Hành trang nhập ngũ
|
T |
rung tuần tháng 7 năm 1980 tiết trời dần vào thu như dịu lại, đẩy lùi bớt cái nóng của miền gió Lào cát bỏng. Mẹ tôi tần ngần đứng bên cổng xanh của hàng chuối trước nhà, gió biển làm thổi tung những sợi tóc pha sương của một đời lam lũ, nét mặt hao gầy như hằn thêm những thấp thỏm, âu lo. Chỉ nửa tháng nữa thôi, đứa con thứ hai của bà- là tôi- lên đường nhập ngũ.
Ngược hẳn với tâm trạng của mẹ, tôi cảm thấy phấn chấn pha chút tự hào, tôi đến bên mẹ an ủi:
- Không sao đâu mẹ! Con đã lớn rồi, dù có đi đâu? Làm gì? Thì con cũng có anh em, đồng đội. Con chỉ lo một điều: Mẹ đã già rồi, mỗi khi mưa xuống, đường đất đỏ quê mình trơn lắm, lấy ai xuống dưới dốc gánh nước lên cho mẹ. Buột ra câu nói đó, tôi nảy ra ý nghĩ: Hay là, trước khi nhập ngũ, tôi gắng đào cho cha, mẹ tôi một cái giếng ở cạnh nhà? Rồi tôi quả quyết:
- Ngày mai con sẽ đào giếng.
Mẹ tôi xua tay:- Thôi con! Tuy già nhưng mẹ còn gắng được, con tranh thủ đi thăm, chào bà con làng xóm và bạn bè, giữ gìn sức khoẻ để lên đường.
Bất chấp lời can ngăn của mẹ, tôi mượn dây thừng, chặt phi lao làm nạng và trục, mượn thêm anh bạn hàng xóm để tiến hành đào giếng. Quần quật hơn mười ngày trời, cái giếng tròn vạnh với độ sâu 23 mét, tuôn ra những dòng nước ngọt, niềm vui vỡ oà trong tôi bởi trước lúc đi xa, mình đã giúp mẹ giảm bớt được công việc nhọc nhằn là: gánh nước phải leo dốc, để làm tròn thiên chức của người phụ nữ, nội trợ gia đình. Không đủ thời gian để tạm biệt bà con lối xóm, chỉ kịp ăn một bữa cơm liên hoan đạm bạc cùng cha mẹ và các em. Ngày 2/8/1980, tôi hăng hái lên đường nhập ngũ.
Có phải vì vậy nên khi nhét vào túi tôi ba đồng bạc (số tiền mà cô, bác, cậu, dì cho để động viên tôi) mà mẹ tôi đã khóc kiệt nước mắt. Tiễn tôi ra đến cổng, đôi chân bà khuỵu xuống, bàn tay nhăn nheo chỉ kịp vịn vào cây cọc tre cắm ở hàng rào sướt mướt. Tôi nuốt nước mắt vào trong cố làm vui, rồi rứt áo ra đi.
Gần 3 tháng huấn luyện ở quân trường Vĩnh Chấp, tuy không xa về địa lý, nhưng phương tiện thời bấy giờ và kỹ luật quân đội không cho phép chúng tôi có điều kiện về thăm nhà. Dẫu rằng ở quê, sắn khoai vẫn no ngày ba bữa, vào tân binh huấn luyện đêm ngày vất vả, nhìn thấy cái gì cũng thèm, có ba đồng bạc, tôi muốn mua thêm cái gì để lót dạ, nhưng vẫn đắn đo. Khung huấn luyện của sư đoàn 968 tập kết ở địa phương này tương đối lâu nên có thời gian tăng gia sản xuất. Khi có lệnh hành quân sang nước bạn Lào đi làm nghĩa vụ Quốc tế, số lúa mà Bộ khung tăng gia được đành phải bán tháo với giá rẻ. Là lính mới tôi đâu biết trước kế hoạch hành quân, chỉ suy nghĩ một điều rằng: Bố tôi có đánh bắt được con tôm, con cá, thì mẹ tôi cũng phải lê đôi chân trần gồng gánh đi hết làng trên, xóm dưới mới bán được. Vì lương thực thời đó còn khan hiếm, có được đồng tiền, chưa chắc đã mua được đấu lúa, bát gạo với giá rẻ cho chồng con; nên tôi bèn bỏ ra ba đồng bạc, nhờ nhà dân mua hộ để nhắn mẹ tôi lên lấy về.
