Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Hôn nhân và gia đình của người Pako

1. Quan hệ hôn nhân:

Về quan hệ hôn nhân của người Pako không khác gì mấy đối với các tộc người cùng cộng cư như Tà- ôi, Bru- Vân kiều. Tuổi yêu đương đối với nam nữ thanh thiếu niên người Pako thường từ mười bốn, mười lăm tuổi trở lên. Đây là tuổi trưởng thành theo quan niệm của đồng bào Pako. Tuy nhiên, muốn mọi người công nhận là đã thực sự trưởng thành, con trai con gái người Pako phải thực hiện nghĩa vụ “Cà răng, căng tai”. Người con trai, con gái tìm hiểu nhau qua những buổi làm nương rẫy, qua những lần gặp nhau trong các dịp hội hè... Nhưng hình thức tìm hiểu phổ biến nhất đối với con trai con gái người Pako là các buổi “đi sim” hay “Poộc xu”. Cũng như những tập tục khác, tục “đi sim” hay “Poộc xu” là một tập tục, một sinh hoạt lành mạnh, một nét đẹp trong văn hóa người Pako mà nhóm tác giả chúng tôi đã có dịp trình bày chi tiết trong công trình khảo cứu “Tổng kết di sản Văn hoá dân gian tộc người Bru- Vân kiều”, không nhắc lại ở đây nữa. Vấn đề ở chỗ là tập tục “Poộc xu” hay “đi sim” này, không biết ai vay mượn của ai, ai chính là chủ nhân của sản phẩm văn hoá tinh thần này? Nói như vậy, hỏi vậy không phải “poộc xu” của người Pako không có những đặc điểm riêng. Xin được trình bày tóm tắt những nét riêng đó như sau:

Thông thường vào các buổi tối, nhất là vào các buổi tối của tuần trăng sáng, các chàng trai và cô gái theo nhau vào rừng, hay đến các nhà “xu” để trò chuyện, thổ lộ tình cảm... Có khi họ tự động tập hợp lại thành một tốp bảy, mười người hay đông hơn, lũ lượt đi từ Vel này sang Vel khác... Bao giờ cũng thế, lối sinh hoạt ban đầu của “poộc xu” là lối sinh hoạt tập thể, trò chuyện tập thể, hát tập thể... nhưng khi đã “phải lòng nhau” các chàng trai cô gái tự động tách ra từng đôi riêng lẻ. Dưới ánh trăng khuya và trời sao, đôi nam nữ thanh niên gửi gắm lòng mình qua những bài hát giao duyên hoặc các loại nhạc cụ như đàn môi, a - mam, khèn bè... Cứ như thế người con gái đáp lại những lời dân ca tình tứ, trao duyên dưới ánh trăng khuya. Sau mỗi lần ”đi sim” hay ”Poộc xu”, người con trai thường tặng người con gái những vật kỷ niệm như vòng bạc, chuỗi cườm... Nhưng cũng có khi người con trai tặng người con gái một ít tiền, nếu cô gái nhận lấy những vật kỷ niệm nói trên có nghĩa đã ngầm hẹn ước với chàng trai. Còn nếu cô gái từ chối vật kỷ niệm có nghĩa là không đồng ý tiếp tục tìm hiểu, chàng trai phải chuyển sang đối tượng khác. Những kỷ vật làm tin cũng sẽ được hoàn trả lại cho chàng trai nếu sau này do một nguyên nhân nào đó đôi trai gái không trở  thành vợ chồng. Trai gái Pako khi đã tìm hiểu kỹ càng, thấy thực sự yêu nhau và không thể nào xa nhau được nữa sẽ báo cho bố mẹ mình biết. Nếu ông bà, bố mẹ đồng ý, chấp nhận với nguyện vọng của con cái họ sẽ nhờ ông mai, bà mối, thông thường là ông cậu đánh tiếng cho nhà gái biết. Nếu như bố mẹ thấy không được họ sẽ cản trở cuộc hôn nhân. Nhưng thông thường khi con cái đã đồng ý cha mẹ cũng chấp thuận, cha mẹ rất tôn trọng việc lựa chọn tình yêu của con cái.

Đối với đồng bào Pako ông mai bà mối có vai trò quan trọng là người thay mặt nhà trai thăm hỏi nhà gái nhiều lần. Mỗi lần thăm, nhất thiết phải có món quà nhỏ như con gà, cơm nếp, chai rượu tặng gia đình nhà gái. Ông mai bà mối là sợi dây nối liền hai gia đình, là nguồn chuyển tin mỗi khi có việc xảy ra. Trong đám cưới ông mai bà mối là người chủ hôn. Sau đám cưới ông là người đứng ra theo dõi, giám sát, giảng hòa nếu đôi vợ chồng có những xích mích. Nhiệm vụ giám sát này của ông mai bà mối còn kéo dài đến lúc đôi vợ chồng đó qua đời.

