trang nắm vững thời cơ, nỗ lực vượt bậc, kiên quyết tấn công tiêu diệt địch, tích cực phá ấp chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường.
Ở Quảng Trị, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng khai mạc ngày 21 – 4 – 1964 tác Ro Ró đã quyết định “Khẩn trương động viên chính trị toàn dân, toàn quân và toàn Đảng bộ, vượt qua mọi khó khăn, nhược điểm, tận dụng hết thời cơ thuận lợi mới, đẩy mạnh và liên tục tiêu hao, tiêu diệt địch… mở rộng cao trào khởi nghĩa phá ấp chiến lược, phá thế kềm kẹp của địch, giành lại toàn bộ nông thôn, phát triển nhanh chóng phong trào thị xã, đồng thời củng cố, mở rộng căn cứ địa miền núi, giáp ranh, tạo điều kiện xây dựng căn cứ địa ở đồng bằng, tăng cường lực lượng chính trị, vũ trang, kinh tế, phối hợp với chiến trường chung, nhằm đánh bại âm mưu, thủ đoạn mới của địch, chuyển phong trào trong tỉnh lên một bước quan trọng và giành thắng lợi to lớn” (Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị tập II trang 146 - 147).
Khi phát động phong trào, chỉ đạo phải có điểm, có diện. Điểm phải tập trung sức làm triệt để, diện phải đều và rộng. Ngoài điểm chính phải có điểm phụ và phải chuẩn bị sẵn sàng điểm dự bị để khi căn bản làm xong ở điểm, có thể nhanh chóng chuyển sang điểm mới, liên tục mở ra và loang ra nhanh. Những nơi đã phát động quần chúng phá ấp chiến lược, phá thế kềm kẹp phải xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, làm chủ theo nhiều mức khác nhau.
Hội nghị coi việc khẩn trưởng chuẩn chị thực lực cách mạng, phát động đồng khởi ở nông thôn, đồng bằng là nhiệm vụ trung tâm cấp bách. Phát động đồng khởi lúc này là khởi nghĩa ở nông thôn đồng bằng, giành lại chính quyền về tay nhân dân, đưa quần chúng lên đấu tranh bằng hai chân ba mũi. Khởi nghĩa là sự nghiệp của quần chúng, tin tưởng vào khả năng bạo lực cách mạng của quần chúng. Cán bộ, đảng viên phải quyết tâm bám sát dân, ra sức phát động tư tưởng quần chúng, tích cực đào tạo và mạnh dạn sử dụng cán bộ hợp pháp.
Thường vụ Tỉnh ủy đã quyết định chỉ đạo điểm ở vùng Cùa (Cam Lộ); trọng tâm giành dân, làm chủ là Triệu Hải.
Sau một quá trình ráo riết chuẩn bị thực lực, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, đẩy mạnh các hoạt động vũ trang, binh vận (đêm 25 – 6 – 1964, trung đội tổng vệ số 18 xã Ba Thành mang súng về với cách mạng), cuộc đồng khởi nổ ra hôm 5 – 7 – 1964 cả ở điểm cũng như ở diện theo đúng kế hoạch, bài bản.
Trong những ngày đồng khởi phong trào quần chúng đã trở thành cao trào, quần chúng nhất tề đứng dậy, trống dong, cờ mở, nhất tề phá nát ấp chiến lược, nhất tề phá nát bộ máy kềm kẹp của địch. “Ấp chiến lược” được bọn địch xây dựng kiên cố, hàng chục năm, quần chúng nổi dậy phá nát trong một buổi. Nhân dân từ chỗ bị kìm kẹp, gò bó, trong nhà tù “ấp chiến lược”, mang một mo cơm ra đồng làm ruộng cũng bị địch bóc ra kiểm tra, mang theo một bầu nước đi cuốc đất cũng phải trình bào. Đè nén càng nặng, sức bật càng mạnh. Được giải phóng, mọi người hồ hởi, xông xáo tham gia các công việc các mạng. Thật đáng “khỏi nghĩa là ngày hội của quần chúng”. Chúng ta đã nhanh chóng xây dựng được chính quyền tự quản của nhân dân. Chính quyền tự quản chăm lo đời sồng nhân dân, động viên sức người, sức của cho kháng chiến, xây dựng được các đoàn thể giải phóng, lập được các trung đội du kích ở từng xã, củng cố khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Dân tộc giải phóng ở thôn, ở xã.