Tập kết được lúa về nhà ở, thì ngay đêm đó đơn vị tôi có lệnh cấm trại. Trời vừa hửng sáng tiếng còi báo động, chúng tôi nhanh chóng khoác ba lô đến địa điểm tập trung, tại sân kho hợp tác xã Chấp Lễ đã có một đoàn xe chờ sẵn trong tư thế xuất phát lên đường. Đọc danh sách từng người lên xe, tôi mới được biết: Quảng đời lính chiến của mình sẽ gắn bó với đất nước Triệu Voi.
Không hiểu sao, sáng hôm ấy có một số người thân của tân binh biết được; họ chẻ đôi những que tre kẹp tiền vào đó, trèo lên thành cầu Hiền Lương chờ đoàn xe đi qua để gửi cho con em mình. Vẫn biết rằng: Làng tôi ở xa quốc lộ, rất thiếu thông tin, nhưng tôi cố nuôi hy vọng, nhoài người ra thành xe dán mắt nhìn vào đoàn người đưa tiễn để tìm nét mặt của người thân, Khi xe qua khỏi cầu Hiền Lương thì đồng nghĩa với việc: Niềm hy vọng trong tôi và một số đồng đội khác vụt tắt.
Tôi và đồng đội nhập ngũ với một hành trang “vô sản” như thế. Cũng may sao sau này, nhà dân nơi tôi trú ngụ, họ đã tìm ra địa chỉ để mẹ tôi lên lấy lúa về. Ngồi trên xe sang đất bạn, tôi mường tượng ra cảnh mẹ tôi đi gánh lúa, mái tóc pha sương của mẹ vờn theo gió biển, như chở lời ru theo tôi suốt cuộc hành trình.
Những năm tháng quân hành
Đoàn xe đến Đông Hà, rẽ lên đường 9, cứ theo hướng Tây mà tiến; qua gần hết địa phận Cam Lộ, chúng tôi ai cũng bồi hồi cái cảm giác của những người con sắp xa xứ. Toàn thể lặng đi như cố nuốt vào tâm khảm những vườn tiêu, ruộng lúa, những núi non điệp trùng, xanh mướt màu xanh của quê hương đang được hồi sinh; kẻo chỉ ít phút nữa thôi, những hình ảnh đó sẽ chẳng còn bao lâu nữa mới được gặp lại, và biết đâu trong số chúng tôi, có ai đó? Đây sẽ là lần cuối cùng được ngắm nhìn quê hương, xứ sở. Hết địa phận Lao Bảo, có người thốt lên một giọng buồn: “Xa quê thật rồi” làm chúng tôi rưng rưng muốn khóc.
Thời điểm này là đầu mùa khô của nước bạn, cái nắng trộn rét hanh hao, chưa kịp làm vàng vọt những tán cây của rừng khộp đang chuẩn bị vào mùa thay lá. Rừng bắt đầu khát nước, thấp thoáng đâu đó còn lỗ chỗ những hố bom, sót lại những vũng nước hiếm hoi đỏ quạch trộn lẫn với những bãi phân trâu. Mặc dù vậy, đoàn quân cũng phải dừng lại để chắt từng giọt nước, kiếm củi, bắc soong quân dụng nấu ăn. Nhìn những bát cơm ố vàng, chúng tôi mới nghiệm ra rằng: Gian khổ đang đợi mình ở phía trước.
Từ Đông Hà qua Mường Phìn, Đồng Hến đến Xê Nô, chúng tôi phải hành quân ngót nghét ba ngày đêm, chứ không phải được “Sáng ăn cơm ở Đông Hà, chiều ăn xôi ở Xa Vẳn” như bây giờ. Thỉnh thoảng cũng bắt gặp những đoàn quân của sư đoàn 384 hối hả mở đường và một số tốp bộ đội Việt Nam kết hợp cùng bộ đội Pa Thét Lào đi lùng sục dọc tuyến để bảo vệ cho chúng tôi hành quân sang nơi tập kết. Nghe những tiếng hỏi vọng lên lao xao: “Có ai là đồng hương Thanh Hoá không? Ai là đồng hương Hà Nam Ninh, Hà Tĩnh…? Chúng tôi càng cảm nhận được tình đồng hương, nghĩa đồng bào, đồng chí của những người con xa xứ, nó keo sơn, sâu nặng biết nhường nào!