Khi đã được đồng ý, nhất trí của cả hai bên, nhà trai tiến hành lễ ăn hỏi (poộc lô căm pay). Trong lễ ăn hỏi nhà trai cử một đoàn gồm (người làm mối, chủ làng ”Ariay Vel” cầm kiếm bạc, ”A ăm” bố đẻ của chàng trai, trưởng họ, em gái bố mang gánh đồ đạc của cải). Những đại diện đó của nhà trai sẽ gặp chủ làng, trưởng họ, bố và ông cậu cô gái bàn bạc thống nhất ngày cưới và số của cải tiền bạc của hai bên sẽ trao đổi cho nhau trong ngày cưới. Khi đã thỏa thuận xong việc cưới hỏi cũng như những lễ vật đi kèm, họ nhà trai ra về và chuẩn bị các lễ vật thách cưới để đúng ngày hẹn họ nhà trai sẽ sang họ nhà gái. Khi họ nhà gái đã lấy xong lễ vật, cô gái được xem như là ”bông hoa đã có chủ” chỉ chờ ngày tốt chàng trai sang đón về. Ngược lại nhà gái sẽ tặng nhà trai vải để may váy áo mới trong ngày cưới. Trường hợp nếu không may cô gái hứa hôn chết, nhà gái phải trả lễ vật hoàn lại cho nhà trai. Tuy vậy vẫn có trường hợp những chàng trai nhà nghèo khó lấy được vợ vì không đủ của hồi môn nhưng nếu cha mẹ cô gái thương chàng trai có thể bỏ qua các thủ tục nhưng phải đến ở rể. Việc ở rể của các chàng trai Pako nhiêu khê đến mức, có khi hai vợ chồng đã sinh dưỡng được từ 3 - 5 đứa con, sau khi đã tích luỹ đủ số của cải làm lễ cưới mới đưa được vợ con về nhà mình!...

Khi đã nhận xong lễ vật, nhà trai bàn với nhà gái việc đón dâu về nhà, thường là những ngày trăng lên như ngày mồng 6, 8,10, 16, 20... hoặc những ngày trăng xuống như 22, 26, 28... trong tháng và báo một ngày cố định trong những ngày đó để đón cô dâu về nhà. Ngày đón cô dâu về nhà trai gồm có những người họ hàng của nhà trai, ông mối còn bố mẹ và những người thân của cô gái không tham dự trong đoàn đưa dâu. Nhà trai chuẩn bị gạo, thịt, rượu cho lễ cưới được tiến hành tại nhà mình. Nhà gái trong ngày cưới theo phong tục phải mang sang nhà trai một số lễ vật nhằm góp thêm cho nhà trai tổ chức lễ cưới. Lễ vật nhà gái thường là gà, cá, chim, rượu, một ít gạo tẻ... Lễ cưới của đôi trai gái ít nhất kéo dài một ngày một đêm. Trong thời gian đó, bà con họ hàng đôi trai gái ở trong và ngoài Vel đều tập trung tại nhà trai để vui chơi, ca hát, ăn uống thỏa thích.

Trong thời gian tiếp khách lễ cưới, đôi trai gái bắt buộc phải thực hiện nhiều tục lệ như tục rửa chân (Parin) của cô dâu. Trước khi cô dâu bước lên cầu thang nhà chồng, lập tức một người trong họ nhà trai lấy nước vẫy vào hai bàn chân cô dâu và đeo vào tay cô dâu một chiếc vòng bạc. Tục ăn cơm của đôi vợ chồng (cha - chum) là việc nhà trai làm sẵn mâm cơm, thịt gà, rượu cúng Yang; sau đó hai vợ chồng cùng ăn chung với nhau trước sự chứng kiến của ông mối. Ông mối làm một công việc rất tượng trưng là nắm hai vắt cơm nhỏ cùng với miếng gan gà cho vào miệng người chồng và người vợ nhưng ý nghĩa thì vô cùng thiêng liêng, rằng thực sự bây giờ trở đi đôi trai gái mới nên nghĩa chồng tình vợ, trong sáng, thuỷ chung và gắn bó suốt đời.