Cán bộ cách mạng, mấy ngày hôm trước còn ở trong tình cảnh ngày thì ngồi trong hầm bí mật hoặc ở ngoài rừng, đêm mới vào gặp được quần chúng, gặp từng người bí mật bây giờ thì cả ngày, cả đêm ở trong quần chúng, hàng ngàn hàng vạn người dân ở quanh cán bộ để được tuyên truyền, vận động, để được giao nhiệm vụ cách mạng.
Một cuộc đổi đời, một thời trổi dậy của hào khí hàng trăm năm tụ lại, gặp thời cơ đã bùng lên và tỏa sáng.
Cán bộ cũng giải thích cho dân: không phải khởi nghĩa rồi là hết chiến tranh, đồng khởi là tạo thêm thế và lực mới cho cuộc chiến tranh nhân dân phát triển. Đồng khởi ở nông thôn đã phá nát bộ máy kìm kẹp ở thôn, ở xã, nhưng bộ máy ngụy quyền ở cấp quận, cấp tỉnh, cấp Trung ương ở Sài Gòn, các lực lượng vũ trang của địch vẫn còn. Vì vậy quân và dân ta phải chủ động trong mọi tình huống, liên tục tấn công địch, liên tục nổi dậy, tạo thế mới lực mới, để tấn công địch giành thắng lợi ngày càng lớn hơn cho đến thắng lợi cuối cùng.
“Đồng khởi” ở nông thôn đồng bằng diễn ra từ đầu tháng 7 năm 1964 đến tháng một năm 65. Sơ kết, quân và dân tỉnh ta đã phá thế kềm kẹp của địch ở 236 ấp chiến lược (còn 185 ấp). Vùng giải phóng được mở rộng từ miền núi Hướng Hóa đến đồng bằng Triệu Hải, Gio Cam, khoảng 4/5 đất đai toàn tỉnh với gần 13 vạn dân (127.986 người).
Với thắng lợi của đồng khởi chúng ta đã tạo được thế liên hoàn giữa miền núi, và đồng bằng, nông thôn, thị xã, thị trấn vùng giáp ranh tỉnh Thừa Thiên Huế, vùng giải phóng Hạ Lào đặc biệt nối liền với khu vực Vĩnh Linh, với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mở ra điều kiện mới để ta xây dựng thế và lực mới.
“Đồng khởi” giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng bằng đã tạo điều kiện trực tiếp cho cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân (1968) cho cuộc chiến đấu giải phóng Khe Sanh (1968), chiến thắng đường 9 Nam Lào (1971) và giải phóng Quảng Trị ngày 1 – 5 – 1972. Và góp phần vào cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn niềm Nam, thống nhất Tổ quốc.
Nhắc lại những dòng lịch sử càng sáng tỏ chân lý lực lượng nhân dân là quyết định tất cả. Trong đồng khởi chúng ta đã biết tổ chức lực lượng, từ sức mạnh riêng lẻ của từng người dân, của từng chiến sĩ, của từng cán bộ, chúng ta đã chuyển thành sức mạnh tổng hợp của một thôn, một xã, một vùng, một huyện và toàn tỉnh, hướng vào một mục tiêu làm thất bại cuộc chiến tranh đặc biệt của địch, bồi dưỡng sức dân, để tiếp tục tấn công địch, phát triển chiến tranh nhân dân cho đến ngày toàn thắng.
N.T.K