Chúng tôi được sung quân vào trung đoàn 9, hay còn gọi là trung đoàn Cù Chín Lan anh hùng, thuộc sư đoàn 968, của binh đoàn 678. Doanh trại của trung đoàn bộ đóng cách ngã ba km 35 quốc lộ 13 khoảng 1,5km. Đây là một trong những vị trí chiến lược quan trọng, án ngữ các đầu mối giao thông đi các tuyến Xa Vẳn, Păk Xoòng, Păk Xế, Khăm Thàu, Keng Koọc rồi toả ra bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc của vùng Trung Lào.
Đặt chân xuống đất bạn, cái cảm giác đầu tiên là sự thanh bình, yên ả. Những liếp nhà sàn, chùa chiền, thấp thoáng ẩn hiện bên những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ và những cánh rừng xanh bát ngát màu xanh bình dị; cứ chiều chiều có những đoàn trâu đen bóng, khua tiếng mỏ đủng đỉnh về bản, những cô gia Lào duyên dáng, kẻo kẹt thoi đưa bên những khung vải dệt thổ cẩm, tiếng khèn nhạc Pòn dặt dìu trầm bổng hoà quyện với khói lam chiều để đưa hương thơm của mùi gạo nếp bay cao, toả xa, làm say đắm lòng người… Thấy những cảnh tượng đó, ai có thể nghĩ rằng: Đất nước này đang có chiến tranh.
Quả thật là như vậy, chiến tranh thời điểm này ở đây không ngang nhiên, lộ diện bằng việc có những đoàn quân ngoại bang xâm lược, nhưng nó tiềm ẩn trong những cánh rừng và núi non hiểm trở - là nơi trú ngụ của những tàn quân- có khi tiềm ẩn ngay trong những nếp nhà tưởng như thanh bình ấy. Thỉnh thoảng lại có những toán phỉ lưu vong từ Thái Lan dưới sự bảo trợ, giật dây của bọn đế quốc vượt sông Mê Công sang để đánh phá tuyên truyền phản động hòng bọp nát chính quyền cách mạng đang còn non trẻ của bạn. Do vậy, các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam ngoài việc chiến đấu để bảo vệ đất nước bạn, đồng thời bảo vệ từ xa cho đất nước mình còn kết hợp với bạn để tuyên truyền đướng lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào nhằm giác ngộ cho toàn dân đoàn kết xây dựng đất nước Triệu Voi ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
Với trách nhiệm vinh quang, cao cả đó, thử thách đầu tiên của người lính tân binh là học tiếng. Với những vốn liếng ban đầu có các từ cơ bản như: “phò, ma, ải, nọng, khạu, nạm…(bố, mẹ, anh em, cơm, nước…). Lính mới còn phải tìm tòi học hỏi những người lính cựu và thông qua tiếp xúc với dân để làm giàu vốn ngoại ngữ của mình. Xung quanh vấn đề học tiếng, có những chuyện cười ra nước mắt.
Số là, có một anh lính trẻ mới học bập bỏm được vài câu, vào bản Khăm Nọi tiếp xúc với dân, nhìn thấy cây me có những chùm quả nâu chín lủng lẳng quyến rũ, rất muốn xin, nhưng không hiểu hết tiếng đành nói bừa tiếng Lào pha tiếng Việt. Thay vì nói: “Me ơi me! Hạy lục kinh mạc Kham” (Mẹ ơi mẹ cho con ăn quả me), anh ta lại phán “Me ơi me hay lục kinh me” (Mẹ ơi mẹ cho con ăn me). Làm cho bà mẹ Lào hiểu sai nghĩa, bèn trả lời” “Me thầu lẹo lục ơi” (Mẹ già rồi con ạ), anh ta lại nói: “thầu cà kinh” (già cũng ăn). Làm cho những chàng lính cựu ngồi ôm bụng cười nắc nẻ, trước khi đi phải phiên dịch lại để chữa cháy cho đồng đội.