Ngoài ra đôi trai gái cũng như mọi người tham gia lễ cưới phải tuân thủ những kiêng cử khác. Trong đám cưới chú rể chỉ được ăn những món do nhà gái mang tặng, còn cô dâu và họ nhà gái chỉ ăn những món của nhà trai. Khi đi rước dâu, đồng bào rất kiêng thấy cây đổ, nghe tiếng mang kêu, người đi sau không dẫm chân người đi trước. Ba ngày sau khi tổ chức lễ cưới, đôi vợ chồng trẻ cùng những người thân bên nhà trai mang một số lễ vật sang nhà gái tổ chức lễ lại mặt (đe aloh) tại nhà gái. Tại đây, mọi người làm cơm cúng trình báo ma nhà gái để biết mặt chàng rể. Sau lễ cúng mọi người ăn uống, ca hát vui vẻ.

Trong hôn nhân, luật tục người Pako nghiêm cấm người cùng một Yã (một dòng họ) quan hệ hôn nhân với nhau. Ở người Pako các Yã  đều có một tên gọi riêng theo vật thiêng, tức là tô - tem giáo của mình. Mỗi vật thiêng đều có những truyền thuyết diễn giải nguồn gốc và mỗi thành viên trong Yã tuyệt đối không bao giờ ăn thịt hay làm hại đến các con vật, thực vật, đồ vật mà tổ tiên mỗi dòng họ đã truyền lại. Đơn cử một số các con vật, đồ vật, thực vật kiêng đối với các dòng họ của người Pako sau đây: Achoh (con chó), Ahatra (con mèo), Patặc (con hổ), Lalay (con sóc), Tăngqual (cối giã gạo), Tuvel (bắp chuối rừng), Plăng (cỏ tranh)... Trai gái trong cùng một Yã lấy nhau, hai gia đình của đôi trai gái sẽ bị làng bắt phạt trâu. Các thanh niên trong làng dưới sự điều khiển của già làng sẽ phải làm bè gỗ để thả đôi trai gái trôi sông, trên bè đựng một ít đồ dùng cá nhân và đặc biệt không cho hai người này dụng cụ để chống bè như cây sào hay mái chèo. Người Pako quan niệm việc lấy nhau cùng một họ là phạm tội với Yang, với tổ tiên, bởi thế trên bè của đôi trai gái bị thả trôi sông không được có cây sào chống, phải để họ vật lộn với sóng nước như là chịu sự trừng phạt của Yang và tổ tiên vậy. Nhưng nếu đôi trai gái đó do may mắn hay phép nhiệm mầu nào đó mà còn sống sót thì họ có quyền quay về, bấy giờ bản làng sẽ thừa nhận họ là vợ là chồng, sẽ sống với nhau song phải làm một ngôi nhà riêng để ở. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của người Pako hết sức thông thoáng trong việc tìm hiểu, kết hôn và bình đẳng nam nữ nhưng tất thảy họ đều bị chế tài của luật tục mỗi khi vi phạm. 

Một điều khác nữa là trong hôn nhân tập tục người Pako còn nặng về hình thức trao đổi, vì vậy lễ cưới lễ hỏi, họ gái đòi hỏi đều được nhà trai đáp ứng. Đó là nguyên nhân dẫn đến những hình thức gã ép trong hôn nhân. Khi đôi trai gái bị ép buộc lấy nhau, nếu người con trai bỏ vợ nhà gái sẽ không trả lại lễ vật, nhưng nếu cô gái bỏ chồng nhà gái phải hoàn trả lại lễ vật cho nhà trai và phải tạ tội với làng bằng cách cho làng một con lợn. Trong trường hợp nam nữ chưa tổ chức lễ cưới nhưng đã có thai sẽ bị dân làng phạt một con lợn, một con gà. Lễ cúng tổ chức ở nhà gái và lễ vật này nhà trai phải chịu. Sau đó nhà trai đưa cô gái về nhà mình và phạt lại nhà gái một con lợn. Làng lại tiếp tục phạt nhà trai một con dê nữa để cúng tạ tội với thần linh trong bản làng. Sau khi nạp phạt và tổ chức cúng tế đầy đủ, đôi nam nữ ấy sẽ được sống với nhau cùng với các đôi vợ chồng khác trong cộng đồng.

  Tóm lại, hôn nhân là biểu hiện một mặt rất quan trọng của quan hệ xã hội. Nó phản ánh những chuẩn mực ứng xử của con người với con người trong xã hội. Hôn nhân của người Pako còn mang đậm dấu ấn của tàn dư mẫu hệ ví như vai trò của ông cậu trong hôn nhân và chịu sự chi phối của những quan hệ dòng họ, láng giềng cận cư. Tuy nhiên, nhiều tập tục trong hôn nhân của người Pako đã thể hiện một kiểu thức hôn nhân mua bán, trao đổi với địa vị của người phụ nữ bị hạ thấp. Và trong quá trình tiến hành hôn nhân, người Pako hiện còn thực hiện nhiều nghi lễ, quy ước có tính phong tục, tôn giáo bắt buộc đôi trai gái và tất cả thành viên trong cộng đồng phải tuân theo như là luật tục quy định vậy.