Cứ gì những chàng lính trẻ, những anh lính cựu trào, đôi khi cũng phạm những sai lầm đáng tiếc. Đơn vị chúng tôi nhận được mật báo, có một toán phỉ đang hoạt động xung quanh vùng Noọng Veng, Khăm Thàu. Đó là vùng căn cứ có truyền thống cách mạng của bạn. Trung đội tôi mỗi người chuẩn bị một cơ số với 5 băng đạn AK và 4 quả lựu đạn mỏ vịt, nai nịt gọn gàng xuyên rừng hành quân về hướng có địch. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi tập kết tại một cánh rừng có nhiều tán cây rậm rạp. Kinh nghiệm thực tế cho thấy: Các trận đánh giữa địch và đơn phương với bộ đội Pa Thét Lào, thì địch thường chủ quan, nán lại để giao tranh lâu hơn so với các trận đánh có sự hiện diện của bộ đội Việt Nam. Để đảm bảo yếu tố bất ngờ, ta thường sử dụng nguyên tắc trong hành quân, chiến đấu là: Các chiến sĩ tình nguyện phải sử dụng tối đa vốn tiếng Lào trong giao tiếp để địch lầm tưởng là bộ đội Pa Thét, nhằm tạo thêm cơ hội tiêu diệt địch. Lần này cũng vậy, chúng tôi phân ra từng nhóm thành hình bát quái để trú quân. Có những nhóm ngồi rì rầm tâm sự, không ngờ toán địch cũng tập kết đêm ở gần đó, nghe tiếng nói chuyện, có một tên địch giáng chừng lầm tưởng đó cũng là toán của chúng, nên mò đến để góp chuyện. Đến gần nhóm bộ đội của ta, tên địch lên tiếng “Pháy” (ai?). Một anh lính cũ của ta lại tưởng đồng đội của mình mượn bật lửa để hút thuốc, vì “phay” là lửa (mãi nói chuyện nên anh ta không phân biệt được âm tiết, liền thò tay vào túi quần móc chiếc bật lửa giơ cao lên và bật để ra hiệu cho bạn biết, tên địch bèn phát hiện được, vội vàng lia hú hoạ một loạt R15. Trận đánh diễn ra bất ngờ trong rừng đêm, không bên nào xác định được đội hình chính thức của bên nào. Do vậy, hai bên đành phải rút quân theo phương án đã định trước, may sao không ai bị thương vong.
Đó là những mẫu chuyện có thể nói là tương đối điển hình, để khẳng định một điều rằng: Học tiếng là một nhiệm vụ quan trọng của những người lính làm nhiệm vụ quốc tế, nó quan trọng không kém phần nhiệm vụ tiêu diệt địch. Nếu không chịu khó học hỏi, thì qua tiếp xúc, sẽ để lại những ấn tượng không tốt cho nhân dân hoặc có thể dẫn đến hy sinh cả tính mạng của mình và đồng đội.
Giai đoạn này ở Lào, quân địch thường dùng chiến thuật chiến tranh du kích, kiểu chiến tranh mà ta áp dụng ở Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Chúng thường cài mìn Clemo ở những đoạn đường xung yếu để mai phục tiêu diệt lực lượng của ta và bạn, trong khi đó sự giác ngộ cách mạng của người dân nhất là vùng sâu, vùng xa chưa được đầy đủ. Đã có người từng ngộ nhận rằng: địch là “Bộ đội rừng” còn ta là “Bộ đội Việt” nên ai đến cũng vui vẻ tiếp đón như nhau. Thậm chí ban ngày, có người dân khi tiếp xúc với ta họ là người hiền lành, chất phác- nhưng ban đêm lợi dụng sơ hở, họ sẵn sàng cướp vũ khí của ta để chạy theo địch.
Có một lần, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ kết hợp cùng bộ đội Pa Thét và du kích của bạn xuống vùng Buông Xạng (là một vựa lúa của vùng Keng Kooc) để tuyên truyền chính sách thu thuế nông nghiệp cho bạn. Đến một bản dân cư tương đối đông, nhà sàn san sát- dân bản đem xôi rượu và thức ăn đến tiếp đãi; trong số đó có một cụ già cho hẳn con chó thật to để chúng tôi làm thịt. Đêm đó, chúng tôi tập kết tại bản hoàn toàn bình yên; không ngờ một nửa bản cũng có quân địch cũng làm nhiệm vụ tuyên truyền thu thuế. Vì bản tính dân Lào vốn ôn hoà, có phần nhút nhát, hơn nữa trong số địch lại có một vài con em là thân nhân, nên họ thuyết phục địch không được lộ diện, để tránh những đổ máu không cần thiết ngay trên bản làng. Sau này chúng tôi mới được biết, khi quân ta rút khỏi bản, bọn địch lôi ngay ông già cho ta ăn thịt chó, ra giữa sân chùa đánh một trận thừa chết, thiếu sống, vì đã cho quân ta thức ăn ngon.
Qua đó cho ta thấy rằng: sự sống và cái chết của các chiến sỹ quân tình nguyện, luôn bị rình rập, liền kề trong gang tấc. Có những tiểu đội đi gùi gạo về cho đơn vị, bị địch phục kích bằng mìn Clemo. Nghe tiếng mình nổ, xác định được phương hướng, ta đưa quân đến tiếp viện thì địch đã cao chạy, xa bay để lại máu xương của đồng đội ta trộn lẫn với những hạt gạo trắng ngần mà thấy xót xa căm hờn.
Tôi còn nhớ, mùa hè năm 1982 có một đợt bổ sung quân sang Trung Lào rất lớn, trong đó có nhiều người con của quê hương Quảng Trị cũng được nhập ngũ đợt này. Khác với lần tuyển quân trước, sư đoàn 968 chuyển thẳng số tân binh từ Việt Nam sang hẳn bên Lào để huấn luyện. Đơn vị hoả lực C15 đóng gần Khăm Nọi là một trong những điểm được chọn làm nơi huấn luyện. Khi xe vừa đổ xuống địa điểm tập kết, số tân binh nhảy ào xuống, nháo nhác tìm lính cũ để nhận đồng hương. Trong số đó có Linh, nét mặt rất thư sinh như búng ra sữa khi nhận ra chúng tôi là người cùng quê bèn hớn hở hỏi:
- Các anh có biết anh Tính (anh ruột em) ở đơn vị nào không? Chúng tôi liếc mắt nhìn nhau, lặng đi trong giây lát, không ai nỡ nói ra một sự thật đau lòng là: Cách đây hai ngày Tính anh trai của Linh đã vĩnh viễn hiến máu, xương của mình nơi đất bạn.
Đơn vị Tính là C11, đóng gần bản Na Khăm, tương đối xa tiểu đoàn bộ D3. Đây là một trong những địa bàn có thể nói là vùng rốn của địch. Theo đài trinh sát tình báo cho biết, có những khoảng 120 tên đột nhập vào khu vực sông Mê Kông, thuộc huyện Khăm-thạ-bu-ly rồi chia thành hai toán đi sâu vào nội địa của bạn. Ba tiểu đội của C11 dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng đã lên đường đi lùng sục; chỉ còn sót lại một tiểu đội và đại đội phó ở lại làm nhiệm vụ tu sữa và giữ gìn doanh trại. Không ngờ một trong hai toán địch đó lại xuất hiện ngay gần nơi đơn vị đóng quân. Qua nguồn tin của quần chúng, xác định được hướng di chuyển của địch, đại đội phó Đoan hạ quyết tâm sử dụng lực lượng còn lại để tìm địch mà đánh. Trời càng về khuya, cái lạnh như càng cắt da thịt của các chiến sỹ. Họ hành quân dọc những cánh rừng, men theo những thửa ruộng vừa mới xong mùa thu hoạch.
Với dáng người nhỏ nhoi so với đội hình đồng đội, Tính nhanh nhẹn vượt lên đi trước đoàn quân. Ngược chiều hành quân của ta, địch bất ngờ xuất hiện. Cuộc chiến đấu không cân sức cả về người lẫn phương tiện chiến đấu, diễn ra ngay sau đó. Lợi dụng địa hình, địa vật của từng bờ ruộng, gốc cây, ụ mối…Quân ta nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, đồng loạt điểm xạ AK và ném lựu đạn vào đội hình địch. Biết lực lượng của ta mỏng, chúng kiên quyết đáp trả bằng hàng loạt tràng tiểu liên R15, cối cá nhân M79. Tiếng súng, đạn nổ đanh từng hồi như xé toang màn đêm, cày nát cả một cánh rừng. Tính bị thương ngay từ loạt đạn đầu, anh cố nhoài người di chuyển địa điểm xuống một vũng trâu đằm, miệng hô vang báo tin cho đồng đội là mình đã bị thương, tay thì mở chốt ném lựu đạn về phía địch- vô tình tiếng hô của anh đã làm cho chúng phát hiện rõ mục tiêu và ném lựu đạn xuống đó, để máu, xương anh vĩnh viễn trộn lẫn với màu phù sa của đất bạn. Gần hai giờ đồng hồ giao tranh, biết không thắng nổi lòng gang, dạ thép của các chiến sỹ quân tình nguyện, kẻ địch buộc phải tháo chạy để lại vô số xác chết kèm vũ khí, phương tiện chiến tranh. Hơn mười cán bộ, chiến sỹ của ta không ai còn lành lặn. Khi tiếng súng tắt đồng đội lần tìm nhau, bế được Tính lên thì thi thể của anh đã mềm oặt trong vòng tay đồng đội. Với chiến công anh dũng đó, sau này C11 được phong tặng đơn vị anh hùng.