2. Về quan hệ gia đình:

Người Pako hiện nay đang còn tồn tại trong những gia đình lớn có nhiều kiểu dạng khác nhau. Đây là một tập hợp nhiều bếp của các gia đình nhỏ lại với nhau trong một ngôi nhà sàn dài. Vì vậy quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là hết sức đặt biệt. Ở đây vừa có quan hệ kinh tế vừa có quan hệ hôn nhân (các cặp vợ chồng), vừa có quan hệ huyết thống (theo trực hệ hay bàng hệ)... Thường những ”đung” lớn (gia đình lớn) có một Yã (dòng họ) trong một Vel của người Pako. Trong trường hợp này người đứng đầu trong các gia đình lớn đó đồng thời là trưởng họ. Ở người Pako trưởng họ phải đảm bảo những điều kiện như sau: am hiểu phong tục tập quán, nắm rõ mồ mả cha ông, lắm lý lẽ, nhanh nhẹn trong giao tiếp ứng xử... Người trưởng họ có nhiều quyền hạn trong dòng họ. Ông là đại diện cho gia đình lớn (dòng họ) quan hệ với các thành viên khác, các dòng họ khác trong bản làng. Tiếng nói của trưởng họ (xuất Yã) là tiếng nói của tất cả các thành viên trong dòng họ. Mỗi nhà nhỏ trong gia đình lớn (trong dòng họ) khi có những việc quan trọng như chọn đất làm rẫy, tế lễ ngày mùa... đều hỏi ý kiến của trưởng họ... Mối quan hệ giữa gia đình lớn và dòng họ ở người Pako là quan hệ khắng khít. Ở người Pako trưởng họ nhiều khi chính là chủ ”đung”, khi trong ”đung” có những công việc gì người chủ ”đung” tập họp mọi thành viên lại bàn bạc những công việc lớn như sửa nhà, quy định và sắp xếp những bếp riêng trong ”đung”. Thường các cháu được phân bếp về phía trái, còn anh em đối với chủ ”đung” thì phân về phía phải. Ở giữa ”đung” là gian phòng khách và bếp của chủ ”đung”. Có những trường hợp trong ”đung” hết bếp, phải làm nhà tiếp, đó là hình thức nối ”đung” đối với những người mới lập gia đình.

Trong gia đình lớn ”đung” dài của người Pako, mọi tài sản như nhà cửa, nương rẫy, chiêng ché, súc vật... vừa là tài sản các thành viên trong gia đình vừa là tài sản của cả dòng họ; cũng như tất cả mọi thành viên trong gia đình cũng là tài sản của cả dòng họ. Tất cả mọi thành viên trong gia đình đều có quyền sử dụng tư liệu sản xuất cũng như những tài sản khác. Họ cùng tham gia lao động trên nương rẫy... và cùng tiêu thụ sản phẩm làm ra. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình lớn của người Pako khá mật thiết, gắn bó. Mỗi thành viên trong gia đình lớn trong quan hệ với những người xung quanh mình phải tuân thủ, chịu ràng buộc của nhiều mối quan hệ. Ví như tính chất của quan hệ dòng họ (quan hệ con chú, con bác, con anh, con em... tính theo bàng hệ; Tính chất của quan hệ gia đình (quan hệ cha con, vợ chồng, anh em tính theo trực hệ. Mọi cái đều được thể hiện trong cách xưng hô, trong cách xử thế hàng ngày của các thành viên trong gia đình. Đối với đồng bào Pako những người nhỏ tuổi hơn đều tự nhận mình là em và gọi những người lớn tuổi hơn mình là anh hay chị. Những người con chú cũng nhận mình là bậc em và gọi người con bác là anh hay chị. Trật tự sắp xếp đối với thành viên trong gia đình lớn là khá chặt chẽ và có thứ bậc rõ ràng.

Trong luật tục người Pako, những quy định về trật tự còn được áp dụng trong việc chôn cất người chết. Mỗi dòng họ ”Yã” người Pako thường có những khu nghĩa địa riêng trong rừng ma. Đối với những người chết ”bất đắc kỳ tử” đều được chôn trong khu vực được quy định sẵn của dòng họ. Khu vực nghĩa địa đó đồng bào phân chia ra khu vực riêng cho mỗi hộ gia đình. Đồng bào quy định ông bà chết chôn ở trên cao, con cháu chết chôn ở chỗ thấp hơn ông bà... Ở người Pako không có tục thờ người chết trong nhà giống như người Kinh. Trong ”đung” dài chỉ có treo một cái bát được bao bọc kỹ lưỡng, người ta gọi đó là ”Yàng đung”.

Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình người Pako là quan hệ chồng chéo nhưng rất có trật tự. Mọi thành viên trong gia đình đó luôn yêu thương nhau, giúp đỡ, đùm bọc, lễ phép, kính trọng nhau... Chính vì vậy hiện nay ở đồng bào Pako vẫn còn hình thái đại gia đình này, trong những cái ”đung” dài. Trong gia đình nhỏ, cũng như gia đình lớn ở người Pako, từ lâu người đàn ông đã xác lập vị trí của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Người đàn ông giữ những chức vị chủ chốt của làng như chủ đất, chủ dòng họ, chủ làng ”Ariay Vel”, thầy cúng, thầy mo ”Nokru”... Trong gia đình người đàn ông có quyền hành lớn, quyết định nhiều công việc từ công việc làm ăn, hôn nhân đến công việc tôn giáo tín ngưỡng. Mọi tài sản trong gia đình về danh nghĩa do người đàn ông nắm giữ. Người đàn ông là người quản lý của cải nương rẫy, trâu bò, công cụ lao động... Tất cả mọi tài sản trong gia đình người Pako được chuyển từ tay người đàn ông này sang người đàn ông khác theo ngôi thứ. Khi người bố chết người con trai cả sẽ thay bố quản lý tài sản chung gia đình. Những người con trai khác cũng được dự chia phần của cải nhưng ít hơn. Đối với những người con trai còn nhỏ, phần của cải được chia sẽ do người anh cả nắm giữ cho đến khi lập gia đình. Là người chủ gia đình, người đàn ông phải đứng ra trực tiếp tìm kiếm đất rừng cho gia đình làm nương rẫy. Ông là người chặt phá những cây to trong nương rẫy, là người đi trước, chọc lỗ cho người đi sau gieo hạt. Khi làm nhà người đàn ông là người đốn gỗ, và đưa gỗ từ rừng về. Người đàn ông luôn đảm nhận những  công việc nặng nhọc mà người đàn bà không đảm đương nổi, họ là những người khéo tay đan những cái gùi đẹp, làm những chiếc đàn xinh xắn. Người chủ gia đình, người bố ”A ăm” là người trực tiếp lo toan hôn nhân cho con cái. Bố mẹ là người lo mọi phí tổn trong hôn nhân. Trong quan niệm của đồng bào Pako chỉ có người đàn ông mới đủ điều kiện tiếp xúc với thần linh”Yang”, cầu mong các thần linh phù hộ làm ăn phát đạt và có sức khỏe. Đồng bào Pako rất kiêng kị phụ nữ trèo lên mái nhà để lợp. Tập tục của đồng bào quy định chỉ có người đàn ông mới được dựng cột chính khi làm một ngôi nhà mới... Người đàn ông chủ gia đình, chủ ”đung” là người có khả năng nhiều mặt, khi quyết định một cái gì đó ông tỏ ra rất sáng suốt. Quyết định của ông đều được mọi người công nhận.