Anh Đá, người tiểu đội trưởng huấn luyện của Linh cố giấu dòng nước mắt, miễn cưỡng trả lời:- Anh Tính của em hiện đi làm nhiệm vụ rất xa, khi nào về anh sẽ báo cho em biết.
Sau khi gần hoàn thành khoá huấn luyện, chúng tôi âm thầm đề bạt cấp trên cho Linh lên sư đoàn bộ làm cần vụ, để may ra có thể tránh được cho gia đình em một nỗi đau tương tự. Khi lên đường đi nhận nhiệm vụ mới, em mới hay tin dữ đó chúng tôi chỉ biết ôm em vào lòng cùng khóc, nhằm xoa dịu bớt nỗi đau trong trái tim em.
Chiến đấu gian khổ là vậy, người lính quân tình nguyện còn phải đối mặt với bệnh sốt rét rừng. Vào mùa sốt, có đơn vị 1/3 quân số phải điều trị. Các chiến sỹ quân y, phải đảm nhiệm tốt vai trò vừa là người mẹ, người anh, người chị… Tận tuỵ chăm sóc bệnh nhân. Sốt ở thể nhẹ thì có thể uống vài liều qui-nin là khỏi, nhưng sốt ác tính ở độ cao cũng có đồng chí phải hy sinh, hoặc nếu được cấp cứu kịp thời thì sau này còn ảnh hưởng đến đường sinh con, đẻ cái. Anh Mai quê ở Gio Mỹ - Gio Linh là y tá của đơn vị tôi rất được đồng đội quí mến bởi tính tình đôn hậu và tấm lòng nhiệt tình chăm sóc bệnh nhân. Sự hy sinh của anh tựa như một định mệnh được báo trước.
Mùa hè năm 1983 cấp trên có kế hoạch mở cuộc càn quét lớn tiêu diệt địch nên điều động bổ sung thêm quân y cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu, anh Mai được tăng cường quân y cho D1. Hôm anh lên trung đoàn bộ để nhận thêm thuốc men, bông băng cho chiến dịch, được tin tôi sắp được về nước để tham gia hội diễn nghệt thuật quân khu IV, anh có ghé vào đơn vị và dặn tôi: “Vài ngày nữa anh sẽ có việc lên trung đoàn, khi đó anh sẽ viết thư nhờ em chuyển về tận tay cho gia đình anh với”. Chúng tôi vui vẻ ăn cùng nhau một bữa cơm lính trước khi anh rời đơn vị. Ngay mờ sáng hôm sau, anh và đơn vị đã có lệnh hành quân chiến đấu. Trận đánh ấy diễn ra vô cùng khốc liệt, địch bị thương vong tương đối lớn, ta cũng có những thiệt hại đáng kể về người. Theo lời của một đồng đội: Giữa hai làn đạn của cuộc giao tranh, anh Mai lao mình đi cứu đồng đội, vừa băng bó vết thương cho đồng đội vừa chuyển số ấy về tuyến sau. Trong khi anh đang sơ cứu cho một đồng chí, thì một loạt đạn phóng tới, anh chỉ kịp đè bẹp đồng chí bị thương xuống, nằm úp thân mình lên để che chở, và một viên đạn đã găm trúng ngực anh. Sau trận đánh, thi thể của anh và một số chiến sỹ khác được đưa về đơn vị tôi để làm thủ tục mai táng. Thò tay vào túi ngực anh, tôi thấy một bức thư viết dở đã loang máu. Chúng tôi chỉ còn biết ngậm ngùi thắp những nén nhang để mong cầu linh hồn các anh được siêu thoát.
Chiến trường C thời kỳ ấy không kém phần khốc liệt là vậy, nhưng các chiến sỹ quân tình nguyện vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Sau những cuộc hành quân chiến đấu, anh em, đồng chí lại trở về đơn vị quây quần bên nhau để sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn, đọc cho nhau nghe những bức thư từ quê nhà yêu dấu, kể cho nhau nghe những mẫu chuyện hài hước từ Bắc chí Nam để ôm bụng cười như vỡ toang doanh trại.