Trong đồng bào Pako, người chủ gia đình đứng ra tiếp xúc quan hệ với gia đình khác, với các dòng họ khác và xã hội. Người Pako là những người hiếu khách, trong gia đình có khách dù lạ hay quen đều được chủ nhà tiếp đãi chu đáo, nếu một thành viên trong gia đình vi phạm luật tục, người chủ gia đình phải đứng ra xin lỗi bà con, xóm làng. Nghĩa vụ của người chủ gia đình trước cộng đồng khá lớn. Ông thay mặt gia đình thực thi những công việc mà cộng đồng giao phó. Người chủ gia đình còn là người ăn nói giỏi, lắm lý lẽ. Vì vậy người đàn ông chủ gia đình, chủ ”đung” ở người Pako có một vị trí rất cao trong đời sống cộng đồng. Thân phận người phụ nữ Pako hầu như không có quyền hành gì lớn trong gia đình và trong xã hội. Họ phụ thuộc vào người đàn ông, khi còn nhỏ người phụ nữ chịu sự quản lý của gia đình, của bố mẹ hay anh cả. Mặc dù là vợ, là con trong gia đình nhưng họ không được tham dự vào chia tài sản. Trường hợp một gia đình người Pako nào đó sinh toàn con gái không có con trai nối dõi, khi bố mẹ qua đời tài sản của gia đình sẽ chuyển cho người cháu trai gần cai quản. Người phụ nữ lớn lên đi lấy chồng, phụ thuộc vào chồng, vào gia đình người chồng. Khi đã về nhà chồng người phụ nữ trở thành ma nhà chồng. Nguyên nhân làm cho thân phận người phụ nữ có phần thấp kém có thể một phần do đàn ông chịu nhiều thiệt thòi của hủ tục, phong tục tập quán quá nặng nề trong việc cưới hỏi. Việc thách cưới tiêu tốn nhiều của cải, đã biến người phụ nữ thành món hàng mua bán, trao đổi. Dưới con mắt của đồng bào Pako người con gái chỉ có giá trị khi đi lấy chồng, khi được bồi trả tiền bạc, của cải trong các lễ cưới hỏi. Rõ ràng tính chất mua bán trong hôn nhân đã làm cho người phụ nữ ít hoàn toàn phụ thuộc vào người đàn ông. Bù lại, truyền thống quan hệ cộng đồng dòng họ bền chặt, đạo nghĩa vợ chồng con cái, nếp sống yên vui, hạnh phúc của các dân tộc dường như đã làm dịu bớt cay nghịêt của số phận người phụ nữ. Nhưng hơn hết là những đóng góp tích cực của người phụ nữ Pako trong sản xuất kinh tế nương rẫy. Cùng với chồng, người phụ nữ là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất làm ra lúa gạo nuôi sống gia đình. Nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ ngăn nắp, nồi cơm, canh cá có ngon... đều do bàn tay người phụ nữ làm nên. Như đã trình bày ở trên, của cải trong gia đình do người đàn ông nắm giữ nhưng người đàn bà phân phối lương thực, thực phẩm cho các thành viên và cho các gia đình nhỏ trong gia đình lớn.

Đối với người Pako ”Kan Xro” (mẹ Lúa) là một nhân vật khá đặc biệt. ”Kan Xro” vừa là người đàn bà có thực trong cuộc sống vừa là nhân vật huyền bí trong tín ngưỡng của đồng bào. Chỉ có người mẹ giàu kinh nghiệm trong sản xuất mới đảm trách được vai trò mẹ Lúa ”Kan Xro”. Lúc đó mẹ Lúa ”Kan Xro” trở nên linh thiêng được mọi người kính trọng, tôn thờ... Trong quan niệm đồng bào Pako mẹ Lúa ”Kan Xro” là đại diện lực lượng siêu nhiên. Chính vì điều đó nên mỗi khi đồng bào Pako tiến hành gieo, trỉa hay thu hoạch mùa màng nhất thiết phải được sự đồng ý của ”Kan Xro”. Bao giờ cũng thế, trước và sau khi thu hoạch đồng bào thường tổ chức cúng cơm mới, cúng mẹ Lúa. Lễ cúng ”Kan Xro” khá đơn giản, chỉ gồm cơm gà, nắm xôi. Trong lễ cúng đó, đồng bào xin phép ”Kan Xro” cho phép thu hoạch lúa trên nương rẫy. Khi đã được mẹ lúa ”Kan Xro” chấp thuận rồi, các hộ gia đình mới được bắt đầu thu hoạch. Tuy nhiên trước khi thu hoạch người đàn bà đóng vai trò của mẹ Lúa ”Kan Xro” sẽ tuốt ít bông lúa trên nương rẫy mang về kho chứa lương thực. Điều đó có nghĩa hồn lúa đã được mẹ Lúa ”Kan Xro” cất giữ cẩn thận, chu đáo vào kho thóc. Kho thóc là cái chòi nhỏ được xây dựng ở xa nhà, thường thì người ta làm ngay ở rẫy. Chỉ có phụ nữ mới có quyền đi vào kho thóc, mang thóc về xay giã hay cho bà con xóm giềng mượn. Mỗi khi mẹ Lúa, tức người đàn bà hóa thân thành nửa người nửa thần linh này đi vắng, nếu không được ủy quyền không ai được vào kho thóc kể cả chồng... Nói như vậy để thấy, ”Kan Xro” vừa phản ảnh tín ngưỡng nông nghiệp, vừa nói lên vai trò người phụ nữ Pako trong sản xuất và đời sống. Đây là nét độc đáo trong nền kinh tế nương rẫy, một nền kinh tế mà ở đó không thể phủ nhận vai trò người đàn bà trong quá trình sản xuất và tổ chức đời sống ngày thường. Trong đời sống hàng ngày, người phụ nữ Pako không dự quyền vào công việc tôn giáo, không tham gia công việc xã hội như làm trưởng làng, trưởng họ... Nhưng không vì thế mà họ mất đi vị thế của mình trong sản xuất, trong gia đình. Họ là người trực tiếp làm ra hạt lúa, củ khoai, là người trực tiếp nuôi dạy con cái, là người làm nên sự giàu có, ấm no, hạnh phúc cho mọi gia đình. Về danh nghĩa người chồng là người chủ sở hữu, người vợ phụ thuộc vào người chồng... Nhưng trên thực tế người chồng và người vợ là những người lao động chính làm ra của cải vật chất. Những quy định về bà mẹ Lúa ”Kan Xro” trong luật tục của đồng bào  Pako và vai trò người phụ nữ trong đời sống gia đình đã phần nào làm cố kết các cặp vợ chồng lại với nhau, ít để lại trường hợp li dị, bỏ nhau... làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.