Vui nhất là mùa hội diễn. Thực sự cả sư đoàn chỉ tuyển một số bộ đội nữ có thể đếm được ở đầu ngón tay, để biên chế cho sư đoàn bộ và viện quân y 24, còn các đơn vị trực tiếp chiến đấu chỉ toàn là nam giới. Thế mà khi lên sân khấu hội diễn, hầu như đơn vị nào cũng có diễn viên nữ mà toàn là “nữ rất xinh” mới lạ. Chả là, đơn vị nào cũng chọn những chàng lính có khuôn mặt trái xoan, mắt tròn đen láy, đội tóc giả, mặc trang phục nữ, tập nhìn nhau thật tình tứ để biểu diễn. Lính văn nghệ hoá trang tài tình đến mức dân của bạn nhìn thấy cứ xuýt xoa: “Phù sao việt ngam lai” (con gái Việt Nam đẹp lắm).
Nhân dịp Tết nguyên đán năm 1984, trung đoàn tôi xây dựng một chương trình đi biểu diễn phục vụ cho cán bộ, chiến sỹ ở các đơn vị và nhân dân trong vùng. Lịch diễn tương đối kín và thông báo trước cho các đơn vị, nên trung đoàn điều hẳn một chiếc xe để phục vụ đoàn. Trước đêm diễn ở D1, mật báo của dân cho biết, có khả năng địch sẽ mai phục đoàn ở một vị trí nào đó trên đường đi biểu diễn. Để không bị cháy lịch diễn, đoàn đã thay đổi kế hoạch hành quân. Cán bộ, diễn viên của đoàn đành phải vác đàn, trống…cầm la bàn xuyên rừng về tiểu đoàn 1. Đến nơi, trời đã nhá nhem tối, không kịp ăn uống, chúng tôi cùng nhau dựng sân khấu, bơm đèn măng sông, vội vàng hoá trang, rồi lên sàn diễn. Khi hoàn thành chương trình, ai nấy đều mệt nhoài. Tôi tìm chỗ để tẩy trang, hỏi đồng chí liên lạc của tiểu đoàn:
- Đồng chí ơi! Giếng của đơn vị ở đâu?
Vì đang chuẩn bị bữa ăn khuya cho diễn viên, đồng chí liên lạc chỉ kịp chỉ vị trí giếng, mà quên nhắc, giếng ấy chưa có thành. Từ ánh sáng ra bóng tối, trời như càng mù mịt thêm. Tôi, một tay tìm giây gàu, một tay tìm miệng giếng tức thì đã có cảm giác người lơ lửng giữa không trung. Tôi lịm đi giây lát, đến khi chạm mặt nước, mới biết mình bị rơi xuống giếng. Khi nhìn lại xung quanh lòng giếng có nhiều đá học mới có cảm giác rùng mình, không rõ rơi ở tư thế nào mà tôi chỉ bị xây xước nhẹ ở đầu gối. Kéo được tôi lên, đã thấy một đóng lửa bập bùng, trải cạnh đó một chiếc chiếu và vô số chăn. Người thì xoa dầu, người thì đắp chăn ủ ấm và tíu tít hỏi han. Hơi ấm và tình thương của đồng đội đã giúp tôi định thần nhanh chóng, tựa như có một sức mạnh diệu kỳ.
Đồng chí Đường, trưởng đoàn tếu táo:- Nào! diễn viên “gạo cội” ca, múa của đoàn, có còn dũng khí để biểu diễn nữa không?
Tôi cũng vùng dậy, giơ tay lên trán đáp trả:- Kính thưa “ông bầu” tôi đã sẵn sàng.
Sau đợt ấy. Đoàn chúng tôi cũng được vinh dự thay mặt sư đoàn về tham gia hội diễn. Công bằng mà nói, chương trình của chúng tôi so với các đoàn ở trong nước có kém hơn về thực lực do nhiều điều kiện liên quan. Giữa nhà hát hoa lệ của thành phố Huế, đoàn bị bể dĩa một tiết mục múa. Nhưng chắc có lẽ vì là lính tuyến một của quân khu IV nên mới được các đoàn bạn và nhân dân nhiệt liệt ủng hộ.