Đối với người Pako con trai là người giữ nhà ”giữ cây cột cái”, là người phát triển dòng họ, tông đường... nhưng nhà người con gái mới thật sự là người đưa lại nhiều của cải cho gia đình. Khi còn nhỏ ở nhà gái, người con gái chăm chỉ làm việc, cùng mẹ chăm lo việc gia đình. Khi đến tuổi trưởng thành đi lấy chồng, người con gái mang về cho bố mẹ nhiều của cải qua việc thách cưới. Thực tế đó cũng đã phần nào tác động đến tâm lý đồng bào, làm nên việc bình đẳng trong việc đối xử giữa người con trai và người con gái... Đồng bào Pako quan niệm sinh con đẻ cái là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong đời sống hôn nhân, của đời sống vợ chồng. Đối với đồng bào con đàn cháu đống là niềm tự hào, là hạnh phúc của đời người. Những cặp vợ chồng sống chung với nhau không có con cái là niềm tủi hổ. Dư luận xã hội chỉ coi trọng những người đông con, chính vì vậy đồng bào Pako rất thích nhận những đứa trẻ khác về làm con nuôi, dù gia đình họ đã có nhiều con đẻ. Việc nhận con nuôi ngày càng đặc biệt quan trọng đối với những cặp vợ chồng vô sinh. Khi nhận những đứa trẻ khác về làm con nuôi, đồng bào tổ chức lễ ăn mừng nhỏ, nhằm thông báo với tổ tiên, dòng họ, làng bản. Kể từ sau buổi lễ ”nhập ma”, đứa con nuôi trở thành thành viên trong gia đình dòng họ bố nuôi. Trong gia đình, không có sự phân biệt giữa con nuôi và con đẻ. Con nuôi và con đẻ đều sống hòa thuận, nhường nhịn giúp đỡ lẫn nhau.