Mùa Chăm pa cuối cùng
Chúng tôi sống, chiến đấu như thế đã trải qua bốn mùa hoa Chăm pa nở rộ- loài hoa là một trong những biểu tượng đẹp đẽ, đặc trưng cho đất nước và con người của bạn- rất đỗi hiền hoà, son sắt, thuỷ chung. Có thể nói, từng góc cây, ngọn cỏ, dòng suối và khúc sông nào trên đất bạn lại không ghi dấu những vết chân của các chiến sỹ quân tình nguyện qua nhiều thế hệ, của nhiều miền quê, để xây đắp nên tình nghĩa Việt Lào keo sơn, thắm thiết. Ngay tại Quảng Trị, trong muôn ngàn người con ra đi giúp bạn, cũng có nhiều đồng chí vĩnh viễn hiến máu xương của mình cho đất nước Triệu Voi, mà chưa một lần có dịp nhìn lại quê cha đất tổ.
Mùa thu năm 1984, là loạt ra quân cuối cùng của đợt lính nhập ngũ năm 1980. Thời gian ở trên đất bạn tuy chưa phải là nhiều, nhưng cũng đủ cho chúng tôi đong đầy biết bao kỷ niệm, để khi gần chia tay đất nước bạn, đã làm cho bao trái tim thổn thức. Nhớ những đêm hội mùa nồng say men rượu, nhịp nhàng cùng các chàng trai, cô gái xoay tròn trong điệu múa lăm vông. Nhớ những cái tết “pi mày” té nước cầu may. Nhớ những đợt đi nằm vùng, dưới ánh trăng vằng vặc, già trẻ, gái trai của người dân đất bạn quây quần đề nghị chúng tôi kể chuyện “cạm phạ- nàng ngà”- một câu chuyện cổ tích nổi tiếng của dân gian Lào- và đề nghị chúng tôi hát những bài ca của đất nước Việt… thông qua đó, nó tựa như một sợi dây vô hình níu kéo làm xích lại gần nhau của những trái tim đồng cảm giữa con người với con người khác xứ. Chả thế mà biết bao chiến sỹ quân tình nguyện trước cái tên riêng của mình còn được dân bạn gắn thêm từ “Khăm” (vàng) để tỏ lòng yêu mến và nhận là con nuôi như người thân ruột thịt của mình; cũng không ít những cô gái Lào xinh đẹp, dịu dàng duyên dáng đem lòng thầm yêu, trộm nhớ những chàng trai đất Việt, anh dũng- thông minh.
Chỉ còn vài ngày nữa chúng tôi khoác ba lô trở về quê mẹ, anh Lưu cùng một đồng hương khác vào bản Na cách nơi đóng quân của đơn vị theo đường chim bay không xa, để tạm biệt bà con dân bản. Mọi người tụ tập về nhà trưởng bản để làm lễ “Phục khén” (Lễ buộc chỉ cầu may), khi làm lễ xong, hai anh em nói lời tạm biệt để ra về thì bà con càng xúm xít lại kiên quyết tìm mọi cách để giữ chân họ. Phải mất vài tiếng đồng hồ các anh mới rời được bản, nhưng dân bản tựa như một đám mây vần vũ bao bọc lấy các anh cho đến khi về cổng doanh trại. Thấy hiện tượng khác lạ các anh bèn hỏi, thì các người già trả lời: - “Phuộc hàu dạc đậy phuộc lục phốp căn phò, me, ải, noọng, bò đậy tái”…(chúng tôi muốn các con được gặp bố mẹ, anh em, không được chết)…Bởi vì ngay tại bìa rừng ở cạnh đường ra khỏi bản, có vài tên phỉ phục kích các anh. Dân làng biết được, một mặt cố giữ chân các anh, cho người đi thuyết phục bọn phỉ không được bắn giết nữa, các anh sắp được về quê hương rồi…Thuyết phục mãi chúng cũng chịu rút lui, nhưng để đảm bảo chắc chắn, dân bản tìm mọi cách đưa các anh về đến nơi an toàn.
Cho đến giờ đây- Đất nước Chăm pa đã sạch bóng quân thù. Những người lính quân tình nguyện đã làm tròn nghĩa vụ quốc tế, không còn hiện diện trên đất nước bạn - nhưng chắc chắn hình ảnh đẹp đẽ của anh “Bộ đội cụ Hồ” đất Việt, vẫn còn đọng mãi trong tiềm thức của bao thế hệ người dân đất bạn trong công cuộc xây dựng đất nước Triệu Voi vì hoà bình, dân chủ, phồn vinh và hạnh phúc. Còn những người lính chúng tôi, đã một thời đi qua chiến tranh đó là những tháng ngày có ý nghĩa tô đẹp thêm vườn hoa hoài niệm của một đời người.
H.C.K