Trước đây tục lệ đồng bào quy định người phụ nữ khi sinh nở không được sinh con ở nhà. Đồng bào cho rằng nếu phụ nữ sinh ở trong nhà sẽ ô uế, gia đình sẽ gặp phải những rủi ro trong làm ăn và cuộc sống. Vì thế gia đình nào lỡ có người sinh ở trong nhà thì phải tổ chức lễ cúng bái khá tốn kém để tạ tội với Yang và với bà con dân bản. Tuy đã cúng rồi nhưng mỗi khi trong làng xảy ra dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa gia đình đó phải chịu trách nhiệm. Chính vì những lý do đó cho nên khi người vợ sắp sinh, người chồng phải chuẩn bị trước cho vợ mình một cái chòi trong rừng cách xa bản làng (ngày nay đa phần người ta che tạm một phòng nhỏ dưới sàn gần sát chân cầu làm nơi sinh nở cho người phụ nữ). Đến gần ngày sinh, người vợ phải ở trong cái chòi dựng sơ sài đó và tự lo liệu hết mọi công việc trong thời gian sinh nở. Sinh xong người vợ mang đứa trẻ sơ sinh xuống tắm ở con suối kề bên và tìm cách báo cho người chồng biết. Sau khi sinh con được ba ngày người vợ bồng con trở về nhà và phải làm công việc như mọi người bình thường khác. Đứa trẻ được người mẹ địu lên nương, lên rẫy, cùng mẹ gánh chịu cái lạnh buốt của sương mai, cái nắng gắt của trưa hè. Vì những tập tục lạc hậu đó mà số phận của nhiều đứa trẻ rất là mong manh, nó gần như là một sự sàng lọc tự nhiên vậy. Tuy vậy trong cuộc sống, trong mối quan hệ gia đình người Pako đã hình thành nên những cách giáo dục con cái của riêng mình. Ngay từ khi mới cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã được ông bố tặng cho những vật tượng trưng cho giới tính như sinh con trai thì tặng cái nỏ; sinh con gái tặng một cái gùi. Những ngày còn nằm tên lưng mẹ, theo bố lên rẫy, những đứa trẻ đó được người mẹ hát cho nghe những bài hát quê hương, núi rừng, về tình yêu... Khi đứa trẻ biết đi, bà mẹ tận tình bày vẽ cho chúng những hiểu biết đầu tiên về cây cỏ, muông thú, cách ứng xử... Họ thường làm cho con cái những đồ chơi, tập cho con cái quen dần những công việc theo giới tính và tuổi tác. Ví như, đối với con trai họ làm cho cái nỏ, cái lao... để chúng quen dần với công việc săn bắn. Đối với con gái họ sớm trang bị cho những cái gùi nhỏ và tập cho chúng quen dần với công việc hái rau, bắt cá... Theo cùng thời gian trẻ nhỏ đã tiếp thu và tích lũy những kiến thức cơ bản về cuộc sống, về thế giới xung quanh cùng với sự phát triển về thể lực và trí lực, các em dần dần thành thạo công việc gia đình. Đến tuổi trưởng thành chúng hòa vào nhịp điệu lao động của gia đình và cộng đồng một cách dễ dàng và thuận lợi. Như vậy ở người Pako gia đình là trường học đầu tiên và tốt nhất về lao động cho các trẻ em. Gia đình đã giáo dục cho các em về ý thức lao động, về cách thức tiến hành công việc, về những kinh nghiệm sản xuất quý báu mà cha ông họ đã tích lũy được trong quá trình sản xuất nương rẫy... Đồng bào Pako có khả năng cao trong việc nhận biết các loại gỗ qua lá cây nhìn từ xa, nhận biết hướng đi của thú qua dấu chân, phân biệt các loại cây, rễ, củ... trong việc dùng thuốc. Qua quá trình sản xuất đồng bào đã hình thành cho mình một lịch sản xuất theo con trăng khá độc đáo và phù hợp với cảnh quan và môi trường xung quanh. Gia đình có tác động rất lớn đến trẻ nhỏ, trang bị cho trẻ nhỏ những kiến thức cơ bản về lao động, về cuộc sống, giúp cho trẻ nhỏ hình thành nên cách sống của mình. Trước đây khi trường học, sách báo, cũng như các phương tiện thông tin khác chưa đến được đồng bào dân tộc Pako thì vai trò gia đình càng đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục con cái. Lúc bấy giờ gia đình, làng bản gắn bó với nhau. Những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc sẽ ăn sâu vào tiềm thức của trẻ nhỏ thông qua gia đình. Trẻ em dân tộc Pako quen dần với cách chữa bệnh thông thường, sử dụng được đàn sáo, hiểu thêm về dòng họ dân tộc mình nhờ sự chỉ bảo, dạy dỗ trực tiếp của ông bà, cha mẹ. Những câu chuyện cổ, những bài hát ru, những làn điệu ”cha chấp”... là những gì hết sức bổ ích và quý giá cho con người. Trong các gia đình mọi người học hỏi, truyền thụ cho nhau những hiểu biết, những kinh nghiệm về cuộc đời, về cách xử thế. Đền đáp lại công ơn trời biển của cha mẹ, con cái họ luôn thể hiện là người sống có đạo hiếu, có tình cảm. Con cái luôn luôn biết vâng lời và kính trọng cha mẹ, thường ít cãi lại cha mẹ hoặc làm những điều sai trái ảnh hưởng đến gia đình, dòng họ. Con cái cùng cha mẹ làm ăn vất vả, chịu thương chịu khó, đói no cùng chịu, khi cha mẹ già con cái có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Đối với đồng bào Pako thông thường cha mẹ không còn khả năng lên nương rẫy nữa sẽ ở với gia đình con cả. Nhưng không phải thế mà các thành viên khác lơ là trách nhiệm đối với cha mẹ mình. Tuy không còn ăn một bếp nhưng các cặp vợ chồng con cái của những người em phải thường đến thăm hỏi, chăm sóc cha mẹ, phải đóng góp vật chất cho người trưởng nam. Vào các bữa ăn hàng ngày hay khi có của ngon vật lạ đều mang đến cho cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời việc tổ chức tang gia là trách nhiệm, nghĩa vụ của tất cả các thành viên trong gia đình. Mọi thành viên phải đóng góp trâu, bò, lợn, gà... cho tang ma. Cùng với cộng đồng làng bản, họ phải có trách nhiệm tổ chức đưa linh cửu cha mẹ không trọng thể thì cũng phải chu đáo.

                                                                                     Y.T

 

 

Y THI
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 254

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground